Mô sẹo cây sâm Lai Châu

Một phần của tài liệu (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu quy trình nhân giống sâm lai châu (panax vietnamensis var fuscidiscus) bằng công nghệ nuôi cây mô (Trang 56 - 58)

Bảng 4.5. Ảnh hưởng của nồng độ 2,4-D và NAA trong môi trường MS đến tỷ lệ tạo thành mô sẹo

Công

thức Môi trường nuôi cấy

TB tỷ lệ không tạo thành mô sẹo (%) TB tỷ lệ tạo thành mô sẹo (%)

Đặc điểm mô sẹo

ĐC MS 100 0 Không có CT1 MS + 0,5mg/L 2,4-D 13,3 86,7 Rắn chắc, màu vàng xanh CT2 MS + 1,0 mg/L 2,4-D 0 100 CT3 MS + 1,0 mg/L 2,4-D + 1 mg/L NAA 0 100 Xốp, màu phớt tím LSD0.05 - 1,1 - CV% - 0,8 -

Sau 5 tuần nuôi cấy thu được kết quả bảng 4.5 ta thấy, tỷ lệ tạo thành mô sẹo ở các công thức thí nghiệm đạt từ 86,7%-100%. Môi trường CT2 và CT3 đều cho tỷ lệ tạo thành mô sẹo 100%, cao hơn môi trường CT1 13,3% giải thích cho điều này chất điều tiết sinh trưởng 2,4-D và NAA khi được thêm vào môi trường nuôi cấy đã tạo ra môi trường tối ưu nhất để mẫu hình thành được mô sẹo, sai số có ý nghĩa thống kê ở mức độ tin cậy 95%. Như vậy, môi trường cho tỷ lệ mô sẹo cao nhất ở cây sâm Lai Châu là MS + 1,0 mg/L 2,4-D hoặc MS + 1,0 mg/L 2,4-D + 1 mg/L NAA.

4.1.3. Kết quả nghiên cứu cảm ứng và tạo phôi vô tính

4.1.3.1.Thí nghiệm 6: Ảnh hưởng của nồng độ 2,4-D và 70 g/L sucrose trong môi trường MS đến khả năng sinh phôi của mô sẹo

Để cảm ứng tạo phôi vô tính, trước tiên cần tạo mô sẹo có khả năng sinh phôi. Trong nghiên cứu này, đề tài tiến hành nuôi cấy mô sẹo ban đầu trên môi trường MS có hàm lượng đường cao (70 g/L) và giảm nồng độ 2,4-D theo các công thức khác nhau. Kết quả sau 7-10 ngày nuôi cấy ở trong tối và 4 tuần ở điều kiện chiếu sáng 12-14 giờ/ngày thu được mô sẹo có khả năng sinh phôi. Mô sẹo có khả năng sinh phôi là khối mô gồm nhiều tế bào nhỏ, có cùng đường kính (kích thước), có hoạt động biến dưỡng rất mạnh mẽ và cường độ tổng hợp axit ribonucleic cao .(Hình 4.5)

Một phần của tài liệu (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu quy trình nhân giống sâm lai châu (panax vietnamensis var fuscidiscus) bằng công nghệ nuôi cây mô (Trang 56 - 58)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(117 trang)