Phát triển, nâng cao chất lượng rừng

Một phần của tài liệu De-an-TCC-BC-chinh1 (Trang 60)

3. Định hướng tái cơ cấu

3.2.1. Phát triển, nâng cao chất lượng rừng

a) Rừng tự nhiên

N ng cao năng suất rừng tự nhiên là RSX lên 25% so với hiện nay, đạt tăng trưởng bình quân từ 4-5 m 3

/ha; Nâng cao chất lượng rừng tự nhi n để đạt tỷ lệ lợi dụng bằng 75% trữ lượng gỗ c y đứng. Nuôi dưỡng rừng phục hồi 0,7 triệu ha; khoanh nuôi xúc tiến tái sinh 0,75 triệu ha; làm giàu rừng 1,1 triệu ha; cải tạo rừng nghèo kiệt 0,35 triệu ha.

Đến năm 2015, đưa vào khai thác khoảng 50.000 ha; đến năm 2020 khoảng 117 ngàn ha và đến năm 2030 khoảng 215 ngàn ha với lượng khai thác bình quân 30 m3/ha.

Tập trung bảo vệ có hiệu quả các khu rừng bằng các phương thức đồng quản lý, lâm nghiệp cộng đồng và các hình thức có hiệu quả khác nhằm tạo điều kiện cho các cộng đồng d n cư địa phương được hưởng lợi nhiều hơn và có trách nhiệm cao hơn đối với rừng và sự tham gia tích cực của chính quyền địa phương trong BV&PTR.

b) Rừng trồng

- N ng cao năng suất và chất lượng rừng trồng để đạt năng suất bình quân 15 m3/ha/năm; ổn định diện tích rừng trồng sản xuất 3,4 triệu ha, trong đó mỗi năm khai thác và trồng lại 0,25 triệu ha với trữ lượng gỗ lớn 150 m3

/ha chu kỳ ình qu n 12 năm và gỗ nhỏ 70 m3

/ha chu kỳ bình quân 7 năm. N ng cao chất lượng rừng để đạt sản lượng gỗ bằng 80% trữ lượng, trong đó 40% cho gỗ lớn và 60% cho gỗ nhỏ.

- Đưa tỉ lệ giống cây trồng lâm nghiệp mới được công nhận vào sản suất từ 30% năm 2012 lên 60 - 70% vào năm 2020; đảm bảo cung cấp đủ giống có chất lượng từng ước được cải thiện cho kế hoạch trồng rừng hàng năm và c y ph n tán trong giai đoạn 2012 -2020; góp phần đưa năng suất rừng trồng tăng 10% vào năm 2015 và tăng 20% vào năm 2020 so với năm 2011.

- Hình thành mạng lưới sản xuất và cung ứng giống theo hướng xã hội hoá với nhiều thành phần kinh tế tham gia dưới sự quản lý, giám sát chặt chẽ về chất lượng giống của các cơ quan quản lý nhà nước.

Một phần của tài liệu De-an-TCC-BC-chinh1 (Trang 60)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(119 trang)