Khái quát v ề hoạt động bảo hiểm
S ự ra đời của hoạt động bảo hiểm
Con người từ khi xuất hiện trên trái đất đã phải đối mặt với nhiều rủi ro bất ngờ trong cuộc sống và sản xuất Dù đã có những biện pháp phòng ngừa và chú ý, nguy cơ gặp phải những sự cố không lường trước vẫn luôn hiện hữu.
Rủi ro có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân như thiên nhiên, tiến bộ khoa học kỹ thuật và yếu tố xã hội Dù nguyên nhân nào, hậu quả đối với con người thường là những khó khăn trong cuộc sống, bao gồm mất hoặc giảm thu nhập, ngừng trệ sản xuất và kinh doanh, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội Để đối phó với các rủi ro này, con người đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau nhằm kiểm soát và khắc phục hậu quả Các biện pháp này được chia thành hai nhóm chính: kiểm soát rủi ro và tài trợ rủi ro.
Nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro bao gồm việc tránh né rủi ro, ngăn ngừa tổn thất và giảm thiểu rủi ro, nhằm mục đích ngăn chặn hoặc giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro Mặc dù những biện pháp này rất hiệu quả trong việc kiểm soát rủi ro, nhưng khi rủi ro xảy ra, hậu quả có thể không thể lường trước được Do đó, cần thiết phải có các giải pháp bổ sung để ứng phó hiệu quả hơn.
Nhóm biện pháp tài trợ rủi ro bao gồm việc chấp nhận rủi ro và sử dụng bảo hiểm Những biện pháp này được áp dụng trước khi rủi ro xảy ra nhằm mục đích giảm thiểu và khắc phục các hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra.
Vì vậy, bảo hiểm ra đời là một phần quan trọng trong các chương trình quản lý rủi ro của các tổ chức cũng như cá nhân
Khái ni ệm và vai trò của bảo hiểm
Theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro, bảo hiểm là một sự chuyển giao rủi ro trên cơ sở hợp đồng
Theo quan điểm xã hội, bảo hiểm không chỉ đơn thuần là chuyển giao rủi ro mà còn giúp giảm thiểu rủi ro thông qua việc tập trung nhiều rủi ro, từ đó cho phép dự đoán các tổn thất khi chúng xảy ra Bảo hiểm được xem là công cụ hiệu quả nhất để đối phó với những hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra.
Bảo hiểm là một phương thức tài chính giúp tạo ra quỹ chung từ sự đóng góp của nhiều cá nhân để bồi thường cho những người gặp tổn thất Khi mua bảo hiểm, người mua chuyển giao rủi ro của mình cho công ty bảo hiểm, và chi phí cho việc chuyển giao này được gọi là phí bảo hiểm.
Vai trò của bảo hiểm thể hiện ở các khía cạnh sau:
Người tham gia bảo hiểm, bao gồm cả cá nhân và tổ chức, sẽ nhận được trợ cấp và bồi thường cho những thiệt hại thực tế do rủi ro bất ngờ xảy ra trong phạm vi bảo hiểm Điều này giúp họ nhanh chóng ổn định tình hình kinh tế, khôi phục cuộc sống và hoạt động sản xuất kinh doanh.
Bảo hiểm không chỉ giúp người tham gia bảo vệ tài chính thông qua việc đóng góp phí mà còn tạo ra một quỹ lớn, từ đó không chỉ chi trả hay bồi thường mà còn cung cấp nguồn vốn quan trọng cho việc đầu tư và phát triển kinh tế.
- Bảo hiểm, nhất là bảo hiểm thương mại còn đóng góp tích luỹ cho ngân sách Nhà nước
Bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm hợp tác thực hiện các biện pháp phòng ngừa và hạn chế tai nạn, từ đó giảm thiểu thiệt hại và hậu quả xảy ra.
Bảo hiểm đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tinh thần cho cá nhân và tổ chức, mang lại sự an tâm trong cuộc sống và hoạt động sản xuất kinh doanh Nó thể hiện tính cộng đồng và sự tương trợ nhân văn sâu sắc, giúp mọi người vượt qua khó khăn.
- Bảo hiểm còn góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế giữa các nước, nhất là thông qua hoạt động tái bảo hiểm
- Cuối cùng, hoạt động bảo hiểm thu hút một số lao động nhất định, góp phần giảm bớt tình trạng thất nghiệp cho xã hội.
Phân lo ại bảo hiểm
1.1.3.1 Dựa vào đối tượng bảo hiểm:
1.1.3.2 Dựa vào kỹ thuật quản lý tài chính:
- Bảo hiểm được quản lý theo kỹ thuật phân chia
- Bảo hiểm được quản lý theo kỹ thuật tồn tích
1.1.3.3 Dựa vào Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam:
Bảo hiểm nhân thọ là một loại hình bảo hiểm nhằm bảo vệ tài chính cho người được bảo hiểm trong trường hợp sống hoặc chết Các loại bảo hiểm nhân thọ bao gồm: bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trả tiền định kỳ, và các nghiệp vụ khác được Chính phủ quy định.
Bảo hiểm phi nhân thọ là loại bảo hiểm bao gồm các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các hình thức bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ Các loại bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm: bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người, bảo hiểm tài sản và thiệt hại, bảo hiểm hàng hóa trong vận chuyển qua các phương tiện như đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt và đường không, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu, bảo hiểm trách nhiệm chung, bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính, bảo hiểm thiệt hại kinh doanh, và bảo hiểm nông nghiệp.
4 m) Các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác do Chính phủ quy định.
Các lo ại hình doanh nghiệp bảo hiểm
Hoạt động bảo hiểm đã tồn tại từ lâu và hiện nay đang phải thích ứng với sự phát triển của kinh tế xã hội, cùng với những thay đổi về nguyên nhân, chủng loại và mức độ tổn thất của các rủi ro Sự gia tăng mức độ tổn thất và sự xuất hiện của các rủi ro mới đã tạo ra nhu cầu bảo hiểm đa dạng hơn từ phía người tham gia Do đó, ngành bảo hiểm cần cung cấp các dịch vụ phong phú để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, điều mà không phải công ty bảo hiểm nào cũng có khả năng thực hiện.
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần phức tạp, các công ty bảo hiểm cần tổ chức hoạt động đa dạng để phù hợp với nhu cầu thị trường Điều này dẫn đến sự xuất hiện của nhiều loại hình công ty bảo hiểm hoạt động song song, nhằm đáp ứng sự phát triển kinh tế xã hội và quy luật cung cầu hiện nay.
Ngành bảo hiểm được chia làm ba nhóm chính :
- Các công ty trực tiếp kinh doanh bảo hiểm
- Các công ty tái bảo hiểm
- Các công ty môi giới bảo hiểm
Nhìn chung, ba nhóm công ty bảo hiểm này có thể có các loại hình công ty như sau :
1.1.4.1 Công ty bảo hiểm nhà nước:
Công ty bảo hiểm nhà nước được thành lập và quản lý bởi Nhà nước, với vai trò là chủ sở hữu và đầu tư vốn Đây là một pháp nhân kinh tế hoạt động theo quy định của pháp luật và có quyền bình đẳng trước pháp luật.
Công ty hoạt động theo định hướng của Nhà nước và thực hiện hạch toán kinh tế Trước năm 2008, các công ty bảo hiểm nhà nước tại Việt Nam bao gồm Bảo Việt, Bảo Minh, Vinare, và một số công ty khác.
1.1.4.2 Công ty bảo hiểm cổ phần:
Công ty bảo hiểm là một hình thức tổ chức mà các thành viên cùng góp vốn, chia sẻ lợi nhuận và chịu lỗ tương ứng với phần vốn đã góp Mỗi thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi vốn góp của mình.
Doanh nghiệp bảo hiểm là loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, hoạt động với mục đích lợi nhuận và hiện đang rất phổ biến tại Việt Nam Một số ví dụ tiêu biểu bao gồm Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Việt Nam, Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam, Công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện (PTI), Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO), và Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng.
1.1.4.3 Công ty bảo hiểm tư nhân:
Công ty bảo hiểm này có vốn tối thiểu đạt yêu cầu pháp định và do một cá nhân làm chủ, người này sẽ chịu trách nhiệm toàn bộ bằng tài sản cá nhân cho mọi hoạt động của công ty.
Nhà nước công nhận sự phát triển bền vững của công ty tư nhân và tính hợp pháp trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm Theo quy định pháp luật, các công ty bảo hiểm tư nhân được quyền tự do trong việc kinh doanh và chủ động trong mọi hoạt động liên quan.
Theo Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam ban hành ngày 9/12/2000 thì loại hình công ty bảo hiểm này không được phép thành lập tại Việt nam
1.1.4.4 Công ty liên doanh bảo hiểm:
Là công ty bảo hiểm được hình thành trên cơ sở góp vốn của bên Việt Nam và bên nước ngoài
Trong các công ty liên doanh bảo hiểm, mỗi thành viên đóng góp một khoản vốn nhất định và có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh Lợi nhuận và thua lỗ được chia sẻ tương ứng với tỷ lệ đóng góp của từng thành viên Hiện nay, tại Việt Nam có một số công ty bảo hiểm liên doanh đang hoạt động, bao gồm Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế (VIA), Công ty bảo hiểm liên hợp (UIC), Công ty liên doanh môi giới bảo hiểm Aon-Inchibrok, Công ty liên doanh bảo hiểm Bảo Minh - CMG và Công ty liên doanh bảo hiểm Việt - Úc.
1.1.4.5 Chi nhánh công ty bảo hiểm nước ngoài:
Các công ty bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam hoạt động theo luật pháp địa phương và sự chỉ đạo của công ty mẹ Một số tên tuổi lớn trong lĩnh vực này bao gồm Chinfon-Manulife, Prudential, AIA và Allianz/AGF.
Năm 1720 Lloyd’s được thành lập, đó là hội tương hỗ các nhà bảo hiểm hàng hải ở Anh Hiện nay cần phân biệt 2 kiểu Lloyd’s “Lloyd’s of London “ và
“ American Lloyd’s" Như một đoàn thể, Lloyd’s không khai thác kinh doanh bảo hiểm
Ho ạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm
T ạo lập vốn
Nguồn vốn chủ sở hữu gồm vốn điều lệ được góp khi thành lập doanh nghiệp, các quỹ và các khoản lãi tích luỹ
Vốn điều lệ là số vốn được ghi trong điều lệ doanh nghiệp và được góp khi thành lập doanh nghiệp Đối với lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam, doanh nghiệp phải tuân thủ các yêu cầu về vốn theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm khi tiến hành thành lập.
- Kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ: 70 tỷ đồng Việt Nam (5 triệu USD)
- Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ : 140 tỷ đồng Việt Nam (10 triệu USD)
Kinh doanh môi giới bảo hiểm yêu cầu vốn tối thiểu là 4 tỷ đồng Việt Nam (300 nghìn USD), điều này rất quan trọng để đảm bảo doanh nghiệp bảo hiểm có khả năng thực hiện các cam kết với bên mua bảo hiểm.
1.2.1.2 Quỹ dự trữ bắt buộc và nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm:
Quỹ dự trữ bắt buộc được thành lập theo quy định pháp luật, với tỷ lệ trích 5% từ lợi nhuận sau thuế Mỗi năm, doanh nghiệp sẽ thực hiện việc trích quỹ dự trữ này dựa trên lợi nhuận sau thuế của mình.
Nguồn vốn nhàn rỗi từ quỹ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm:
Theo quy định, tất cả các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ phải trích lập dự phòng nghiệp vụ từ phí bảo hiểm cho phần trách nhiệm giữ lại của mình Các khoản dự phòng nghiệp vụ này của PVI bao gồm nhiều loại hình khác nhau để đảm bảo an toàn tài chính.
Dự phòng phí chưa được hưởng được sử dụng để bồi thường cho trách nhiệm phát sinh trong thời gian hợp đồng bảo hiểm còn hiệu lực PVI thực hiện trích lập dự phòng phí với tỷ lệ 40% mức phí giữ lại của năm cho các loại hình bảo hiểm nói chung Đối với bảo hiểm vận chuyển hàng hóa, mức phí giữ lại được tính bằng 17% mức phí giữ lại của năm.
Dự phòng bồi thường cho khiếu nại chưa giải quyết được sử dụng để bồi thường cho các tổn thất đã phát sinh thuộc trách nhiệm bảo hiểm, bao gồm cả các trường hợp chưa khiếu nại hoặc đã khiếu nại nhưng chưa được giải quyết vào cuối năm tài chính Đối với các nghiệp vụ bảo hiểm gốc PVI, việc trích lập dự phòng được thực hiện theo phương pháp từng hồ sơ, dựa trên mức trách nhiệm giữ lại đối với các tổn thất đã xảy ra và đã nhận được thông báo tổn thất.
Vốn khác được huy động để phục vụ quá trình mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm chủ yếu là:
- Nguồn vốn tín dụng ngân hàng
- Nguồn vốn tín dụng thương mại
Phát hành trái phiếu công ty là một trong những phương thức huy động vốn quan trọng, bên cạnh nguồn vốn vay ngân hàng Trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp thường sử dụng vốn vay ngân hàng để đảm bảo tài chính cho sản xuất, đầu tư công nghệ mới và mở rộng quy mô sản xuất.
Nguồn vốn vay của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm:
- Các khoản vay ngắn hạn và dài hạn
- Các khoản phải trả về hoạt động kinh doanh bảo hiểm như: chi bồi thường, chi hoa hồng, chi giám định…
- Các quỹ dự phòng nghiệp vụ
Kinh doanh b ảo hiểm gốc
Theo Điều 3 của Luật Kinh doanh bảo hiểm Việt Nam, hoạt động kinh doanh bảo hiểm được định nghĩa là việc doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện nhằm mục đích sinh lợi Doanh nghiệp này chấp nhận rủi ro từ người được bảo hiểm, trong khi bên mua bảo hiểm phải đóng phí để doanh nghiệp bảo hiểm có thể chi trả cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Các doanh nghiệp bảo hiểm thu phí bảo hiểm ngay khi hợp đồng được ký kết Khoản phí này nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm khi xảy ra rủi ro.
Nhà nước có xu hướng bảo vệ quyền lợi của người được bảo hiểm trước các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) bằng cách thiết lập hệ thống kiểm tra và giám sát khả năng thanh toán của DNBH Điều này nhằm ngăn chặn tình trạng DNBH thu phí mà không thực hiện các cam kết với người được bảo hiểm Theo Luật Kinh doanh Bảo hiểm ngày 22/12/2000, DNBH được coi là đủ khả năng thanh toán khi đã trích lập đầy đủ dự phòng nghiệp vụ.
Kinh doanh tái b ảo hiểm
Khi công ty bảo hiểm chấp nhận rủi ro từ người được bảo hiểm, họ cũng phải đối mặt với nguy cơ phát sinh nhiều rủi ro cùng lúc hoặc một rủi ro lớn, trong khi khả năng tài chính để bồi thường có hạn Do đó, các công ty bảo hiểm cần áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro cho chính mình Một trong những giải pháp hiệu quả là cơ chế phân tán rủi ro, dẫn đến sự xuất hiện của hoạt động tái bảo hiểm.
Kinh doanh tái bảo hiểm bao gồm:
- Chuyển một phần trách nhiệm đã nhận bảo hiểm cho một hay nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác;
- Nhận bảo hiểm lại một phần hay toàn bộ trách nhiệm mà doanh nghiệp bảo hiểm khác đã nhận bảo hiểm
Hoạt động tái bảo hiểm là thực sự cần thiết vì những lý do :
An toàn tài sản và con người là lý do chính để người mua bảo hiểm lựa chọn các công ty bảo hiểm, giúp giảm lo âu về tổn thất không chắc chắn Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm, yếu tố an toàn là ưu tiên hàng đầu; tái bảo hiểm đóng vai trò quan trọng trong việc phân tán rủi ro, đảm bảo sự an toàn cho công ty bảo hiểm.
Các công ty bảo hiểm gốc có thể giảm thiểu biến động trong chi phí bồi thường hàng năm và qua các năm thông qua việc tái bảo hiểm Điều này cũng tạo động lực cho người được bảo hiểm lựa chọn sản phẩm của các công ty bảo hiểm gốc.
Khả năng tài chính của các công ty bảo hiểm, dù lớn đến đâu, vẫn có hạn Trong bối cảnh toàn cầu hiện nay, các sự kiện lớn gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản có thể dẫn đến tình trạng phá sản nếu không có sự chuyển nhượng rủi ro cho các công ty tái bảo hiểm Ví dụ điển hình là sau vụ khủng bố 11/09/2001 tại Hoa Kỳ, thị trường bảo hiểm toàn cầu đã chịu ảnh hưởng nặng nề do khoản bồi thường khổng lồ, khiến nhiều công ty bảo hiểm nhỏ buộc phải đóng cửa.
Tái bảo hiểm không chỉ mang lại lợi ích cho các công ty trong một quốc gia mà còn cho toàn cộng đồng thế giới Qua cơ chế này, các rủi ro được chia sẻ và phân tán, giúp giảm thiểu tác động của tổn thất đến một nền kinh tế duy nhất Điều này tạo ra sự ổn định cho toàn bộ thị trường bảo hiểm toàn cầu.
Đầu tư tài chính
1.2.4.1 Danh mục tài sản tài chính Để đảm bảo DNBH có thể thực hiện tốt nhất các cam kết với khách hàng, luật pháp đã quy định và giới hạn danh mục đầu tư từ nguồn vốn nhàn rối của DNBH Các loại tài sản nói chung mà DNBH có thể đầu tư là:
- Gửi tiền tại các TCTD
Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản dưới luật tại Việt Nam quy định rõ các loại tài sản mà Doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) có thể sử dụng vốn nhàn rỗi để đầu tư, bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau.
- Mua trái phiếu Chính phủ;
- Mua trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh;
- Gửi tiền tại các TCTD;
- Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh;
- Góp vốn vào các doanh nghiệp khác;
- Kinh doanh bất động sản;
- Cho vay qua các tổ chức tài chính - tín dụng;
- Ủy thác đầu tư qua các tổ chức tài chính - tín dụng;
Một số các tài sản được quy định là “mua” song doanh nghiệp BH có thể mua, bán hoặc nắm giữ chúng
Đầu tư từ nguồn vốn nhàn rỗi phải tuân thủ các quy định pháp luật Trong danh mục tài sản, các tài sản tài chính được xác định là một phần quan trọng.
- Các loại chứng khoán (Trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi…)
- Gửi tiền tại các tổ chức tài chính - tín dụng;
- Cho vay qua các tổ chức tài chính - tín dụng;
1.2.4.2 Cơ cấu tài sản tài chính trong hoạt động đầu tư:
Luật pháp quy định danh mục tài sản đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH), bao gồm cả tài sản tài chính, và khống chế tỷ lệ đầu tư vào từng loại tài sản để đảm bảo khả năng thanh toán và bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm Các quy định này nhằm cân đối tỷ trọng vốn đầu tư, với mục tiêu cuối cùng là duy trì sự ổn định tài chính cho DNBH Theo Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam và các văn bản hướng dẫn, tỷ lệ vốn đầu tư vào từng loại tài sản đã được quy định cụ thể.
- Mua trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh, gửi tiền tại các TCTD không hạn chế;
Mua cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh, cũng như góp vốn vào các doanh nghiệp khác, được phép thực hiện tối đa 35% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm.
Kinh doanh bất động sản và cho vay là những lĩnh vực hấp dẫn, trong đó có thể ủy thác đầu tư qua các tổ chức tài chính Đặc biệt, việc sử dụng tối đa 20% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm để tham gia vào các hoạt động này có thể mang lại lợi nhuận cao và tối ưu hóa nguồn vốn.
Thông qua tỷ lệ vốn đầu tư vào các loại hình tài sản khác nhau, có thể thấy rằng việc đầu tư vào tài sản vật chất thường không được khuyến khích Do đó, chỉ nên sử dụng một khoản vốn nhỏ cho các loại tài sản này.
Các ràng buộc pháp lý này nhằm đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) đối với quyền lợi của người được bảo hiểm.
Các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) sẽ dựa vào các mức khống chế để xác định tỷ lệ vốn đầu tư cho từng loại tài sản Sự phân bổ vốn đầu tư này sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu tài sản tổng thể cũng như cơ cấu tài sản tài chính của DNBH.
Các chứng khoán nợ như trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh được ưu tiên cho phép đầu tư mà không giới hạn mức vốn đầu tư Ngược lại, chứng khoán vốn như cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh bị hạn chế đầu tư ở mức 35% nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ Những quy định này ảnh hưởng đáng kể đến cơ cấu tài sản tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm và tác động đến hoạt động đầu tư chứng khoán của doanh nghiệp.
Hi ệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm
S ự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của DNBH
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM DẦU KHÍ VIỆT NAM
Khái quát v ề Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam
Quá trình hình thành và phát tri ển
Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm dầu khí Việt Nam (PVI) được thành lập vào ngày 23/01/1996, xuất phát từ Công ty Bảo hiểm dầu khí Công ty đã nhận được Giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn và đăng ký hoạt động kinh doanh bảo hiểm từ Bộ Tài chính với số 07 TC/GCN vào ngày 02/12/1995, theo Quyết định số 12/BT của Bộ trưởng, Chủ nhiệm văn phòng Chính phủ.
PVI cam kết "Trung thành tận tụy với khách hàng" trong mọi hoạt động kinh doanh, khẳng định vị thế hàng đầu trên thị trường bảo hiểm Việt Nam Theo số liệu từ Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, PVI đã duy trì vị trí dẫn đầu trong nhiều năm qua, đặc biệt nổi bật trong các lĩnh vực bảo hiểm.
Bảo hiểm năng lượng cung cấp giải pháp bảo hiểm tài sản ngoài khơi cho các nhà thầu Dầu khí, cả trong và ngoài nước, với giá trị bảo hiểm lên tới hàng trăm triệu đến tỷ USD.
Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu có giá trị lên đến hàng chục triệu USD, như đội tàu của Xí nghiệp Liên doanh Việt Xô (VSP), Tổng công ty CP dịch vụ kỹ thuật dầu khí (PTSC), và Công ty Vận tải dầu khí (PVTrans) Đặc biệt, đội tàu vận tải biển của Vitranschart, Vosco và Vinalines cũng có giá trị bảo hiểm tương tự, cho thấy tầm quan trọng của bảo hiểm trong ngành vận tải biển.
PVI là công ty hàng đầu trong lĩnh vực bảo hiểm tài sản và xây dựng lắp đặt tại Việt Nam, cung cấp dịch vụ bảo hiểm trị giá hàng trăm triệu USD cho các đơn vị thành viên của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, bao gồm VSP, nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhà máy Đạm Phú Mỹ, PV Gas và cụm khí điện đạm Cà Mau Ngoài ra, PVI còn bảo hiểm cho nhiều công trình trọng điểm quốc gia như Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình, nhà máy xi măng Bỉm Sơn, cầu Cần Thơ và các nhà máy thủy điện, nhiệt điện, khẳng định vị thế vững chắc trong ngành bảo hiểm.
Trong những năm qua, PVI đã mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, khẳng định vị thế là nhà bảo hiểm gốc duy nhất cho các hợp đồng dầu khí tại Việt Nam và xây dựng các hợp đồng tái bảo hiểm lớn Với hợp đồng bảo hiểm năng lượng hàng tỷ USD, PVI là công ty duy nhất có hợp đồng tái bảo hiểm mở với các công ty hàng đầu thế giới tại London PVI đã hợp tác với nhiều nhà tái bảo hiểm và môi giới quốc tế uy tín như AIG Group, Swiss Re, Munich Re, Allianz, New Hampshire, Lloyds Syndicates, Marsh, AON và Willis Đặt chữ "Tín" lên hàng đầu, PVI cam kết mang đến dịch vụ chất lượng, nhanh chóng và chính xác cho khách hàng, coi sự tin tưởng của khách hàng là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững của công ty.
Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam (PVI) đã xác lập mục tiêu "Ngọn lửa của niềm tin", thể hiện mong muốn sưởi ấm niềm tin của khách hàng Để thực hiện điều này, PVI xây dựng chính sách chất lượng theo định hướng của một nhà bảo hiểm chuyên nghiệp, với triết lý kinh doanh chủ đạo là "Trung thành, tận tụy với khách hàng".
Kể từ năm 2005, PVI đã ghi nhận sự phát triển vượt bậc với doanh thu, lợi nhuận và nộp ngân sách tăng cao, đánh dấu sự khởi sắc toàn diện của công ty Công ty đã mở rộng các loại hình dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ với nhiều sản phẩm đa dạng, đồng thời số lượng khách hàng cũng tăng đáng kể.
Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng từ nguồn vốn nhàn rỗi vào nền kinh tế quốc dân mỗi năm, góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của nhiều ngành kinh tế khác.
Lĩnh vực hoạt động và chức năng, nhiệm vụ
- Lĩnh vực hoạt động: Bảo hiểm phi nhân thọ
- Địa bàn hoạt động: Phạm vi cả nước
- Đối tượng khách hàng: Các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước sinh sống, học tập, làm việc, hoạt động và kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam
2.1.2.2 Chức năng và nhiệm vụ:
A Kinh doanh bảo hiểm gốc:
Bảo hiểm y tế tự nguyện và bảo hiểm tai nạn con người là những loại hình bảo hiểm quan trọng, bên cạnh đó còn có bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại Các dịch vụ bảo hiểm hàng hóa vận chuyển qua đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt và đường không cũng rất cần thiết Ngoài ra, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm cháy, bảo hiểm thân tàu cùng với trách nhiệm dân sự của chủ tàu, và bảo hiểm trách nhiệm chung cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ tài sản và quyền lợi của cá nhân và doanh nghiệp Cuối cùng, bảo hiểm thiệt hại kinh doanh giúp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh.
B Kinh doanh tái bảo hiểm:
Nhận và nhượng tái bảo hiểm liên quan đến các nghiệp vụ bảo hiểm gốc được phép kinh doanh
- Hoạt động giải quyết bồi thường
- Hoạt động đầu tư tài chính
Đội ngũ CBCNV và bộ máy tổ chức quản lý của PVI
2.1.3.1 Đội ngũ CBCNV: Đội ngũ CBCNV của PVI từ 2007 đến 2009 có sự thay đổi đáng kể về cả mặt lượng lẫn mặt chất Sự thay đổi đó được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.1 - Cơ cấu đội ngũ CBCNV của PVI từ 2007 – 2009
(Nguồn: Phòng Hành chính tổ chức) 2.1.3.2 Bộ máy tổ chức quản lý:
PVI hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và Luật Kinh doanh Bảo hiểm của Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 01/07/2006 Điều lệ Công ty đã được Đại hội đồng Cổ đông lần I thông qua vào ngày 08/02/2007.
V ị thế của PVI trên thị trường bảo hiểm Việt Nam
PVI, một doanh nghiệp Nhà nước chuyển đổi thành Tổng công ty Cổ phần, đã không ngừng nâng cao vị thế trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam Từ khi thành lập cho đến nay, tỷ trọng thị phần của PVI đã có sự gia tăng đáng kể, đặc biệt là so với năm 2006, thời điểm trước khi công ty thực hiện cổ phần hóa.
2009 (sau khi CPH) như sau:
Biểu đồ 2.1 - Thị phần của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ năm 2006
PVI, 11.47% khoa luan, tieu luan38 of 102.
Th ực trạng hoạt động kinh doanh của PVI từ năm 2007-2009
T ạo lập vốn
Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ chủ yếu được hình thành từ vốn điều lệ và các quỹ dự phòng nghiệp vụ Việc trích lập các quỹ dự phòng này phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật hiện hành.
Căn cứ vào các quy định của pháp luật và thực tế của công ty thì nguồn vốn đầu tư của PVI được xác định bao gồm:
2 Quỹ dự trữ bắt buộc;
3 Nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm
Bảng 2.2 Nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2006-2009 Đơn vị tính: Triệu đồng
2 Quỹ dự phòng nghiệp vụ 345.870 427.824 657.542 889.738
- Dự phòng dao động lớn 150.908 140.813 63.602 65.039
Tốc độ tăng quy mô vốn đ.tư 214% 166% 128% 114%
(Nguồn: Báo cáo tài chính các năm 2006-2009)
Vốn điều lệ của PVI được Tổng công ty Dầu khí cấp là 22 tỷ đồng khi thành lập vào năm 1996 Sau 13 năm hoạt động với kết quả kinh doanh khả quan, PVI đã tự bổ sung vốn thông qua lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh.
Số vốn điều lệ của PVI đã liên tục tăng trong những năm qua, đạt 447 tỷ đồng trước khi cổ phần hóa năm 2007, gấp gần 22 lần so với năm 1996 Với mức vốn này, PVI đã hoàn thành nhiệm vụ bảo toàn và phát triển nguồn vốn nhà nước, đồng thời tạo ra lợi thế cạnh tranh trong kinh doanh và nâng cao uy tín với khách hàng.
Tình hình trích lấp quỹ dự phòng của PVI được thực hiện đúng theo quy định pháp luật Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư của PVI rất ấn tượng, cụ thể năm 2009 tăng 114% so với năm 2008, và năm 2008 tăng 128% so với năm 2007.
Kinh doanh b ảo hiểm gốc
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm đang trên đà phát triển, PVI khẳng định vị thế dẫn đầu trên thị trường bảo hiểm Việt Nam và quốc tế, đặc biệt trong lĩnh vực bảo hiểm dầu khí, hàng hải và xây dựng lắp đặt Công ty cũng cung cấp dịch vụ cho nhiều dự án trọng điểm quốc gia, thể hiện sự đóng góp quan trọng vào nền kinh tế Tình hình kinh doanh tại các đơn vị của PVI tiếp tục khả quan và ổn định.
CÁC PHÒNG, BAN KINH DOANH TỔNG CÔNG TY
PVI cam kết duy trì môi trường kinh doanh ổn định cho các dịch vụ trong ngành dầu khí tại Việt Nam, đảm bảo cấp đơn bảo hiểm cho 100% các dự án triển khai Chúng tôi đã tổ chức tái tục bảo hiểm hiệu quả, bảo vệ tài sản của các đơn vị như VSP, PV Gas và Đạm Phú Mỹ Đối với đội tàu của PTSC, PV Trans và PV Drilling, chúng tôi cung cấp bảo hiểm thân tàu và TNDS chủ tàu Các dự án lớn như nhà máy lọc dầu Dung Quất và cụm khí điện đạm Cà Mau đã nhận được sự tư vấn từ PVI về quản lý rủi ro và đàm phán để có chương trình bảo hiểm với phí và điều kiện cạnh tranh nhất.
Giai đoạn 2006-2009, PVI đã cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các công trình và thiết bị dầu khí của các nhà thầu nước ngoài hoạt động tại vùng biển Việt Nam, góp phần tăng doanh thu và mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước Công ty đã thành công trong việc vận động các nhà thầu mua bảo hiểm, cung cấp dịch vụ cho các tên tuổi lớn như Global Santafe, Transocean và các dự án quốc tế như KNOC tại Hàn Quốc và Keppel Fels tại Singapore Với phong cách làm việc chuyên nghiệp và dịch vụ sau bán hàng tận tâm, PVI đã chiếm được lòng tin của khách hàng.
PVI tiếp tục mở rộng dịch vụ ngoài ngành bằng cách thiết lập quan hệ với các Tập đoàn lớn như Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam Công ty đã triển khai nhiều dịch vụ bảo hiểm cho các dự án quan trọng như thủy điện Huội Quảng - Bản Chát, thủy điện Đồng Nai, và nhiều dự án nhiệt điện khác Các dự án xây dựng lớn như Trung tâm Hội nghị Quốc gia, cầu Cần Thơ, và Quốc lộ 2 cũng nằm trong danh sách được bảo hiểm Đặc biệt, dịch vụ này đã được Bộ Tài chính xác nhận tương đương với dịch vụ xuất khẩu và được áp dụng mức thuế VAT bằng 0%.
Các chi nhánh đã nỗ lực đáng kể trong việc chiếm lĩnh thị trường, dẫn đến doanh thu tăng trưởng mạnh mẽ Họ đã tận dụng hiệu quả mối quan hệ với khách hàng truyền thống và đồng thời mở rộng dịch vụ cho các nhà thầu như Daewoo và Agas.
- Thành lập các văn phòng khu vực để mở rộng khai thác trên địa bàn cả nước
- Các Chi nhánh đã phối hợp với Tổng Công ty tổ chức tốt các hội thảo, hội nghị khách hàng, đào tạo đại lý.
Chi nhánh chưa khai thác hiệu quả các nghiệp vụ, đặc biệt trong việc phối hợp với Tổng Công ty về chào phí và tính toán chi phí dịch vụ Điều này dẫn đến nhiều dịch vụ có doanh thu cao nhưng không mang lại hiệu quả Nhiệm vụ phát triển mạng lưới đại lý để khai thác các nghiệp vụ như xe cơ giới, con người, và cháy nổ còn chậm và chưa được quan tâm đúng mức, khiến doanh thu vẫn thấp và chưa tương xứng với sự phát triển của thị trường.
Một số hợp đồng bảo hiểm PVI đã và đang thục hiện:
TT Tên công trình hoặc hợp đồng bảo hiểm
Tổng giá trị hợp đồng
Giá trị công trình nhận bảo hiểm
Tên cơ quan chủ công trình
1 Bảo hiểm tài sản cho
Xí nghiệp Liên doanh Việt xô (Vietsopetro)
2 Bảo hiểm tài sản và dịch vụ cho PDC
Công ty chế biến kinh doanh SP dầu mỏ (PDC)
Bảo hiểm dịch vụ cho Petechim (đang triển khai)
4 Bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng lắp đặt
7,7 triệu USD 711 triệu USD Cuu Long JOC
(CAR) tại mỏ sư tử vàng
Bảo hiểm năng lượng trọn gọi các giếng khoan tại lô 12
697 ngàn USD 680 triệu USD Premier Oil
6 Bảo hiểm năng lượng tại mỏ Rạng Đông
3,4 triệu USD 493 triệu USD Công ty dầu khí
1,863 tỷ đồng (Đồng BH, PVI: 30%)
445,7 triệu USD Công ty CP Nhiệt điện Quảng Ninh
Bảo hiểm năng lượng tại Giếng Hổ xám 1X lô 97
160 ngàn USD 200 triệu USD Lam Son JOC
Bảo hiểm năng lượng trọn gói các Giếng lô 11.2
1,7 triệu USD 174 triệu USD Công ty KNOC
Bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng lắp đặt cho giàn nén khí tại mỏ Lan Tây
1,6 triệu USD 118 triệu USD Công ty BP
11 Dự án xây dựng Trung tâm Hội nghị quốc gia
8,572 tỷ đồng (Đồng BH, PVI: 30%)
Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng Nhà quốc hội và hội trường Ba Đình mới
12 Xây dựng cầu Cần Thơ trên Quốc lộ 1A
24,374 tỷ đồng 3.210,11 tỷ đồng Ban Quản lý dự án
Dự án dây chuyền mới Nhà máy xi măng Bỉm Sơn
8,541 tỷ đồng 3.100 tỷ đồng Công ty xi măng
14 Dự án Nhà máy xi măng Hạ Long
8,017 tỷ đồng (Đồng BH, PVI: 18,6%)
Công ty cổ phần xi măng Hạ Long
15 Dự án Thuỷ điện Đồng
26,282 tỷ đồng (Đồng BH, PVI: 25%)
Ban quản lý dự án Thủy điện 6 – Tập đoàn điện lực Việt Nam
Lâm - Dự án xây dựng cầu Thanh Trì và đoạn phía Nam vành đai 3
2,374 tỷ đồng 624,894 tỷ đồng Ban Quản lý dự án
(Nguồn: Ban Kế hoạch và Phát triển kinh doanh - PVI)
Kinh doanh tái b ảo hiểm
2.2.3.1 Nhượng TBH và thu hồi bồi thường
Việc thu xếp bảo hiểm (TBH) đóng vai trò quan trọng trong các ngành công nghiệp và công trình lớn có độ rủi ro cao, nhằm đảm bảo phân tán rủi ro và an toàn cho công ty bảo hiểm Trong những năm qua, PVI đã nâng cao quản lý TBH theo quy trình ISO và từng bước tin học hóa công tác thống kê đơn Việc xây dựng hợp đồng TBH cố định tốt hơn đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị khai thác dịch vụ Đặc biệt, hợp đồng hàng hải đã bỏ giới hạn tuổi tàu, cho phép cấp đơn cho tàu trên 20 tuổi một cách linh hoạt Ngoài hợp đồng cố định chính, PVI còn thu xếp thêm hợp đồng mức dôi với Vinare để tăng cường năng lực TBH và xử lý các đơn có điều kiện đặc biệt Các đơn tái tạm thời cũng được thu xếp kịp thời, đảm bảo cấp đơn đúng hạn.
Việc thu hồi bồi thường tại PVI đang diễn ra tích cực, song song với sự tăng trưởng doanh thu chung Tuy nhiên, số vụ tổn thất gia tăng cả về số lượng lẫn mức độ, và phần lớn các khoản bồi thường chưa được thu hồi chủ yếu là từ các vụ phát sinh mới.
PVI coi việc nhận tái bảo hiểm (TBH) là rất quan trọng trong việc mở rộng kinh doanh và tăng tỉ trọng giữ lại Kể từ năm 2005, công tác nhận TBH đã có sự phát triển mạnh mẽ, mang lại lợi nhuận đáng kể cho công ty, đặc biệt là từ việc nhận TBH ở nước ngoài, nơi thị trường bảo hiểm ổn định và không có cạnh tranh thiếu lành mạnh Hoạt động này đã đi vào chiều sâu, cung cấp các dịch vụ chuyên nghiệp và hiệu quả.
Tất cả 36 nhận tái bảo hiểm đều trải qua quy trình đánh giá rủi ro kỹ lưỡng trước khi được chấp nhận và khai thác hiệu quả PVI chủ động khai thác các hợp đồng cố định từ các công ty bảo hiểm trong nước như PJICO và PTI.
VIA, Đây thực sự là hoạt động kinh doanh sinh lời mà PVI cần phát triển trong các năm tiếp theo.
Công tác giám định bồi thường
Với sự gia tăng đáng kể về doanh thu, PVI đã chú trọng đến công tác giám định bồi thường nhằm nâng cao uy tín và hiệu quả trong kinh doanh.
PVI cam kết giải quyết nhanh chóng và chính xác các khiếu nại của khách hàng, tuân thủ quy trình ISO, các điều kiện, điều khoản và pháp luật hiện hành.
Một số vụ tổn thất lớn đã được giải quyết dứt điểm, bao gồm bồi thường cho vụ chìm tàu Mimosa với 2 triệu USD, vụ rò rỉ đường ống khí mỏ Bạch Hổ với 14 triệu USD, và vụ FPSO Ba Vì – monobuoy trị giá 6,8 tỷ đồng Ngoài ra, còn có vụ cháy khoang mũi tàu Ba Vì với 5,6 tỷ đồng và hỏng trụ trung gian tàu Phong Lan.
PVI đã nhanh chóng và hiệu quả giải quyết một số vụ tổn thất lớn cho khách hàng ngoài ngành, bao gồm: bồi thường 10,4 tỉ đồng cho tàu Long Xuyên mắc cạn tại Pohang, 10 tỉ đồng cho vụ chìm tàu Bạch Đằng Giang, 3 tỉ đồng cho sự cố máy chính tàu Apollo Pacific tại Singapore, 2,4 tỉ đồng cho tổn thất tàu Long An của Vitranschart, và các sự cố khác như tàu An Giang 06 mắc cạn tại cảng Đà Nẵng.
Tổng số vụ bồi thường đã được giải quyết là 2.610 vụ, bao gồm cả một số vụ phát sinh từ năm trước, với tổng số tiền bồi thường lên tới 144 tỷ đồng Tỷ lệ bồi thường thực tế so với doanh thu bảo hiểm gốc đạt 20,53%, và tỷ lệ bồi thường của các nghiệp vụ đều thấp hơn mức bồi thường bình quân của thị trường.
Để thúc đẩy sự phát triển kinh doanh, công tác giám định bồi thường cần được triển khai một cách bài bản và thống nhất từ Tổng Công ty đến các chi nhánh và tổng đại lý của các chi nhánh.
Ho ạt động đầu tư tài chính
PVI đã thực hiện kế hoạch dòng tiền một cách khoa học theo quy trình ISO trong quản lý đầu tư tài chính, tối ưu hóa việc sử dụng tiền nhàn rỗi và huy động tối đa nguồn vốn cho đầu tư Đồng thời, công ty vẫn đảm bảo nhu cầu chi tiêu thường xuyên của các đơn vị trong Tổng Công ty Nhờ vào chiến lược này, PVI đã thu được lãi suất đáng kể từ các nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi, bên cạnh các khoản cố định như quỹ dự phòng nghiệp vụ và vốn kinh doanh.
PVI đã thực hiện nhiều dự án đầu tư hiệu quả, bao gồm Dự án cáp treo chùa Hương, góp vốn vào Habubank và một số công ty do PVN thành lập Ngoài ra, PVI còn tài trợ vốn cho Vosco để mua tàu Dionisos và thu xếp vay vốn cho dự án đầu tư tàu FSO của KNOC Hiện tại, PVI đang tích cực triển khai dự án khu Đào tạo – An dưỡng – Du lịch Dầu khí tại Suối Hai theo giao nhiệm vụ từ PVN.
PVI thường xuyên theo dõi biến động thị trường chứng khoán để lựa chọn danh mục cổ phiếu đầu tư hợp lý và thực hiện giao dịch kỳ hạn trái phiếu chính phủ, bước đầu mang lại hiệu quả Tuy nhiên, năm 2007 và đặc biệt năm 2008, thị trường tiền tệ trong nước biến động mạnh, giá vàng tăng đột biến vào cuối năm đã ảnh hưởng đến đầu tư tiền gửi bằng USD Đồng thời, thị trường chứng khoán trong nước và thế giới liên tục giảm giá, dẫn đến kết quả kinh doanh không khả quan.
Trong những năm qua, hoạt động đầu tư tài chính bên cạnh kinh doanh bảo hiểm (ngoại trừ chứng khoán) đã đạt hiệu quả cao Các quỹ dự phòng và nguồn tiền nhàn rỗi được đầu tư vào các dự án hiệu quả trong ngành, mang lại lợi nhuận lớn cho PVI Quá trình đầu tư đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quan trọng trong thẩm định khách hàng, thẩm định dự án, thu xếp nguồn vốn và phối hợp với các đơn vị để chủ động nguồn tiền, như đòi bồi thường tái bảo hiểm và thu phí bảo hiểm.
Phân tích hi ệu quả hoạt động kinh doanh của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm
Phân tích hi ệu quả kinh doanh chung của PVI
2.3.1.1 Phân tích kết quả kinh doanh của Tổng công ty năm 2007 – 2009
Bảng 2.3 - So sánh sự gia tăng về doanh thu, chi phí và lợi nhuận ĐVT:Triệu đồng
Theo báo cáo tài chính đã kiểm toán từ 2007-2009, PVI được miễn thuế TNDN trong 2 năm đầu và giảm 50% thuế TNDN trong 2 năm tiếp theo, theo quy định tại Thông tư số 134/TT-BTC ngày 23 tháng 11 năm 2007 (được thay thế bởi Thông tư số 130/2008/TT-BTC) Năm 2007 đánh dấu năm đầu tiên PVI chuyển đổi sang mô hình Công ty cổ phần, do đó được áp dụng chính sách ưu đãi thuế này.
Qua bảng 2.3 ta có thể rút ra các nhận xét sau:
Phí bảo hiểm gốc đã tăng trưởng nhanh chóng qua các năm, với tỷ lệ tăng 1,38 lần trong năm 2009 so với năm 2008, và năm 2008 cũng đã tăng 1,27 lần so với năm 2007.
Tốc độ tăng trưởng doanh thu thuần từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã liên tục đạt trên 150% so với năm trước trong suốt các năm Cụ thể, năm 2009 ghi nhận mức tăng trưởng 150% so với năm 2008.
Năm 2008, chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm tăng nhanh, tương ứng với sự gia tăng doanh thu thuần từ hoạt động này Đặc biệt, vào năm 2009, sự tăng trưởng này tiếp tục được ghi nhận, cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa chi phí và doanh thu trong ngành bảo hiểm.
1 Phí bảo hiểm gốc + nhận tái bảo hiểm 1,685,178 2,146,513 2,968,776 138.30% 127.38%
2 Doanh thu thuần từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm 502,961 838,392 1,261,970 150.52% 166.69%
3 Tổng chi phí kinh doanh 450,464 833,167 1,242,700 149.15% 184.96%
4 Lợi nhuận gộp từ HĐ KD
5 Doanh thu hoạt động tài chính 284,243 504,743 475,754
6 Chi phí hoạt động tài chính 86,686 338,267 275,642
7 Lợi nhuận từ HĐ tài chính 197,557 166,476 200,112 120.20% 84.27%
11 Nộp ngân sách Nhà nước 128,275 134,581 233,642 173.64% 104.92%
Trong đó: Thuế VAT phải nộp 128,275 134,581 212,598
Trong năm 2008, thuế TNDN đạt 0 với doanh thu 233,642, tăng 150% so với năm trước Lợi nhuận năm 2009 tăng 14 tỷ so với năm 2008, tương đương mức tăng 368% Tuy nhiên, so với năm 2007, tốc độ tăng doanh thu lại thấp hơn tốc độ tăng chi phí, dẫn đến lợi nhuận của năm 2008 và 2009 thấp hơn nhiều so với năm 2007.
Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư tài chính năm 2008 chỉ đạt 84% so với năm 2007, chủ yếu do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhưng với con số 166 tỷ đồng, đây vẫn là kết quả khả quan cho các cổ đông của PVI Sang năm 2009, lợi nhuận đầu tư tài chính tăng lên 200 tỷ đồng, tương đương mức tăng 120% so với năm trước, cho thấy hoạt động đầu tư đã phục hồi và lấy lại đà tăng trưởng Các hình thức đầu tư chủ yếu bao gồm gửi tiền vào tổ chức tín dụng, ủy thác đầu tư qua các tổ chức tài chính và tài trợ vốn cho các dự án trong ngành Dầu khí như hợp đồng hợp tác kinh doanh đầu tư mua tàu chở dầu FPSO và công trình khí nén cao áp.
Năm 2006 là năm bản lề trong việc đánh giá tài sản và chuẩn bị cổ phần hóa, dẫn đến việc các khoản chi phí bảo hiểm được ghi nhận trong năm này, giúp giảm bớt chi phí cho năm 2007 Tốc độ tăng chi phí qua các năm rất cao, đặc biệt năm 2008 đã tăng 184% so với năm 2007, nhanh hơn cả tốc độ tăng phí bảo hiểm gốc và doanh thu thuần Nguyên nhân là do công ty mở rộng kinh doanh sang các lĩnh vực ngoài ngành, nhưng vẫn duy trì được nhịp độ tăng trưởng và hoạt động kinh doanh hiệu quả.
Tổng lợi nhuận sau thuế đã có sự tăng trưởng qua các năm Cụ thể, năm 2008 so với năm 2007, tổng lợi nhuận sau thuế giảm 80 tỷ đồng.
2006 PVI đã trích trước khoản phí bảo hiểm phải trả của năm 2007 và Doanh thu năm
Năm 2007, PVI ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ nhờ mở rộng các dịch vụ bảo hiểm Mặc dù lợi nhuận sau thuế giảm trong năm 2008, công ty vẫn duy trì được mức phát triển ổn định Đến năm 2009, lợi nhuận sau thuế đạt 200 tỷ đồng, thấp hơn so với năm 2007, nhưng PVI đã khôi phục đà tăng trưởng nhờ vào một số dự án đầu tư chuyển sang giai đoạn hoạt động Sự tăng trưởng của PVI cũng góp phần làm tăng nộp ngân sách năm sau cao hơn năm trước.
Năm 2005, tổng nguồn vốn chủ sở hữu của PVI đạt 149 tỷ đồng, cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ không chỉ về doanh thu và lợi nhuận mà còn về nguồn vốn chủ sở hữu.
2006 tổng nguồn vốn CSH thể hiện trên bảng cân đối kế toán là 447 tỷ đồng, năm
2007 là 890 tỷ đồng, năm 2009 là 1.035 tỷ đồng Ta có thể thấy mức độ tăng trưởng nguồn vốn CSH thông qua biểu đồ 2.2:
Biểu đồ 2.3: Tình hình tăng trưởng nguồn vốn CSH của PVI
( Nguồn : Báo cáo Tài chính đã kiểm toán từ 2005- 2008)
2.3.1.2 Một số chỉ tiêu khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp
Bảng 2.4 - Khả năng thanh toán của PVI từ năm 2007 đến 2009
Khả năng thanh toán hiện hành 1.59 1.81 1.68 114,02 92.92 106 Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn 1.59 1.81 1.68 114,02 92.92 106
Khả năng thanh toán nhanh 0.5 0.42 0.57 85.26 134.3
(Nguồn: Báo cáo tài chính đã kiểm toán từ 2007 - 2009)
Kết quả tính toán cho thấy khả năng thanh toán của công ty ở mức khá tốt, với các chỉ số khả năng thanh toán hiện hành và khả năng thanh toán nhanh đều đạt yêu cầu.
Tû ® thanh toán nợ ngắn hạn bằng nhau là do PVI không có khoản nợ dài hạn nào Năm
Năm 2007, chỉ số thanh toán của PVI cho thấy khả năng thanh toán khá tốt Tuy nhiên, đến năm 2008, các chỉ số này có sự thay đổi trái ngược; trong khi chỉ số khả năng thanh toán hiện hành và thanh toán nợ ngắn hạn tăng cao hơn so với năm trước.
Năm 2007, PVI thể hiện khả năng trả nợ tốt hơn, nhưng chỉ số Khả năng thanh toán nhanh lại giảm Nguyên nhân là do năm 2008, PVI chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, dẫn đến tiền và các khoản tương đương tiền tại quỹ giảm đáng kể, trong khi các khoản phải thu tăng lên Tuy nhiên, các chỉ số vẫn cho thấy khả năng thanh toán của PVI rất tốt.
- Khả năng thanh toán hiện hành năm 2007 là 1.59; năm 2008 là 1.81 và năm
2009 là 1.68, điều này cho thấy năm 2007; 2008 và năm 2009 PVI có lần lượt là 1.59 đồng ; 1.81 và 1.68 đồng tài sản lưu động đảm bảo cho 1 đồng nợ
- Khả năng thanh toán nhanh năm 2007 là 0.5, năm 2008 là 0.42 và năm 2009 là 0.57
Bảng 2.5 Tỷ suất sinh lời của PVI 2007 đến 2009
Chỉ tiêu Năm So sánh
1 Tỷ suất lợi nhuận/doanh thu:
- Tỷ suất LN trước thuế/DT 49.72 20.48 17.38 -29.24 -32.33 -3.10
- Tỷ suất LN sau thuế/DT 49.72 20.48 15.71 -29.24 -34 -4.76
2 Tỷ suất lợi nhuận/tổng tài sản:
- Tỷ suất LN trước thuế/tổng TS 5.53 3.49 3.70 -2.04 -1.83 0.21
- Tỷ suất LN sau thuế/tổng TS 5.53 3.49 3.35 -2.04 -2.18 -0.14
3 Tỷ suất lợi nhuận/nguồn vốn CSH 14.25 7.50 9.04 -6.75 -5.21 1.54
(Nguồn: Báo cáo tài chính đã kiểm toán từ 2007 - 2009)
Kết quả tính toán cho thấy các chỉ số năm 2007 cao do PVI đã trích trước một phần chi phí của năm 2006.
- Về tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu:
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên doanh thu năm 2008 so với năm 2007 giảm 29%; năm 2009 so với năm 2008 giảm 3% Còn năm 2009 so với năm 2007 giảm 32%
Tương tự như trên, Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu năm 2008 so với năm
2007 giảm 29%, năm 2009 so với năm 2007 giảm 34% Còn năm 2009 so với năm
- Về tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản:
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên tổng tài sản năm 2008 so với năm 2007 giảm 2.04%; năm 2009 so với năm 2007 giảm 1.83%; còn năm 2009 so với năm 2008 tăng 0.21%
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản năm 2008 so với năm 2060 giảm 2.04%; năm 2009 so với năm 2007 giảm 2.18%, còn năm 2009 so với năm 2008 giảm 0.14%
- Về tỷ suất lợi nhuận trên nguồn vốn chủ sở hữu:
Tỷ suất lợi nhuận trên nguồn vốn chủ sở hữu năm 2008 so với năm 2007 giảm 6.75%; năm 2009 so với năm 2007 giảm 5.22 %; còn năm 2009 so với năm 2008 tăng 1.53%
Nguyên nhân giảm sút lợi nhuận của PVI có thể được lý giải bởi việc trích trước một phần chi phí năm 2007 vào năm 2006, cùng với việc nâng vốn điều lệ và mở rộng hoạt động trong các năm 2008 và 2009, dẫn đến tỷ suất lợi nhuận thấp hơn so với năm 2007 Mặc dù vậy, lợi nhuận trước thuế của PVI vẫn duy trì trên 160 tỷ đồng và tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên doanh thu đạt hơn 17%, điều này được coi là chấp nhận được trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu và Việt Nam đang đối mặt với suy thoái.
Phân tích hi ệu quả kinh doanh của từng loại hình bảo hiểm
Để đánh giá hiệu quả kinh doanh của các nghiệp vụ bảo hiểm, hàng năm PVI thống kê chi tiết phí bảo hiểm và số tiền bồi thường theo từng nghiệp vụ dựa trên tỷ lệ bồi thường trên phí bảo hiểm Điều này giúp xác định hiệu quả kinh doanh của từng loại bảo hiểm trong năm và định hướng khai thác cho các năm tiếp theo Tỷ lệ bồi thường trên phí bảo hiểm được đánh giá khác nhau cho từng nghiệp vụ; ví dụ, với bảo hiểm con người và xe cơ giới, tỷ lệ 60% được coi là hiệu quả, trong khi đối với bảo hiểm thân tàu, P&I, hàng hóa và tài sản, tỷ lệ dưới 70% được đánh giá là tốt Đặc biệt, đối với bảo hiểm dầu khí, ngay cả khi tỷ lệ bồi thường lên tới 100%, vẫn được xem là hiệu quả do quy trình giải quyết bồi thường thường kéo dài nhiều năm và số lượng đơn vị rủi ro được bảo hiểm ít nhưng phí bảo hiểm cao.
Bảng 2.7.Hiệu quả kinh doanh theo nghiệp vụ Đơn vị tính: triệu đồng
Doanh thu thuần từ kinh doanh bảo hiểm
Chi bồi thường bảo hiểm Tỷ lệ bồi thường/Doanh thu
- Bảo hiểm thân tầu và P&I 33,316 126,063 176.772 9,009 58,392 58.623 27.04 46.32 33.16
- Bảo hiểm xe cơ giới 223,685 343,560 532.642 135,150 244,748 256.755 60.42 71.24 48.20
- Bảo hiểm xây dựng lắp đặt 64,343 64,280 124.730 20,667 20,287 15.813 32.12 31.56 12.68
- Bảo hiểm cháy tài sản 12,367 27,200 123.001 1,238 5,804 26.401 10.01 21.34 21.46
(Nguồn: Báo cáo tài chính đã kiểm toán từ 2007 - 2009)
Trong giai đoạn 2007-2008, doanh thu bảo hiểm của PVI chủ yếu đến từ nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới, chiếm gần 50% tổng phí bảo hiểm, nhưng hiệu quả hoạt động không cao do tỷ lệ bồi thường lên tới 60% và 71%, cùng với chi phí gián tiếp cao Đến năm 2009, tỷ lệ bồi thường của nghiệp vụ này đã giảm, nâng cao hiệu quả hoạt động của PVI Các dự án bảo hiểm do PVI thu xếp đạt hiệu quả kinh tế cao nhờ vào việc đàm phán thành công mức phí và các chương trình tái bảo hiểm hợp lý Đồng thời, sự phối hợp giữa các phòng ban, đặc biệt là Ban Bảo hiểm năng lượng, đã giúp đánh giá lại rủi ro và điều chỉnh tỷ lệ giữ lại của PVI, từ đó tăng lợi nhuận cho Tổng Công ty.
Nghiệp vụ bảo hiểm dầu khí mang lại hiệu quả kinh doanh cao với tỷ lệ bồi thường trên phí bảo hiểm gốc thấp, chỉ 22.53% vào năm 2007 và 14% vào năm 2009, cho thấy công tác đánh giá rủi ro được thực hiện tốt Tuy nhiên, PVI cần xem xét lại phí nhượng tái bảo hiểm vì doanh thu từ loại hình bảo hiểm này rất cao, gần 800 tỷ đồng Do việc đánh giá và hạn chế rủi ro hoạt động, PVI đã phải nhượng gần hết doanh thu cho các đơn vị tái bảo hiểm.
Nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu và P&I chiếm khoảng 15% doanh thu bảo hiểm, với tỷ lệ bồi thường trên phí bảo hiểm gốc thấp Sự tăng trưởng này đến từ việc PVI đã mở rộng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực hàng hải ra các đội tàu ngoài ngành trong những năm qua.
PVI đã đạt được những kết quả khả quan trong các nghiệp vụ bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm con người và hàng hóa, với sự chú trọng đáng kể đến bảo hiểm xe cơ giới Mặc dù phí bảo hiểm gốc của nghiệp vụ này vẫn tăng trưởng ổn định, nhưng vẫn chưa phản ánh đúng tiềm năng của thị trường so với các công ty bảo hiểm khác Để phát triển doanh thu bảo hiểm xe cơ giới phù hợp với tiềm năng và điều kiện kinh doanh trong những năm tới, PVI cần nâng cao cả số lượng và chất lượng hệ thống đại lý bảo hiểm.
Tai lieu, luan van55 of 102.
Phân tích hi ệu quả hoạt động Đầu tư tài chính
Để nâng cao hiệu quả đầu tư, PVI đã thành lập Ban đầu tư tài chính, tập trung vào việc quản lý và phát triển hoạt động đầu tư vốn của công ty.
Việc thành lập Ban Đầu tư tài chính đã chuyên môn hóa công tác tổ chức hoạt động đầu tư tài chính của PVI Các biện pháp quản lý và phối hợp giữa các Phòng Ban trong Tổng Công ty được thực hiện theo quy trình quản lý đầu tư tài chính, tuân thủ hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000.
Bảng 2.8 Phân bổ vốn đầu tư giai đoạn 2007 - 2009
(Đơn vị tính: Triệu đồng)
Loại hình đầu tư Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
2 Hợp đồng mua và cam kết bán lại chứng khoán 154,764 351,948
3 Tiền gửi có kỳ hạn tại TCTD 1,409,200 765,000 1,425,000
4 Uỷ thác đầu tư ngắn hạn 522,000 1,209,000 150,000
7 Dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán (12,904) (31,900) (23,200)
II Đầu tư dài hạn 405,914 905,077 854,783
5 Tiền gửi có kỳ hạn tại các TCTD 32,000 -
6 Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn (17,016) (4.657)
III Đầu tư vào các công ty liên kết 125.400 156.367 406.697
1 Công ty CP Đầu tư và Phát triển PVI 41.400 72.367 72.367
2 Cty CP Đầu tư tài chính Bảo hiểm
3 Cty CP Truyền thông dầu khí - - 21.580
4 Cty CP Chứng khoán dầu khí 228.750
(Nguồn: Báo cáo đầu tư năm 2007 - 2009)
Hoạt động đầu tư của PVI rất đa dạng, bao gồm đầu tư chứng khoán ngắn hạn, đầu tư ủy thác, trái phiếu, gửi có kỳ hạn tại các TCTD, và đầu tư vào các công ty liên kết Đặc biệt, PVI đã trích lập các quỹ dự phòng giảm giá đầu tư tài chính theo quy định pháp luật để ổn định nguồn vốn trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu Tuy nhiên, vốn đầu tư vào tiền gửi vẫn chiếm tỷ trọng lớn do loại hình này có rủi ro thấp và tính thanh khoản cao, giúp đáp ứng nhu cầu chi trả thường xuyên, mặc dù lợi nhuận không cao, dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn không tối ưu.
Cơ cấu vốn đầu tư hiện nay rất đa dạng với sự xuất hiện ngày càng nhiều loại tài sản tài chính Sự đa dạng này không chỉ nâng cao độ an toàn trong đầu tư mà còn đảm bảo khả năng thanh toán cho PVI.
Bảng 2.9 Tỷ suất lợi nhuận đầu tư
Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Tổng nguồn vốn đầu tư Triệu đồng 2.704.284 3.322.180 3.400.359 Doanh thu hoạt động tài chính Triệu đồng 284,243 511.140 496.842
Chi phí hoạt động tài chính Triệu đồng 86,686 338,267 275.641 Lợi nhuận đầu tư Triệu đồng 197,557 172.873 221.201
Tỷ suất lợi nhuận đầu tư % 7.31% 5.20% 6.51%
(Nguồn: Báo cáo đầu tư năm 2007 - 2009)
Tỷ suất lợi nhuận đầu tư của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam trong các năm đều dương, cho thấy công ty đã bảo toàn được vốn đầu tư một cách hiệu quả.
Từ năm 2007 đến 2009, tổng vốn đầu tư của PVI tăng mạnh từ 2.700 tỷ lên 3.400 tỷ Tỷ suất lợi nhuận năm 2009 đạt 6,51%, cao hơn năm 2008 nhưng thấp hơn năm 2007 (7,31%) Nguyên nhân chủ yếu là do PVI tập trung đầu tư vào các công ty liên kết và các khoản đầu tư dài hạn chưa mang lại sản phẩm, dẫn đến lợi nhuận thấp Dù vậy, lợi nhuận từ đầu tư tài chính vẫn là nguồn thu lớn của PVI.
Tai lieu, luan van57 of 102.
PVI đã ghi nhận sự tăng trưởng ấn tượng trong doanh thu hoạt động tài chính, với doanh thu đạt 285 tỷ đồng vào năm 2007, tăng lên 511 tỷ đồng vào năm 2008 và đạt 496 tỷ đồng vào năm 2009 Sự phát triển này phản ánh tiềm năng mạnh mẽ của PVI trong lĩnh vực tài chính.
PVI cần phải khai thác tốt hơn nữa nguồn vốn nhàn rỗi nhằm đạt hiệu quả cao nhất và mức lợi nhuận tối ưu.