NỘI DUNG CHÍNH
Tổng quan về thị trương tiền tệ
1.1 Khái niệm thị trường tiền tệ
Thị trường tiền tệ là nơi giao dịch các giấy tờ có giá ngắn hạn dưới một năm, phục vụ nhu cầu vốn ngắn hạn cho nền kinh tế Hoạt động chủ yếu diễn ra qua ngân hàng và các tổ chức tín dụng, với ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong việc huy động và cung cấp vốn ngắn hạn Tại Việt Nam, thị trường tiền tệ còn mới mẻ và số lượng công cụ giao dịch hạn chế, do đó pháp luật cho phép giao dịch các giấy tờ có giá dài hạn Theo Điều 9 của luật sửa đổi một số điều của luật NHNN (2003), thị trường tiền tệ được định nghĩa là thị trường vốn ngắn hạn, nơi mua bán các giấy tờ có giá như tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá trị khác.
1.2 Chức năng của thị trường tiền tệ
Theo kinh tế học hiện đại, tiền đóng vai trò quan trọng với ba chức năng chính: đầu tiên, nó là thước đo giá trị và đơn vị tính toán; thứ hai, tiền là trung gian trao đổi, giúp thuận tiện trong giao dịch; và cuối cùng, nó được sử dụng để tích trữ của cải, bảo toàn giá trị theo thời gian.
Tiền đóng vai trò quan trọng trong việc đo lường giá trị và làm đơn vị tính toán cho tất cả các hàng hóa Nhờ vào tiền, chúng ta có thể so sánh giá trị của những hàng hóa khác nhau và tính toán tổng giá trị hoặc tỷ lệ giá trị giữa chúng Đơn vị tiền tệ là công cụ thiết yếu trong kế toán tài chính, và nếu thiếu nó, hệ thống kế toán hiện tại sẽ không thể hoạt động hiệu quả.
Chức năng trung gian thay đổi của tiền cho phép hàng hóa được trao đổi trước tiên lấy tiền, sau đó tiền được sử dụng để mua hàng hóa khác Điều này xảy ra vì tiền được chấp nhận rộng rãi như một giá trị trao đổi, thể hiện tính thanh khoản tuyệt đối Với tiền trong tay, người sử dụng có khả năng dễ dàng chuyển đổi sang bất kỳ hàng hóa nào và thanh toán các khoản nợ ngay lập tức.
Tiền có chức năng tích trữ của cải nhờ vào giá trị chung được chấp nhận, cho phép người dùng mua sắm hàng hóa và dịch vụ Việc sử dụng tiền để tích trữ mang lại lợi thế so với việc tích trữ các loại tài sản hay hàng hóa khác, giúp tối ưu hóa giá trị tài sản trong thời gian dài.
Trang 4 bằng tiền còn có một ưu thế so với tích trữ các tài sản khác là tiền có tính thanh khoản tuyệt đối Với tiền, các nhu cầu về bất kỳ hàng hóa nào khác có thể dễ dàng được đáp ứng nhanh chóng.
Tiền, đặc biệt là vàng và các đồng tiền có thể chuyển đổi tự do, không chỉ có chức năng trong nước mà còn đóng vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế Theo C Mac, chức năng tiền tệ quốc tế cho phép tiền được sử dụng như một phương tiện thanh toán, thể hiện dòng giá trị lưu chuyển giữa các quốc gia trên toàn cầu.
1.3 Sự ra đời và phát triển của tiền tệ
1.3.1: Sự ra đời của tiền tệ:
Kinh tế chính trị học xác định rằng nguồn gốc của tiền tệ xuất phát từ sự hình thành và phát triển của các quan hệ trao đổi hàng hóa Do đó, để hiểu rõ sự ra đời của tiền tệ, cần phân tích quá trình hình thành và phát triển của các quan hệ trao đổi này.
C.Mác đã chỉ ra rằng để hiểu nguồn gốc của tiền tệ, cần phân tích các biểu hiện của giá trị trong quan hệ giá trị của hàng hóa Quá trình này bắt đầu từ hình thái giản đơn và ít rõ ràng, cho đến khi phát triển thành hình thái tiền tệ mà mọi người đều dễ dàng nhận thấy.
- Hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên:
Hình thái này xuất hiện khi cộng đồng nguyên thủy bắt đầu tan rã, dẫn đến sự hình thành các quan hệ trao đổi trực tiếp giữa các công xã Các giao dịch này diễn ra không thường xuyên, mang tính ngẫu nhiên và chủ yếu là trao đổi hàng hóa này lấy hàng hóa khác.
Phương thức trao đổi được thể hiện bằng phương trình:
X hàng hóa A = y hàng hóa BHay 5 đấu thóc = 1 tấm vải
Hàng hóa A trao đổi được với hàng hóa B là do hao phí lao động để tạo ra
X hàng hóa A tương đương với hao phí lao động để tạo ra Y hàng hóa B.
Trong quá trình trao đổi, hàng hóa A đóng vai trò chủ động và thể hiện giá trị thông qua hàng hóa B, trong khi hàng hóa B là vật bị động, thực hiện chức năng của hình thái ngang giá.
Cuộc phân công lao động xã hội lần thứ nhất diễn ra khi chăn nuôi được tách biệt khỏi trồng trọt, dẫn đến việc tăng năng suất lao động Sự phân công này không chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn tạo ra sản phẩm dư thừa, mở ra cơ hội trao đổi hàng hóa.
Cộng đồng nguyên thủy tan rã, hình thành gia đình, chế độ tư hữu, đòi hỏi phải tiêu dùng sản phẩm của nhau.
Trong bối cảnh hiện tại, nhiều hàng hóa đã tham gia vào quá trình trao đổi, thể hiện dưới hình thức mở rộng Điều này có thể được mô phỏng qua phương trình trao đổi như sau: 1 đấu thóc tương đương với 1 tấm vải, 2 cái cốc hoặc 1 con cừu.
Trong hình thái mở rộng của trao đổi hàng hóa, nhiều sản phẩm tham gia vào quá trình này nhưng vẫn diễn ra dưới hình thức trao đổi trực tiếp Mỗi hàng hóa được xem như một vật ngang giá riêng biệt đối với hàng hóa khác, do đó, việc đạt được mục đích trao đổi giữa các bên gặp nhiều khó khăn, vì chưa tồn tại một giá trị ngang giá chung.
Cuộc phân công lao động xã hội lần thứ hai đã diễn ra khi thủ công nghiệp tách biệt khỏi nông nghiệp, dẫn đến sự gia tăng năng suất lao động Điều này đã làm cho hoạt động trao đổi trở thành một hiện tượng kinh tế phổ biến.
Phân loại thị trường tiền tệ
2.1 Phân loại theo các tổ chức
- Thị trường tiền tệ theo cổ điển: Là thị trường vay vốn ngắn hạn giữa các TCTD đặt dưới sự chú ý của NHTW.
- Thị trường tiền tệ mới: đây là thị trường các tái phiếu ngắn hạn, cơ cấu của nó gồm 2 cấp:
+ Thị trường tiền sơ cấp: Là thị trường tiền tệ chuyên phát hành các loại trái phiếu ngắn hạn lần đầu.
+ Thị trường tiền tệ thứ cấp: Là thị trường tiền tệ tổ chức mua bán lại các trái phiếu đã phát hành ở thị trường sơ cấp.
+ Thị trường mở (openmaret operation).
2.2 Phân loại theo đối tượng tham gia
Thị trường tín dụng ngắn hạn giữa các Ngân hàng Thương mại (NHTM) là một phần quan trọng trong hệ thống tài chính, được điều hành nhằm điều tiết vốn trong hệ thống NHTM Thị trường này không chỉ giúp các NHTM duy trì thanh khoản mà còn hỗ trợ vai trò của NHTM như là người cho vay cuối cùng, đảm bảo sự ổn định và hiệu quả trong hoạt động tài chính.
Thị trường công nợ ngắn hạn, bao gồm tín phiếu kho bạc, thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi và các khế ước cho vay, phản ánh sự phát triển của thị trường tiền tệ Thị trường này bao gồm cả hoạt động phát hành và lưu thông, đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý tài chính và cung cấp thanh khoản cho nền kinh tế.
Thị trường hối đoái là nơi giao dịch ngoại tệ và các phương tiện thanh toán có giá trị ngoại tệ, đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc thị trường tiền tệ Với tính quốc tế cao, thị trường ngoại hối đáp ứng nhu cầu thương mại và đầu tư ngắn hạn toàn cầu, đồng thời tạo điều kiện cho ngân hàng thương mại can thiệp nhằm duy trì sức mua đối ngoại của đồng tiền quốc gia.
Các khối tiền tệ
3.1 Khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông (Mn)
Khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông là khối lượng tiền do tổng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân trong mọi thời kì quyết định.
Khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông tỷ lệ thuận với tổng giá trị hàng hóa, trong khi lại tỷ lệ nghịch với tốc độ lưu thông trung bình của tiền tệ.
Với, P: Mức giá cả hàng hóa
Q: Tổng khối lượng hàng hóa đưa vào lưu thông.
V: Tốc độ lưu thông bình quân của tiền tệ.
3.2 Khối lượng tiền trong lưu thông (Ms)
Khối lượng tiền trong lưu thông đề cập đến số lượng tiền thực tế có trong nền kinh tế, được phát hành bởi con người và đưa vào sử dụng.
Khối lượng tiền trong lưu thông đại diện cho tất cả các phương tiện được chấp nhận để trao đổi hàng hóa, dịch vụ và thanh toán trong một thị trường cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định.
Khối lượng tiền trong lưu thông được ký hiệu là Ms Các bộ phận của khối lượng tiền trong lưu thông bao gồm:
- M1: Được gọi là khối tiền tệ giao dịch, gồm những phương tiện có “ tính lỏng” cao nhất, bao gồm:
+ Tiền mặt (tiền vàng,GBNH, tiền đúc lẻ)
+ Tiền gửi không kỳ hạn
- M2: Được gọi là khối tiền tệ giao dịch mở rộng, bao gồm:
+ Tiền gửi có kỳ hạn
- M3: Khối tiền tệ tài sản, có tính lỏng thấp nhất, bao gồm: + M2
+ Tiền trên các chứng từ có giá (Thương phiếu, tín phiếu,…)
- Ms: Khối lượng tiền trong lưu thông, bao gồm:
+ Các phương tiện thanh toán khác (giấy chấp nhận Ngân hàng,…)
So sánh giữa Ms và Mn có thể xảy ra một trong ba trường hợp:
Tỷ số (1): Ms Mn =1 Tiền và hàng cân đối
Tỷ số (2): Ms Mn < 1 Hiện tượng thiểu phát
Tỷ số (3): Ms Mn >1 Hiện tượng lạm phát
Các tỷ số đã được xác thực thông qua "Tín hiệu thị trường", bao gồm chỉ số giá hàng tiêu dùng, tỷ giá hối đoái và giá vàng, nhằm giúp nhà nước điều chỉnh Ms để tiến gần hơn đến Mn.
Cung và cầu tiền tệ
Tổng nhu cầu tiền tệ trong nền kinh tế được xác định bởi nhu cầu của các pháp nhân và thể nhân Đây là lượng tiền được giữ lại nhằm phục vụ cho các mục đích khác nhau.
Cầu tiền là tổng số tiền mà các cá nhân và tổ chức cần để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình Số lượng này được xác định dựa trên nhu cầu lưu thông tiền tệ (Mn) trong nền kinh tế.
- Các loại cầu tiền tệ:
+ Nhu cầu tiền cho giao dịch:
Hoạt động giao dịch của các tác nhân, bao gồm pháp nhân và thể nhân, diễn ra liên tục và cần thiết phải sử dụng tiền trong mọi giao dịch Các khoản chi như trả lương, mua nguyên vật liệu, thanh toán nợ và mua sắm vật phẩm tiêu dùng tạo thành tổng cầu tiền cho các hoạt động giao dịch này.
+ Nhu cầu tiền cho tích lũy
Ngoài các chi phí giao dịch hàng ngày, các tác nhân cần tích lũy một khoản tiền nhất định cho những nhu cầu đã lên kế hoạch trước, bao gồm mua sắm tài sản, đầu tư và chuẩn bị cho kỳ du lịch sắp tới.
“độ sử dụng”, chúng ở trong quỹ của các tác nhân dưới dạng tiền nhàn rỗi.
Khi lãi suất tiền gửi thấp, nhu cầu tích lũy tiền cho các mục đích khác nhau sẽ tăng cao Sự tích lũy này phụ thuộc vào mức thu nhập và mục đích sử dụng của từng cá nhân Nếu thời gian sử dụng tiền gấp rút, yêu cầu tích lũy sẽ trở nên cấp thiết hơn Đồng thời, giá trị khoản chi lớn cũng đồng nghĩa với việc cần tích lũy nhiều hơn.
+ Nhu cầu tiền cho dự phòng: Dự phòng là nhu cầu bắt buộc của các tác nhân Nhu cầu này được chia làm 3 loại:
Dự phòng một số tiền để chờ cơ hội mua mà không dự báo trước được.
Dự phòng chi thường xuyên Đây là những khoản chi thường xuyên cho nhu cầu cá nhân, buộc mọi người phải dự phòng một khoản tiền tối thiếu.
Dự phòng chi cho rủi ro.
Nhu cầu tiền để cất trữ đại diện cho số lượng tiền nhàn rỗi lâu dài mà chưa có mục đích sử dụng cụ thể Các cá nhân thường gửi số tiền thừa của mình vào cất trữ, và hình thức cất trữ phổ biến là vàng Tổng hợp tất cả các nhu cầu tiền này sẽ tạo thành tổng cầu tiền của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định.
- Các nhân tố ảnh hưởng
+ Giá trị các khoản giao dịch.
+ Lãi suất tín dụng; sự không đồng bộ về thời gian giữa thu và chi.
+ Tập quán chi tiêu của từng dân tộc, địa phương.
4.2 Cung tiền cho lưu thông
Tiền phát hành và lưu thông bao gồm giấy bạc Ngân hàng, tiền kim loại và tiền chuyển khoản, được cung cấp bởi nhiều tác nhân và thể nhân trong quá trình cung ứng.
- Khái niệm: Cung tiền cho lưu thông là chỉ việc phát hành vào lưu thông khối lượng tiền tệ nhất định nhằm sử dụng tiền.
+ Ngân hàng Trung ương cung tiền
Ngân hành Trung ương phát hành tiền qua các kênh:
(1) Tái chiết khấu thương phiếu và các chứng từ có giá của Ngân hàng Thương mại và các Tổ chức tín dụng.
(2) Phát hành tiền qua thị trường vàng và ngoại tệ.
(3) Ngân hàng Trung ương phát hành tiền cho Ngân sách nhà nước vay.
(4) Ngân hàng Trung ương cung ứng tiền qua thị trường mở.
Các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp tiền chuyển khoản, tạo ra các phương tiện thanh toán cho nền kinh tế Để thực hiện điều này, cần có những điều kiện nhất định, bao gồm việc các ngân hàng hoạt động trong cùng một hệ thống ngân hàng hai cấp và có sự liên kết với nhau Bên cạnh đó, việc thực hiện nghiệp vụ tín dụng và thanh toán không dùng tiền mặt giữa các ngân hàng và khách hàng cũng là yếu tố cần thiết để đảm bảo hiệu quả trong cung cấp dịch vụ tài chính.
Quá trình cung tiền ĐVT: 1trđ
Các NHTM Tiền gửi (CK) tạo ra Dữ trự bắt buộc (*) Cho vay
( Giả định Ngân hàng Trung ương quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc là
(1) Hệ số mở rộng tiền gửi (m) = 1 = 1
Tỷ lệ dự trữ b ắt bu ộc 10%
Số tiền gửi Hệ số mở
(2) Số tiền gửi được tạo ra = x = 100 x 10= 1000 ban đầu rộng tiền gửi
Các tác nhân tham gia quá trình cung ứng tiền cho lưu thông:
+ Các Ngân hàng Thương mai và Tổ chức tín dụng.
Ngân hàng Trung ương đóng vai trò quan trọng nhất trong quá trình cung ứng tiền tệ, với chức năng độc quyền phát hành tiền mặt và quản lý chặt chẽ lượng tiền chuyển khoản Các tác nhân khác cũng có vai trò riêng, nhưng không thể so sánh với sự ảnh hưởng của Ngân hàng Trung ương trong việc tham gia cung ứng tiền chuyển khoản.
Các chế độ lưu thông tiền tệ
5.1 Chế độ lưu thông tiền tệ
Chế độ lưu thông tiền tệ là cách thức tổ chức và quản lý lưu thông tiền tệ của một quốc gia hoặc tổ chức quốc tế trong một khoảng không gian và thời gian nhất định Các yếu tố cấu thành của chế độ này được kết hợp chặt chẽ thông qua các đạo luật và văn bản quy định.
- Các yếu tố cơ bản của chế độ lưu thông tiền tệ:
Bản vị tiền tệ là yếu tố cơ bản trong chế độ tiền tệ, đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giá trị của đồng tiền luật định Có hai loại bản vị tiền tệ chính.
Kim bản vị - Trong chế độ nô lệ, phong kiến và CNTB
Bản vị hàng hóa – Trong chế độ lưu thông DHGT
Đơn vị tiền tệ là tiêu chuẩn giá cả của đồng tiền do pháp luật quy định, từ đó Nhà nước có thể phát hành và lưu thông các tiện tiền theo ước số và bội số.
+ Cơ chế phát hành, quản lý và điều tiết lưu thông tiền tệ
Trong mọi hệ thống tiền tệ, Nhà nước hoặc Ngân hàng quốc tế nắm giữ quyền phát hành tiền độc quyền và có trách nhiệm quản lý cũng như quyết định các chính sách liên quan đến điều tiết và lưu thông tiền tệ Tuy nhiên, mỗi loại tiền sẽ có những cơ chế quản lý riêng biệt.
Tiền đúc đủ giá (tiền vàng và tiền bạc): Nhà nước giữ độc quyền đúc tiền và cho phép dân chúng đưa tiền vào lưu thông không hạn chế.
Tiền đúc kém giá: Nhà nước giữ độc quyền và kiểm soát chặt chẽ việc phát hành.
Giấy bạc ngân hàng: NHTƯ giữ độc quyền phát hành, dựa trên cơ sở đảm bảo bằng vàng hoặc hàng hóa.
Ngân hàng Trung ương quản lý chặt chẽ mức tiền chuyển khoản thông qua các chỉ tiêu như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu và lãi suất cơ bản Nhà nước cũng thống nhất quản lý việc phát hành giấy tờ thanh toán và thẻ thanh toán cả trong nước và quốc tế.
5.2 Các chế độ lưu thông tiền tệ chủ yếu
5.2.1 Chế độ lưu thông hóa tệ phi kim loại
Hóa tệ phi kim loại là hình thức tiền tệ cổ xưa nhất, tồn tại dưới dạng hàng hóa khác nhau tại các vùng miền khác nhau Đây là những vật có giá trị ngang bằng, được các bộ tộc lựa chọn trong quá trình trao đổi hàng hóa Để trở thành tiền, các loại hàng hóa này thường phải đáp ứng những điều kiện nhất định.
- Hàng hóa đó phải quý, hiếm, gọn nhẹ, dễ bảo quản, dễ chuyên chở, được mọi người ưa chuộng.
- Phải phù hợp với phong tục tập quán của địa phương.
Trong lịch sử, nhiều loại hàng hóa đã được chọn làm tiền tệ ở các vùng khác nhau, bao gồm vòng ốc, vỏ sò, hạt tiêu, da thú, rượu vang và hạt cacao Những mặt hàng này không chỉ mang giá trị trao đổi mà còn phản ánh văn hóa và tập quán của từng khu vực.
Chế độ lưu thông hóa tệ phi kim loại thường tuân theo phong tục tập quán và quy phạm xã hội của từng vùng, khu vực và bộ tộc trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế - xã hội Thời kỳ này chưa có quy phạm pháp luật chặt chẽ về lưu thông tiền tệ như trong chế độ Phong kiến hay Tư bản chủ nghĩa sau này.
5.2.2 Chế độ lưu thông tiền đủ giá
Khi nền kinh tế phát triển, khối lượng hàng hóa lưu thông ngày càng tăng, việc mở rộng thị trường nội địa và quốc tế đòi hỏi các loại tiền tệ được chấp nhận rộng rãi trong giao dịch Để đáp ứng nhu cầu này, nhiều quốc gia đã sử dụng kim loại quý làm bản vị tiền tệ.
- Chế độ bản vị bạc: Là chế độ lưu thông tiền, bạc được sử dụng làm thước đo giá trị và phương tiện lưu thông.
Vào nửa cuối thế kỷ XIX, bạc trở thành phương tiện lưu thông phổ biến tại nhiều quốc gia như Nga, Hà Lan, Ấn Độ và Nhật Bản Tuy nhiên, sự phát hiện và khai thác hàng loạt mỏ bạc ở Mexico vào cuối thế kỷ XIX đã làm giảm giá trị của bạc một cách đáng kể Hệ quả là bạc tràn ngập thị trường Châu Âu và Châu Á, nơi mà các nước phương Đông bắt đầu thay thế tiền đồng bằng bạc Ngược lại, tại Bắc Mỹ và sau đó là Châu Âu, bạc dần trở nên không còn phù hợp cho lưu thông.
Chế độ song bản vị là hệ thống tiền tệ cho phép lưu thông cả bạc và vàng, trong đó cả hai kim loại này được coi là thước đo giá trị và phương tiện thanh toán Trong chế độ này, tiền được đúc từ bạc và vàng có giá trị ngang nhau và có thể được thanh toán không giới hạn theo giá trị thực tế của chúng.
Chế độ tiền tệ này xuất hiện và tồn tại cho đến cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX tại các quốc gia như Pháp, Thụy Sỹ, Bỉ, Đức và Mexico, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa Tuy nhiên, nó cũng dẫn đến những hạn chế như sự hình thành hai hệ thống giá cả (bằng bạc và vàng) và quy luật "tiền xấu đuổi tiền tốt", khiến cho đến giai đoạn cuối chỉ còn lại tiền bạc, không còn đáp ứng đủ nhu cầu cho việc trao đổi.
Chế độ bản vị vàng là hệ thống tiền tệ trong đó vàng được sử dụng làm tiền tệ lưu thông Ra đời lần đầu tiên tại Anh vào năm 1816, chế độ này tồn tại cho đến năm 1914 trước khi sụp đổ Những đặc điểm nổi bật của chế độ bản vị vàng bao gồm việc vàng được đúc thành tiền và đóng vai trò quan trọng trong giao dịch kinh tế.
Nhà nước nắm giữ quyền độc quyền trong việc đúc tiền vàng, cho phép công dân mang vàng thoi đến các sở đúc tiền để chuyển đổi thành đồng tiền theo tiêu chuẩn giá cả quy định Bên cạnh đó, công dân cũng được phép nấu chảy tiền vàng để tạo thành thoi nén nhằm mục đích cất trữ.
Tiền vàng được phép lưu thông và thanh toán không giới hạn, trong khi các loại tiền kim loại kém giá và giấy bạc ngân hàng có thể được đổi tự do lấy tiền vàng theo giá trị danh nghĩa Tiền vàng vẫn được chấp nhận lưu thông và thanh toán ngay cả khi hao mòn trong mức “chênh lệch công”, nhưng nếu hao mòn vượt quá mức này, Nhà nước sẽ hỗ trợ đổi lấy tiền mới.
Các chủthể tham gia thị trường tiền tệ
Trong quá trình phát triển của thị trường tiền tệ, thị trường ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc cân đối và điều hòa vốn giữa các ngân hàng thương mại (NHTM) và tổ chức tín dụng (TCTD), giúp khai thông khả năng thanh toán Thị trường tiền tệ thể hiện mối quan hệ điều tiết vốn giữa các NHTM và TCTD theo chiều ngang, trong khi theo chiều dọc, nó phản ánh mối quan hệ giữa Ngân hàng Nhà nước (NHTW) và NHTM thông qua tái chiết khấu, với lãi suất tái chiết khấu là công cụ quan trọng cho NHTM trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế Hiện nay, quy mô hoạt động của thị trường tiền tệ đã mở rộng, với sự đa dạng hơn về các chủ thể tham gia.
Các chủ thể tham gia trên thị trường tiền tệ bao gồm:
Chủ thể cung ứng nguồn vốn bao gồm Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác Đầu tư vào nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường này có mức độ rủi ro thấp, bởi vì trong khoảng thời gian ngắn, giá cả chứng khoán thường không biến động nhiều.
Các chủ thể có nhu cầu về vốn như Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác thường đầu tư nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường với mức độ rủi ro thấp Điều này là do trong khoảng thời gian ngắn, giá cả chứng khoán thường không biến động mạnh.
Các chủ thể cần vốn như ngân hàng thương mại, các đơn vị kinh tế khác và kho bạc nhà nước có thể dễ dàng thu hút nguồn vốn ngắn hạn với chi phí thấp thông qua thị trường tiền tệ.
- Chủ thể trung gian môi giới, vừa đi vay và vừa cho vay như: NHTM, Công ty chuyên môi giới.
Thực trạng thị trường tiền tệ Việt Nam
Thị trường tiền tệ Việt Nam bao gồm 5 Ngân hàng thương mại Nhà nước, 36 Ngân hàng thương mại cổ phần, 4 Ngân hàng liên doanh, 27 chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, cùng với các quỹ tín dụng và công ty bảo hiểm Tuy nhiên, không phải tất cả các tổ chức này đều tham gia vào thị trường liên ngân hàng, thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc nhà nước hay thị trường mở; chủ yếu chỉ có các Ngân hàng thương mại Nhà nước, Ngân hàng thương mại cổ phần đô thị, ngân hàng liên doanh, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài và một số công ty bảo hiểm tham gia.
Ngân hàng Nhà nước đã chuyển sang cơ chế điều hành lãi suất cơ bản từ tháng 6-2002, phù hợp với thông lệ quốc tế Hàng tháng, Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất cơ bản, đồng thời quy định lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu và lãi suất nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ, nhằm tác động và can thiệp hiệu quả vào thị trường tiền tệ.
Lãi suất thị trường mở, lãi suất thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc nhà nước và giao dịch swap đều có ảnh hưởng đáng kể đến lãi suất thị trường Những yếu tố này tác động trực tiếp đến lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động tài chính và đầu tư trong nền kinh tế.
Công cụ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng đến lãi suất khi Ngân hàng Nhà nước tăng tỷ lệ này, dẫn đến chi phí đầu vào của các tổ chức tín dụng (TCTD) gia tăng Hệ quả là, các TCTD buộc phải điều chỉnh lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay, có thể là giữ nguyên lãi suất huy động nhưng tăng lãi suất cho vay, hoặc đồng thời tăng cả hai.
Công cụ điều hành tỷ giá cũng có tác động vào lãi suất của các TCTD trên thị trường tiền tệ, nhưng không rõ nét.
Sự phát triển của các tổ chức trung gian tài chính, đặc biệt là các tổ chức tín dụng, cùng với cơ chế điều hành chính sách tiền tệ và nghiệp vụ của Ngân hàng Trung ương ngày càng tiệm cận với thông lệ quốc tế, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng thương mại hoạt động hiệu quả hơn.
Các tổ chức tín dụng có khả năng chủ động trong việc huy động vốn và cho vay, tham gia tích cực và cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường tiền tệ, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường này.
Thị trường tiền tệ Việt Nam đã hình thành và phát triển song song với quá trình đổi mới kinh tế, đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết cung cầu và nguồn vốn ngắn hạn Mặc dù chưa thực sự phát triển toàn diện, thị trường tiền tệ đã hỗ trợ các hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống của các chủ thể kinh tế Đặc biệt, thị trường này giúp cân đối và điều hòa nguồn vốn giữa các ngân hàng, đảm bảo khả năng thanh toán và hoạt động an toàn, hiệu quả Thông qua các hoạt động trên thị trường tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện điều tiết tiền tệ, góp phần thực thi chính sách tiền tệ quốc gia Như vậy, thị trường tiền tệ Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, đặc biệt trong chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.
So với lịch sử phát triển của các thị trường tiền tệ trên thế giới, thị trường tiền tệ Việt Nam vẫn còn non trẻ và gặp nhiều khó khăn Do đó, cần nỗ lực hoàn thiện để thúc đẩy sự phát triển bền vững.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX và nghị quyết hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành trung ương đảng khóa X nhấn mạnh vai trò quan trọng của phát triển thị trường tài chính trong việc thúc đẩy các yếu tố thị trường Việc đánh giá thực trạng và kết quả đạt được của thị trường tiền tệ Việt Nam, cùng với việc nhận diện các hạn chế, là cần thiết để đề ra mục tiêu và giải pháp phát triển thị trường trong những năm tới Điều này không chỉ góp phần hoàn thiện thị trường tiền tệ mà còn đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.
7.1 Thị trường liên ngân hàng
Thị trường liên ngân hàng (thị trường 2) là nơi các ngân hàng trung gian vay mượn vốn lẫn nhau, giúp tăng cường khả năng thanh khoản Việc phát triển thị trường này không chỉ tạo ra công cụ hỗ trợ tài chính mà còn góp phần ổn định hệ thống ngân hàng.
Trang 23 nhau Thị trường liên ngân hàng cũng được xem như bình thông nhau giữa các ngân hàng, giúp đạt trạng thái cân bằng trên thị trường tiền tệ.
7.1.2 Các chủ thể tham gia thị trường liên ngân hàng
Ngân hàng Trung ương (NHTW) là ngân hàng lớn nhất trong một quốc gia, có nhiệm vụ quan trọng trong việc phát hành tiền và quản lý các chính sách tiền tệ NHTW giám sát tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lãi suất, dự trữ ngoại hối và thực hiện các nghiệp vụ thị trường mở Những hoạt động này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các quá trình kinh doanh, hướng đến một nền kinh tế phát triển bền vững và lành mạnh.
Ngân hàng Nhà nước (NHTW) có nhiệm vụ quan trọng trong việc duy trì sự ổn định của tiền tệ, kiểm soát lạm phát và giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp Đồng thời, NHTW cũng quản lý các ngân hàng thương mại (NHTM) và giữ vai trò là ngân hàng cho vay cuối cùng, đảm bảo sự ổn định và phát triển của hệ thống tài chính.
Ngân hàng Trung ương (NHTW) thực hiện các chức năng cơ bản như ngân hàng quốc gia và quản lý nhà nước nhằm đảm bảo ổn định tiền tệ và an toàn cho hệ thống ngân hàng, qua đó đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô NHTW thực hiện các chức năng này thông qua các nghiệp vụ kinh doanh, nhưng mục đích không phải là lợi nhuận mà là ổn định lưu thông tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế Các chức năng chính của NHTW bao gồm phát hành tiền, tổ chức tín dụng, ngân hàng của chính phủ và quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
+ Chức năng trung gian tín dụng: Là làm cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn.
+ Chức năng tạo tiền: chức năng này thực thi trên cơ sở chức năng và thanh toán.
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trong những định chế tài chính quan trọng, chuyên cung cấp đa dạng dịch vụ tài chính Nhiệm vụ cơ bản của NHTM bao gồm nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng dịch vụ thanh toán Bên cạnh đó, NHTM còn mở rộng các dịch vụ khác nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu sản phẩm và dịch vụ của xã hội.
Ngân hàng Thương mại (NHTM) là tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện nhiệm vụ huy động và cho vay vốn, đóng vai trò là cầu nối giữa cá nhân và tổ chức NHTM thu hút vốn từ nguồn nhàn rỗi và cung cấp cho những nơi cần thiết, với mục tiêu kinh doanh hàng hóa đặc biệt là “vốn – tiền” Ngân hàng trả lãi suất huy động thấp hơn lãi suất cho vay, và phần chênh lệch này tạo ra lợi nhuận cho NHTM Hoạt động của NHTM đáp ứng nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân cư, doanh nghiệp và tổ chức trong xã hội.
7.1.3 Các giao dịch trên thị trường
* Vay và cho vay để bổ sung nguồn vốn ngắn hạn giữa các NHTM
- Công cụ điều chỉnh: lãi suất liên ngân hàng.
Thị trường tiền tệ: Chưa có cơ sở để lo về sự mất giá của VND
8.1 Ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 và giải pháp kích thích kinh tế của các quốc gia.
Từ tháng 2 năm nay, dịch Covid-19 đã lan rộng ra nhiều quốc gia, bao gồm cả Việt Nam Phân tích từ SSI cho thấy thị trường tài chính, tiền tệ, chứng khoán và vàng đã trải qua nhiều biến động mạnh mẽ do tâm lý lo ngại rủi ro của các nhà đầu tư.
Biểu đồ diễn biến lãi suất liên ngân hàng và lãi suất điểu hành trên thị trường mở của NHNN (Nguồn NHNN và SSI)
Vào ngày 9/3, giá vàng đã tăng vượt mốc 1.700 USD/oz, đạt đỉnh 7 năm, trong khi chỉ số Dola-index gần chạm 100, điều này trái với quy luật thông thường khi USD tăng thì giá vàng giảm Lợi tức trái phiếu Chính phủ Mỹ cũng đảo ngược, với kỳ hạn 3 tháng cao hơn nhiều so với các kỳ hạn 10 năm trở xuống Đồng yên Nhật Bản (JPY) đã phục hồi và trở thành đồng tiền trú ẩn hàng đầu, tăng 0,54%, trong khi hầu hết các đồng tiền khác giảm giá so với USD.
Sau khi thị trường cổ phiếu tại Mỹ và nhiều khu vực giảm mạnh vào đầu tuần, các phân tích về gói kích thích kinh tế từ các ngân hàng trung ương đã giúp nhà đầu tư lấy lại sự bình tĩnh.
Theo SSI, thời gian gần đây, các biện pháp nới lỏng tiền tệ đã được áp dụng để thúc đẩy nền kinh tế Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBoC) đã thực hiện nhiều lần cắt giảm lãi suất điều hành, tăng tỷ giá tham chiếu và bơm tiền mạnh mẽ vào thị trường mở Ngoài ra, các ngân hàng trung ương của Nga, Thái Lan, Philippines, Indonesia, cùng với Mỹ, Úc, Malaysia và Canada cũng đã tiến hành cắt giảm lãi suất.
Năm 2019, nhiều quốc gia đã nới lỏng chính sách tiền tệ, dẫn đến việc không còn nhiều dư địa cho chính sách này Các Chính phủ đã chuyển hướng sang các chính sách tài khóa, như tăng chi tiêu và giảm thuế Chẳng hạn, Singapore công bố gói ngân sách 4,6 tỷ USD, Nhật Bản chi 93,8 triệu USD, Malaysia miễn thuế thu nhập cá nhân cho lao động trong ngành du lịch, và Hàn Quốc đang trình Quốc hội gói ngân sách bổ sung Tuần tới, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) dự kiến sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất.
1 lần lãi suất nữa trong kỳ họp tháng 3 để kích thích kinh tế; Chính phủ nước này có thể sẽ cắt giảm thuế cho DN.
8.2 Những giải pháp ổn định thị trường tiền tệ, kích thích kinh tế của ViệtNam Đối với Việt nam, sự đứt gãy chuỗi cung ứng hàng hóa cả phía cầu lẫn phía cung đang tạo sức ép lớn đến tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên cả Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vẫn nhấn mạnh việc điều hành chính sách tiền tệ một cách thận trọng.
Kể từ tuần giáp Tết Nguyên đán, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã liên tục phát hành tín phiếu để giảm lượng tiền lưu thông, với số dư tín phiếu đạt 120 nghìn tỷ đồng, mức cao nhất kể từ tháng 7/2018 Trong tháng 2, NHNN đã hút ròng gần 95 nghìn tỷ đồng qua thị trường mở, tương đương với số tiền VND đã bơm ra thị trường qua các giao dịch mua ngoại tệ trong tháng 1/2020.
Thanh khoản của các ngân hàng thương mại trên thị trường liên ngân hàng vẫn ổn định và dồi dào Lãi suất ở các kỳ hạn đã giảm mạnh trong tuần đầu và hiện đang duy trì ở mức thấp.
Cuối tháng 2, lãi suất kỳ hạn qua đêm ghi nhận ở mức 2,25%/năm, giảm 0,83%, trong khi lãi suất kỳ hạn 1 tuần còn 2,53%/năm, giảm 0,92% Theo định hướng hiện tại, lãi suất liên ngân hàng có khả năng tiếp tục duy trì ở mức này trong tháng 3.
Diễn biến của tỷ giá VND/USD và tỷ giá điều hành của NHNN
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang triển khai nhiều giải pháp cụ thể nhằm ổn định lãi suất, bao gồm yêu cầu các ngân hàng thương mại không tăng lãi suất Đồng thời, NHNN cũng thực hiện rà soát và đánh giá để cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi vay và không chuyển nhóm nợ cho các khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.
Nhiều NHTM như BIDV, VCB, HDBank, ABBank, ACB… đã triển khai các gói tín dụng với lãi suất ưu đãi hoặc giảm lãi suất cho vay từ 0,5-1,5%/năm.
Thủ tướng Chính phủ vừa công bố gói hỗ trợ tín dụng trị giá 250 nghìn tỷ đồng với lãi suất thấp, cùng với gói hỗ trợ tài khóa nhằm hoãn và giãn các nghĩa vụ tài chính.
Mặt bằng lãi suất cho vay đang có xu hướng giảm mạnh, trong khi lãi suất huy động vẫn ổn định Đặc biệt, lãi suất tiền gửi tại một số ngân hàng đã giảm từ 0,1-0,3%/năm.
Theo SSI, nhờ sự chỉ đạo mạnh mẽ từ Chính phủ và NHNN, cùng với khả năng điều chỉnh lộ trình đáp ứng các tỷ lệ an toàn, lãi suất tiền gửi có khả năng sẽ giảm trong thời gian tới.
Tỷ giá có đợt sóng tăng trong tháng 2 và và đầu tháng 3 có một vài phiên, sau 6 tháng ổn định nhưng không quá đáng lo ngại.
Theo phân tích của SSI, tỷ giá VND/USD đã tăng từ đầu năm, nhưng nhờ vào chính sách điều hành của Ngân hàng Nhà nước và các chính sách vĩ mô, VND vẫn chưa có dấu hiệu mất giá.
Theo SSI, trong tháng 2, tỷ giá VND/USD tại các ngân hàng đã tăng 28 đồng/USD, với mức tăng 0,27% kể từ đầu năm Tỷ giá hiện tại gần bằng mức cuối năm 2018 và đang hồi phục sau khi giảm trong năm 2019 Dịch bệnh đã làm giảm xuất khẩu, trong khi nhập khẩu hàng hóa cho sản xuất và tiêu dùng tăng chậm, dẫn đến tình hình cung - cầu ngoại tệ trong nước vẫn ổn định.
Định hướng và giải pháp
Trong quá trình hội nhập như gia nhập khối ASEAN, tham gia vào khu mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), kí kết hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa
Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cùng với sự tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế và hợp tác song phương đã thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Trong những năm gần đây, quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn và đạt được trình độ cao hơn, đặc biệt trong lĩnh vực thị trường tài chính và tiền tệ.
Việt Nam sẽ ngày càng hội nhập sâu rộng với thị trường khu vực và thế giới, từ đó phát triển thị trường tiền tệ để điều tiết hiệu quả cung cầu vốn ngắn hạn Điều này nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững, phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Để đạt được mục tiêu này, thị trường tiền tệ Việt Nam cần phát triển theo những định hướng cụ thể.
Phát triển thị trường tiền tệ an toàn, hiệu quả và cạnh tranh cao là yếu tố quan trọng cho việc hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ Điều này giúp huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính, đồng thời giảm thiểu rủi ro cho các tổ chức tín dụng Để đạt được mục tiêu này, cần củng cố thị trường liên ngân hàng với cơ chế hoạt động thông thoáng, tăng cường vai trò giám sát và khả năng kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước.
- Phát triển thị trường tín phiếu khoa bạc.
Tăng cường hoạt động nghiệp vụ thị trường mở nhằm nâng cao số lượng và đa dạng hóa các loại chứng khoán có độ an toàn và tính thanh khoản cao được phép giao dịch.
Tăng cường liên kết giữa các thị trường tiền tệ bộ phận và thị trường chứng khoán sẽ nâng cao tính linh hoạt của thị trường, đồng thời cải thiện khả năng phòng ngừa và chuyển đổi rủi ro.
- Hạn chế can thiệp hành chính vào hoạt động thị trường tiền tệ.
Bà Nguyễn Thị Kim Thanh, Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng, nhận định rằng thị trường tiền tệ Việt Nam đang gặp nhiều hạn chế do chính sách tiền tệ hiện tại theo đuổi nhiều mục tiêu và sử dụng các biện pháp hành chính không còn phù hợp với xu hướng phát triển Ông Mishra cũng chia sẻ quan điểm rằng cần giảm dần các giải pháp ngắn hạn và tập trung vào việc triển khai các giải pháp dài hạn hơn.
Chính sách tiền tệ hiện nay đang hướng tới việc kiểm soát lạm phát qua hai giai đoạn, theo nhận định của nhiều chuyên gia Trong bối cảnh áp lực vốn cho nền kinh tế vẫn lớn, hệ thống ngân hàng cần mở rộng tín dụng do thị trường tài chính và trái phiếu chưa phát triển đủ mạnh Do đó, mục tiêu chính là kiểm soát tốc độ tăng trưởng và tín dụng, đồng thời định hướng đầu tư rõ ràng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảm dần cho vay ngoại tệ, đảm bảo thanh khoản ngoại tệ và tăng dự trữ ngoại hối.
Trong trung hạn, ông Đoàn Hồng Quang, chuyên gia kinh tế cao cấp của Ngân hàng Thế giới, nhấn mạnh rằng việc thiết kế chính sách vĩ mô cần phải xem xét đến độ linh hoạt và khả năng thích ứng với các biến động kinh tế.
Trang 35 trễ, hiệu lực của từng chính sách và tiên liệu những tác động qua lại và giảm những ảnh hưởng tiêu cực, triệt tiêu nhau của chính sách Bà Thanh nêu chi tiết thêm về giải pháp, trong dài hạn cần hướng tới điều tiết thị trường tiền tệ, kiểm soát lạm phát một cách chủ động trên cơ sở sử dụng các công cụ tiền tệ gián tiếp, lấy lãi suất làm công cụ chủ đạo trong điều hành Cụ thể là sẽ phải hình thành được khung lãi suất và lãi suất định hướng trên thị trường liên ngân hàng; cơ chế phối hợp giữa các công cụ chính sách trong điều hành; hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ dựa trên cơ sở chương trình tiền tệ được thiết lập hàng năm và 5 năm Ngoài ra chất lượng phân tích dự báo lạm phát, tiền tệ phải đảm bảo mức độ sai số không làm ảnh hưởng đến mục tiêu điều hành; mô hình hóa được tác động của chính sách tiền tệ qua các kênh đến lạm phát và tăng trưởng kinh tế Trong đó nhấn mạnh vấn đề thực thi Đôi khi chính sách tốt nhất nhưng thực thi chưa tốt và đôi khi chúng ta phải chấp nhận chính sách chưa phải là tốt nhất nhưng có khả năng thực thi tốt.
Tháo gỡ các vướng mắc pháp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch trên thị trường tiền tệ, đồng thời tăng cường các công cụ giao dịch trong lĩnh vực này.
+ Đề nghị chính phủ cho phép trái phiếu đặc biệt được giao dịch trên thị trường tiền tệ như các loại trái phiếu khác của Chính Phủ.
+ Đề nghị Bộ Tài chính xem xét phát hành tín phiếu, trái phiếu kho bạc với nhiều loại kì hạn.
+ Đề nghị NHNN bổ sung, sửa đổi một số quy định để tăng thêm tính thông thoáng cho thị trường.
- Điều hành linh hoạt thị trường mở và thị trường đấu thầu trái phiếu Chính Phủ, đó là:
Điều hành linh hoạt thị trường mở thông qua việc tăng cường số phiên giao dịch và khối lượng giao dịch, đồng thời đa dạng hóa các kỳ hạn và lãi suất nhằm thu hút vốn khả dụng tạm thời từ các tổ chức tín dụng.
NHNN và Bộ Tài chính đang hợp tác để tăng cường khối lượng tín phiếu kho bạc Nhà nước được đấu thầu hàng quý và hàng năm Đồng thời, lãi suất đấu thầu cũng sẽ được điều chỉnh linh hoạt hơn, phản ánh sát diễn biến của thị trường.
9.2.2 Các giải pháp thường xuyên và lâu dài
- Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho sự phát triển của thị trường tiền tệ.
Cần sớm hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Công cụ chuyển nhượng nhằm mở rộng việc áp dụng các công cụ tài chính mới như thương phiếu trên thị trường Đối với các công cụ tài chính đã có mặt trên thị trường như chứng chỉ tiền gửi và kỳ phiếu của ngân hàng thương mại, cần tiếp tục chuẩn hóa để tạo điều kiện cho việc giao dịch các công cụ này trên thị trường thứ cấp.
Ban hành văn bản hướng dẫn đồng bộ về các công cụ phát sinh và phòng ngừa rủi ro theo tiêu chuẩn quốc tế; tăng cường các nghiệp vụ kỳ hạn và hoán đổi, cho phép ngân hàng thương mại thực hiện giao dịch quyền chọn tương lai nhằm phòng ngừa rủi ro tỷ giá, từ đó nâng cao tính thanh khoản cho thị trường.
Tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp lý cho thị trường thứ cấp, bao gồm quy định về mua bán giấy tờ có giá giữa các tổ chức tín dụng và khách hàng, nhằm tăng tính thanh khoản cho các công cụ trên thị trường tiền tệ Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các tổ chức tín dụng và các thành viên khác trong thị trường.