Cơ sở lý luận về công tác kiểm toán khoản mục tài sản cố định hữu hình trong kiểm toán Báo cáo tài chính
Khái quát về TSCĐ hữu hình
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm TSCĐ hữu hình
1.1.1.1 Khái niệm TSCĐ hữu hình
Theo thông tư 45/2013/TT-BTC ngày 25 tháng 4 năm 2013 một nguồn lực của doanh nghiệp được coi là TSCĐ hữu hình phải thỏa mãn đồng thời cả 4 tiêu chuẩn sau:
Việc sử dụng tài sản một cách hiệu quả chắc chắn sẽ mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp Những lợi ích này được thể hiện qua việc tăng doanh thu, tiết kiệm chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ khi doanh nghiệp kiểm soát và khai thác tài sản đó.
Nguyên giá tài sản cố định cần được xác định một cách đáng tin cậy, yêu cầu rằng để ghi nhận một tài sản là tài sản cố định, phải có cơ sở khách quan để xác định giá trị ban đầu của nó.
Thời gian sử dụng ước tính cho tài sản cố định (TSCĐ) là trên 1 năm, điều này cụ thể hóa tiêu chuẩn đầu tiên của TSCĐ Lợi ích kinh tế từ việc sử dụng TSCĐ không chỉ diễn ra trong một năm tài chính mà kéo dài ít nhất hai năm.
Theo Điều 3 chương II của thông tư 45/2013/TT-BTC, tài sản cố định hữu hình phải có giá trị tối thiểu 30.000.000 đồng để đáp ứng tiêu chuẩn theo quy định hiện hành, bắt đầu áp dụng từ năm tài chính 2013.
TSCĐ hữu hình là phần quan trọng trong tổng tài sản của doanh nghiệp, ảnh hưởng lớn đến tình hình tài chính Việc phân loại tài sản này là TSCĐ hữu hình hay chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ sẽ tác động đáng kể đến báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
1.1.1.2 Đặc điểm TSCĐ Hữu hình
Về mặt hiện vật, sản phẩm tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu cho đến khi bị hư hỏng và cần phải loại bỏ.
Về mặt giá trị: Tài sản cố định được biểu hiện dưới hai hình thái:
Một phần giá trị của tài sản cố định (TSCĐ) tồn tại dưới dạng nguyên trạng gắn liền với hiện vật Khi sản phẩm được tạo ra, một phần giá trị của TSCĐ sẽ được chuyển vào sản phẩm và sẽ chuyển hóa thành tiền khi sản phẩm được bán ra.
Trong quá trình sản xuất, tài sản cố định (TSCĐ) không thay đổi hình thái hiện vật nhưng giảm dần công suất và giá trị sử dụng do hao mòn Giá trị hao mòn này được chuyển vào giá trị sản phẩm và được gọi là trích khấu hao cơ bản TSCĐ cũng được coi là hàng hoá thông thường, có thể chuyển nhượng quyền sở hữu và quyền sử dụng giữa các chủ thể trên thị trường tư liệu sản xuất.
Do cấu trúc phức tạp với nhiều bộ phận và mức độ hao mòn không đồng đều, trong quá trình sử dụng, tài sản cố định (TSCĐ) có thể gặp phải hư hỏng ở từng bộ phận.
1.1.2 Phân loại TSCĐ hữu hình
Doanh nghiệp có nhiều loại TSCĐ với các hình thái, tính chất đầu tư và công dụng khác nhau Để quản lý và hạch toán TSCĐ hiệu quả, cần phân loại TSCĐ theo các tiêu chí như quyền sở hữu, nguồn hình thành và hình thái biểu hiện Mỗi phương pháp phân loại sẽ hỗ trợ khác nhau trong công tác hạch toán và quản lý TSCĐ.
TSCĐ trong doanh nghiệp được chia thành TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình
TSCĐ hữu hình là những TSCĐ có hình thái vật chất và được chia thành các nhóm sau:
Loại 1: Nhà cửa, vật kiến trúc: là TSCĐ của doanh nghiệp được hình thành sau quá trình thi công xây dựng như trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước, sân bãi, các công trình trang trí cho nhà cửa, đường xá, cầu cống, đường sắt, đường băng sân bay, cầu tàu, cầu cảng
Loại 2: Máy móc, thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, giàn khoan trong lĩnh vực dầu khí, cần cẩu, dây chuyền công nghệ, những máy móc đơn lẻ…
Loại 3: Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phương tiện vận tải gồm phương tiện vận tải đường sắt, đường thuỷ, đường bộ, đườngkhông, đường ống và các thiết bị truyền dẫn như hệ thống thông tin, hệ thống điện, đường ống nước, băng tải,…
Loại 4: Thiết bị, dụng cụ quản lý: là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy vi tính phục vụ quản lý, thiết bị điện tử, thiết bị, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng, máy hút ẩm, hút bụi, chống mối mọt.…
Loại 5: Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và/hoặc cho sản phẩm: là các vườn cây lâu năm như vườn cà phê, vườn chè, vườn cao su, vườn cây ăn quả, thảm cỏ, thảm cây xanh ; súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm như đàn voi, đàn ngựa, đàn trâu, đàn bò…
Loại 6: Các loại TSCĐ khác: là toàn bộ các TSCĐ khác chưa liệt kê vào năm loại trên như tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật
1.1.3 Công tác quản lý TSCĐ hữu hình
Nội dung công tác kiểm toán TSCĐ hữu hình trong kiểm toán Báo cáo tài chính
1.2.1 Khái quát chung về kiểm toán Báo cáo tài chính
1.2.1.1 Khái niệm kiểm toán Báo cáo tài chính
Hiện nay, khái niệm "Kiểm toán báo cáo tài chính" được hiểu theo nhiều cách khác nhau Tuy nhiên, theo cách hiểu chung nhất, kiểm toán báo cáo tài chính là quá trình đánh giá và xác minh tính chính xác của các thông tin tài chính trong báo cáo.
Kiểm toán báo cáo tài chính là hoạt động của các kiểm toán viên độc lập, có năng lực thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán Mục tiêu của quá trình này là kiểm tra và báo cáo mức độ trung thực của báo cáo tài chính dựa trên các tiêu chuẩn đã được thiết lập.
1.2.1.2 Mục tiêu kiểm toán Báo cáo tài chính
Trong kiểm toán báo cáo tài chính, đối tượng kiểm toán bao gồm các tài liệu và số liệu kế toán như Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh báo cáo tài chính Những báo cáo này cung cấp thông tin tài chính quan trọng, phản ánh kết quả và hoạt động của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu giá trị, tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và lưu chuyển tiền tệ Thông tin này là cần thiết cho nhà quản lý, chính phủ, ngân hàng, nhà đầu tư, người bán và người mua để phân tích và đánh giá chính xác tình hình và kết quả kinh doanh của đơn vị.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200, mục tiêu của kiểm toán BCTC là:
Kiểm toán viên và công ty kiểm toán có nhiệm vụ xác nhận rằng báo cáo tài chính được lập dựa trên các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, tuân thủ các quy định pháp luật liên quan, đồng thời phản ánh trung thực và hợp lý các khía cạnh trọng yếu.
Kiểm toán báo cáo tài chính không chỉ nhằm mục đích đánh giá tính chính xác của thông tin tài chính mà còn giúp các đơn vị nhận diện và khắc phục những tồn tại, sai sót Qua đó, quy trình này góp phần nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị.
Các mục tiêu kiểm toán cụ thể:
Khi thực hiện kiểm toán, KTV cần xác minh tính chính xác và hợp lý của các ghi chép kế toán, đảm bảo rằng thông tin được cung cấp dựa trên các căn cứ hợp lý Việc này bao gồm việc xác định xem các nghiệp vụ phát sinh có thực sự xảy ra hay không, nhằm đảm bảo tính minh bạch và độ tin cậy của báo cáo tài chính.
KTV cần đảm bảo tính đầy đủ bằng cách kiểm tra tất cả các nghiệp vụ và sự kiện kinh tế phát sinh trong kỳ kế toán, xác nhận rằng chúng đã được ghi chép đầy đủ vào sổ sách và báo cáo kế toán.
Kỹ thuật viên kiểm toán (KTV) cần thực hiện việc đánh giá các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đã được ghi chép vào sổ sách và báo cáo kế toán để xác định tính chính xác của giá trị.
KTV cần xác minh tính hợp lý của việc phân loại các giao dịch đã được ghi nhận trong hệ thống tài khoản kế toán và báo cáo kế toán.
Kế toán viên (KTV) cần xác minh và kiểm định các sự kiện, nghiệp vụ phát sinh trong kỳ để đảm bảo rằng chúng được ghi chép và báo cáo đúng thời điểm phát sinh.
Khi thực hiện công việc cộng dồn và chuyển sổ, kiểm toán viên (KTV) cần xác minh rằng các giao dịch phát sinh được kế toán theo dõi và ghi chép liên tục Đồng thời, KTV cũng phải đảm bảo rằng việc cộng dồn và chuyển sổ được thực hiện đúng theo quy định hiện hành.
Kế toán viên (KTV) cần thực hiện kiểm tra để đảm bảo rằng tất cả các nghiệp vụ và giao dịch đều được ghi chép và báo cáo chính xác trên hệ thống sổ sách và báo cáo kế toán Ngoài ra, KTV cũng phải xác nhận tính hợp thức và hợp pháp của các sổ sách và báo cáo kế toán này.
1.2.2 Mục tiêu và căn cứ kiểm toán khoản mục Tài sản cố định hữu hình 1.2.1.1 Mục tiêu kiểm toán khoản mục Tài sản cố định hữu hình
Mục đích chung của kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC) là xác nhận độ tin cậy của các BCTC được kiểm toán Đối với kiểm toán tài sản cố định (TSCĐ), mục tiêu cụ thể là thu thập đầy đủ bằng chứng thích hợp để xác nhận độ tin cậy của thông tin tài chính liên quan, bao gồm nguyên giá, giá trị hao mòn và chi phí liên quan như chi phí khấu hao trong sản xuất kinh doanh Những thông tin này ảnh hưởng đến các chỉ tiêu lợi nhuận, chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh, được tổng hợp và trình bày trong báo cáo tài chính hàng năm của đơn vị Dựa trên mục đích kiểm toán TSCĐ hữu hình, các mục tiêu kiểm toán cụ thể sẽ được xác định cho các nghiệp vụ liên quan đến TSCĐ hữu hình.
- Sự phát sinh: Tất cả các nghiệp vụ TSCĐ hữu hình được ghi sổ trong kỳ là phát sinh thực tế, không có các nghiệp vụ ghi khống
Để đảm bảo các nghiệp vụ tài sản cố định (TSCĐ) được thực hiện chính xác, cần tính toán và đánh giá đúng theo các nguyên tắc và chế độ kế toán hiện hành, nhằm tránh sai sót trong quá trình ghi chép và báo cáo tài chính.
- Đầy đủ: các nghiệp vụ TSCĐ phát sinh trong kỳ đều được phản ánh, theo dõi đầy đủ trên các sổ kế toán
Các nghiệp vụ tài sản cố định (TSCĐ) phát sinh trong kỳ được phân loại chính xác theo quy định của các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, cùng với các quy định đặc thù của doanh nghiệp Những nghiệp vụ này được hạch toán đúng trình tự và phương pháp kế toán, đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong báo cáo tài chính.
- Đúng kỳ: các nghiệp vụ TSCĐ đều được hạch toán đúng kỳ phát sinh theo cơ sở dồn tích… Đối với số dư các Tài khoản TSCĐ hữu hình: