1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng đội ngũ công chức cấp xã thị trấn huyện nam đàn, tỉnh nghệ an

99 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Đội Ngũ Công Chức Cấp Xã, Thị Trấn Ở Huyện Nam Đàn, Tỉnh Nghệ An
Tác giả Nguyễn Thạc Âu
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Trung
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Chính trị học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,75 MB

Cấu trúc

  • A. MỞ ĐẦU (7)
  • B. NỘI DUNG (13)
  • Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC XÃ, THỊ TRẤN (13)
    • 1.1. Khái niệm, đặc điểm công chức hành chính (13)
    • 1.2. Nội dung xây dựng đội ngũ công chức cấp xã hiện nay (20)
    • 1.3. Tính tất yếu xây dựng đội ngũ công chức cấp xã hiện nay (29)
  • Chương 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN (36)
    • 2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội huyện và đội ngũ công chức cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An 35 2.2. Công tác xây dựng đội ngũ công chức cấp xã, thị trấn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 - 2017 (0)
  • Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN (70)
    • 3.1. Quan điểm nâng cao chất lƣợng xây dựng đội ngũ công chức cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (70)
    • 3.2. Giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng xây dựng đội ngũ công chức cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (75)
    • C. KẾT LUẬN (92)
    • D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO (94)

Nội dung

NỘI DUNG

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ

CÔNG CHỨC XÃ, THỊ TRẤN 1.1 Khái niệm, đặc điểm công chức hành chính

Khái niệm công chức (CC) ở Việt Nam bắt nguồn từ sự phát triển của nền hành chính nhà nước cách mạng, với Sắc lệnh số 76/SL ban hành ngày 22/5/1950 Quy chế CC nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, có hiệu lực từ ngày 1/5/1950 và được ký bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh, là văn bản pháp lý đầu tiên quy định về CC trong bộ máy hành chính Theo Điều 1, Chương 1 của Sắc lệnh 76/SL, công chức được định nghĩa là “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định.”

Trong thời kỳ đổi mới, yêu cầu về hoạt động công vụ của bộ máy hành chính ngày càng cao, đòi hỏi đội ngũ công chức (CC) phải có số lượng và chuyên môn cao hơn Điều này làm nổi bật vai trò quan trọng của công tác tuyển dụng CC Pháp lệnh công chức, được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa IX thông qua vào ngày 26/02/1998, quy định rõ ràng về đối tượng công chức Theo Điều 1, chương 1, công chức là công dân Việt Nam, thuộc biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm những người được bầu cử vào chức vụ theo nhiệm kỳ, những người được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm làm việc trong các tổ chức chính trị, và những người giữ công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo và ngành chuyên môn.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC XÃ, THỊ TRẤN

Khái niệm, đặc điểm công chức hành chính

Khái niệm Công chức (CC) ở Việt Nam ra đời cùng với sự phát triển của nền hành chính nhà nước cách mạng Sắc lệnh số 76/SL, ban hành ngày 22/5/1950, đã quy định về CC trong bộ máy hành chính Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, có hiệu lực từ ngày 1/5/1950 và được ký bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh Theo Điều 1, Chương 1 của Sắc lệnh 76/SL, CC được định nghĩa là “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là CC theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định.”

Trong bối cảnh đổi mới, nhu cầu về đội ngũ công chức (CC) ngày càng cao về số lượng và chuyên môn, làm cho việc tuyển dụng CC trở nên quan trọng Pháp lệnh CC, được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa IX thông qua vào ngày 26/02/1998, quy định rõ ràng về đối tượng công chức Theo Điều 1, chương 1, công chức là công dân Việt Nam, làm việc trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm những người được bầu cử vào các chức vụ trong cơ quan nhà nước, những người được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm làm việc trong tổ chức chính trị, cũng như các thẩm phán và kiểm sát viên Pháp lệnh cũng quy định về việc phân loại công chức theo trình độ đào tạo và ngành chuyên môn, nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả trong hoạt động công vụ.

Nghị định số 117/2003/NĐ-CP, ban hành ngày 10/10/2003, quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức trong các cơ quan nhà nước, nhằm cụ thể hóa Pháp lệnh công chức năm 1998 Nghị định này cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành đã làm rõ khái niệm và quy trình liên quan đến công chức.

CC được hiểu là công dân Việt Nam, làm việc trong các cơ quan nhà nước và nhận lương từ ngân sách nhà nước Tuy nhiên, vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa CC hành chính và CC sự nghiệp Nghị định quy định rằng CC là những người làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và lực lượng vũ trang, theo các điểm cụ thể trong Pháp lệnh CC.

2 Văn phòng Chủ tịch nước;

3 Các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

4 Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp;

5 Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài;

6 Đơn vị thuộc Quân đội Nhân dân và Công an Nhân dân;

7 Bộ máy giúp việc thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện” [3; tr.4]

Luật Cán bộ, CC của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010, định nghĩa CC là công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm vào các chức vụ trong cơ quan Đảng Cộng sản, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở các cấp trung ương, tỉnh, huyện, cũng như trong các cơ quan quân đội và công an không phải sĩ quan CC còn bao gồm những người làm việc trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập, nhận lương từ ngân sách nhà nước, với mức lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị đó theo quy định pháp luật.

Theo Luật Cán bộ, công chức, công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng vào vị trí chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, làm việc trong biên chế và nhận lương từ ngân sách nhà nước.

Theo quy định, công chức cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là công chức cấp xã) là công dân Việt Nam được tuyển dụng vào các chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã và nhận lương từ ngân sách nhà nước.

Tại khoản 3, Điều 61, Chương V của Luật Cán bộ, công chức quy định

CC cấp xã có các chức danh nhƣ sau:

Các cơ quan chính quyền địa phương bao gồm: Trưởng Công an, Chỉ huy trưởng Quân sự, Văn phòng - Thống kê, Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã), Tài chính - kế toán, Tư pháp - hộ tịch, và Văn hóa - xã hội.

CC cấp xã do cấp huyện quản lý” [40; tr.39-40]

Theo Từ điển Tiến Việt, "Đội ngũ" được định nghĩa với hai nghĩa: thứ nhất, là khối đông người được tổ chức thành một lực lượng có quy củ; thứ hai, là tập hợp những người có cùng chức năng hoặc nghề nghiệp.

Đội ngũ cán bộ được hiểu là một tập hợp những người có cùng chức năng hoặc nghề nghiệp, như đội ngũ chiến sỹ, giáo viên, y bác sỹ, cựu chiến binh và công chức Họ có nhiệm vụ và vai trò tương đồng, được tổ chức trong các đơn vị phù hợp, dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo thống nhất, với những tôn chỉ và mục đích hoạt động rõ ràng.

CC là cá nhân đảm nhận công tác nghiệp vụ chuyên môn hoặc giữ chức vụ được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm theo nhiệm kỳ trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội và hệ thống chính trị.

Đội ngũ CC bao gồm những cá nhân có chức năng và nhiệm vụ tương tự, tức là những người giữ chức vụ và thực hiện công tác nghiệp vụ chuyên môn Họ làm việc thường xuyên tại các cơ quan Nhà nước và các tổ chức chính trị, chính trị xã hội.

1.1.2 Đặc điểm công chức hành chính nhà nước

Công chức là thành phần quan trọng trong nền công vụ, có trách nhiệm thực thi công vụ và được nhà nước đảm bảo các điều kiện cần thiết cùng quyền lợi chính đáng Đội ngũ công chức hành chính nhà nước đóng vai trò thực thi pháp luật và phục vụ lợi ích chung của xã hội, là hạt nhân cơ bản đảm bảo cho nền công vụ hoạt động hiệu quả Họ thực hiện quyền lực nhà nước và lao động của họ mang tính chất quyền lực, khác biệt so với các loại hình lao động khác Công chức không chỉ được trao quyền thực thi công vụ mà còn có bổn phận phục vụ xã hội và công dân, đồng thời phải tuân thủ các ràng buộc liên quan đến chức trách của mình.

Công vụ là lao động đặc thù của công chức trong bộ máy nhà nước, thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước và thi hành pháp luật nhằm phục vụ nhân dân Công chức nhà nước thực hiện các công vụ, gánh vác nghĩa vụ đối với nhà nước và được trao quyền hạn nhất định để hoàn thành nhiệm vụ Trong quá trình thực hiện công vụ, công chức chỉ được hành động trong phạm vi quyền hạn được giao.

Hoạt động thi hành công vụ của công chức (CC) không trực tiếp sản xuất của cải vật chất, mà thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước, có ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng Những hoạt động này đóng góp quan trọng vào sự phát triển của quốc gia Để thực hiện công vụ, CC được cung cấp các điều kiện cần thiết như trụ sở và cơ sở vật chất, đồng thời được đảm bảo quyền lợi vật chất và tinh thần, bao gồm lương từ ngân sách nhà nước tương xứng với chức trách và nhiệm vụ được giao, với tính ổn định và lâu dài.

Nội dung xây dựng đội ngũ công chức cấp xã hiện nay

1.2.1 Xây dựng quy định tiêu chuẩn việc tuyển dụng công chức

Xây dựng đội ngũ công chức cấp xã nhằm tạo ra một lực lượng có số lượng và cơ cấu hợp lý, thông qua việc tinh giản biên chế một cách tối ưu Mục tiêu là đảm bảo đội ngũ gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả, trong đó mỗi công chức phát huy tối đa năng lực và sở trường, đáp ứng tốt nhiệm vụ được giao, góp phần vào sự hoạt động thông suốt và hiệu quả của bộ máy.

Để xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã vững mạnh, cần có lòng yêu nước sâu sắc và kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Cán bộ cần chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời quyết tâm thực hiện thành công đường lối đổi mới Họ phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao động trước khó khăn, thách thức, và biến động cả trong nước lẫn quốc tế Cán bộ cần đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, đồng thời thể hiện tinh thần trách nhiệm cao và gương mẫu trong công tác Đội ngũ này phải gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ của họ, sống trong sạch, lành mạnh, và không tham nhũng, lãng phí Ngoài phẩm chất chính trị và đạo đức, cán bộ cần có trình độ, năng lực tư duy lý luận, và khả năng tổ chức thực tiễn, hiểu biết về chức năng nhiệm vụ, chính sách của Đảng và Nhà nước, cũng như tình hình kinh tế - xã hội địa phương Họ cần có khả năng cụ thể hóa chủ trương, đường lối thành quyết định phù hợp, và tuyên truyền chính sách đến với nhân dân, đồng thời thể hiện tính sáng tạo, năng động, và khả năng thuyết phục để tập hợp quần chúng.

Việc xác định tiêu chuẩn và quy định tuyển dụng công chức cấp xã được quy định tại Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ Điều này có vai trò quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ công chức cấp xã, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương.

Tiêu chuẩn công chức (CC) thể hiện yêu cầu về phẩm chất và năng lực cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, và luôn được điều chỉnh phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cách mạng Đây là cơ sở để lựa chọn, bố trí, đánh giá và quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức Việc áp dụng tiêu chuẩn phù hợp giúp rà soát, đánh giá khách quan đội ngũ công chức hiện tại, loại bỏ những cá nhân không đủ tiêu chuẩn Đồng thời, dựa vào tiêu chuẩn, từng công chức sẽ có động lực phấn đấu hoàn thiện bản thân.

Lựa chọn và tuyển dụng cán bộ (CC) là hoạt động quan trọng của tổ chức nhằm tìm kiếm những ứng viên đáp ứng tiêu chuẩn về phẩm chất, trình độ và năng lực Mục tiêu là bố trí và sử dụng nguồn nhân lực hiệu quả, phục vụ yêu cầu nhiệm vụ của tổ chức, đồng thời củng cố và xây dựng tổ chức vững mạnh Việc đưa CC vào nguồn quy hoạch là biện pháp cần thiết để đảm bảo sự phát triển ổn định cho đội ngũ cán bộ, nâng cao tính chủ động và kế hoạch trong công tác cán bộ.

1.2.2 Xây dựng tiêu chí đánh giá công chức Đánh giá CC là việc hệ trọng, là khâu có ý nghĩa quyết định trong công tác cán bộ, là cơ sở để thực hiện các khâu khác trong công tác cán bộ Đánh giá đúng CC sẽ phát huy tiềm năng của từng người và cả đội ngũ Đánh giá không đúng, sẽ dẫn đến việc lựa chọn CC không đủ phẩm chất và năng lực bố trí vào những cương vị có trọng trách, dẫn đến hỏng người, hỏng việc, gây tổn thất cho địa phương Đánh giá CC là công việc hết sức khó khăn và nhạy cảm, sau đánh giá có thể xảy ra hai khuynh hướng khác nhau: một mặt nó làm cho CC phấn khởi, năng động, sáng tạo trong công tác; mặt khác nó gây ra sức ỳ, thiếu chí tiến thủ, bi quan, chán nản, thậm chí gây ra những hành vi vi phạm pháp luật Vì vậy, khi đánh giá CC cấp xã, thị trấn phải đảm bảo căn cứ, nguyên tắc, quy trình, thủ tục, thẩm quyền và trách nhiệm theo Nghị định 56/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về đánh giá và phân loại CC, viên chức

Để đánh giá và lựa chọn cán bộ cấp xã một cách chính xác, cần nắm vững tiêu chuẩn cán bộ do Trung ương và tỉnh quy định, đồng thời áp dụng vào từng địa phương cụ thể Việc lựa chọn phải hướng đến những người có đức, có tài, đủ phẩm chất và năng lực Đánh giá cán bộ cần được thực hiện trong môi trường và điều kiện cụ thể, xem xét toàn diện quá trình phát triển của họ, đồng thời đảm bảo tính dân chủ, khách quan và trung thực.

1.2.3 Xây dựng tiêu chuẩn quy hoạch công chức

Quy hoạch là yếu tố cần thiết cho mọi lĩnh vực trong xã hội, đặc biệt trong bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển và toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ Việc xác định phương hướng, kế hoạch phát triển dài hạn và nguồn lực phù hợp với thực tế khách quan sẽ đảm bảo cho quá trình phát triển diễn ra thuận lợi và hiệu quả cao.

Quy hoạch cán bộ là quá trình tổng thể nhằm thực hiện các chủ trương, biện pháp tạo nguồn cán bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý, dựa trên dự báo nhu cầu cán bộ để hoàn thành nhiệm vụ chính trị Việc xây dựng và thực hiện quy hoạch cán bộ hiệu quả sẽ khắc phục tình trạng thiếu hụt và chắp vá trong công tác cán bộ, đảm bảo sự phát triển liên tục và kế thừa của đội ngũ cán bộ, đồng thời giúp công tác cán bộ trở nên có hệ thống, có tầm nhìn xa, đáp ứng cả các nhiệm vụ trước mắt và lâu dài.

Quy hoạch cán bộ công chức cấp xã là một phần quan trọng trong công tác cán bộ tại địa phương, đóng vai trò nền tảng cho việc thực hiện các hoạt động như xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, và bố trí, sắp xếp, luân chuyển cán bộ Đồng thời, quy hoạch cũng xác định phương hướng và mục tiêu phấn đấu của từng công chức trong quy hoạch, cũng như những công chức khác có nguyện vọng được đưa vào quy hoạch.

Quy hoạch cán bộ, công chức cấp xã cần đảm bảo sự thống nhất giữa cấp ủy huyện và xã, đồng thời phải thể hiện tính dân chủ và phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của địa phương Quy trình thực hiện phải tuân thủ đúng các bước và phương châm “động” và “mở”, nhằm phục vụ hiệu quả cho nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Quy hoạch cán bộ, công chức có thể được thực hiện ngắn hạn trong một nhiệm kỳ 5 năm hoặc dài hạn từ 2 đến 3 nhiệm kỳ, và có thể được điều chỉnh hàng năm thông qua việc đánh giá cán bộ, công chức Trong quy hoạch ngắn hạn, cần chú trọng vào việc lựa chọn những đối tượng phù hợp để đưa vào quy hoạch nhằm đào tạo và bồi dưỡng hiệu quả.

CC lãnh đạo và quản lý trẻ cần ưu tiên cán bộ nữ, đồng thời quy hoạch cán bộ dài hạn phải chú trọng vào việc tạo nguồn CC có thành tích xuất sắc trong lao động và công tác Đặc biệt, sinh viên có thành tích học tập tốt và đạo đức vững vàng trong quá trình học tập cũng như tham gia công tác xã hội nên được xem xét.

1.2.4 Xác định nội dung, hình thức, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng công chức

Xã hội luôn phát triển, dẫn đến nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng kiến thức chuyên môn cho cán bộ ngày càng lớn Để hội nhập thành công, cần tự đào tạo và nâng cao kỹ năng, nhưng vấn đề quan trọng là xác định ai cần đào tạo, cách thức và phương pháp đào tạo hiệu quả Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ là tài sản quý giá của Đảng, do đó công tác đào tạo cần phải tính toán kỹ lưỡng để tránh lãng phí Hiện nay, tình trạng học để lấy bằng mà không biết áp dụng kiến thức vào công việc thực tế là một vấn đề nghiêm trọng, gây lãng phí nguồn lực và tiền bạc của nhân dân.

Tư tưởng bao cấp trong đào tạo cán bộ, công chức ở một số địa phương và ngành vẫn còn tồn tại, dẫn đến việc sử dụng ngân sách nhà nước cho đào tạo mà không chú trọng đến hiệu quả Điều này không chỉ sai lầm mà còn thể hiện sự thiếu trách nhiệm trong công tác bồi dưỡng và sử dụng nhân lực Hệ quả là tình trạng lãng phí trong đào tạo và quản lý cán bộ, công chức.

Tính tất yếu xây dựng đội ngũ công chức cấp xã hiện nay

1.3.1 Vị trí, vai trò của đội ngũ công chức cấp xã

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác cán bộ để xây dựng đội ngũ công chức vừa có phẩm chất đạo đức, vừa có chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc Ông nhấn mạnh rằng "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc," thể hiện tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ trong việc đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Thấm nhuần tư tưởng Mác - Lênin và Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ phù hợp với từng giai đoạn cách mạng, coi đây là yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam Đảng xác định cần có đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất và năng lực để xây dựng và thực hiện đường lối chính trị đúng đắn, đây là vấn đề cốt tử của lãnh đạo Trong công cuộc đổi mới và công nghiệp hoá, Đảng nhấn mạnh vai trò then chốt của cán bộ, khẳng định rằng cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng và đất nước Do đó, cần xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ, đặc biệt chú trọng đến các cấp chiến lược và cơ sở.

Vai trò của đội ngũ cán bộ công chức (CC) luôn quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay Cán bộ cấp xã giữ một vị trí then chốt, đóng góp vào sự phát triển và ổn định của cộng đồng Sự hiện diện và hoạt động hiệu quả của họ không chỉ tạo ra sự kết nối giữa chính quyền và người dân mà còn thúc đẩy các chương trình phát triển địa phương.

Cán bộ địa phương đóng vai trò quyết định trong việc triển khai hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước tại cơ sở Họ là những trụ cột quan trọng, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi hoạt động diễn ra trong cộng đồng.

CC cấp xã cần nắm vững đường lối và chính sách của Đảng, Nhà nước, đồng thời hiểu rõ đặc điểm và tình hình địa phương để tuyên truyền, phổ biến và tổ chức cho nhân dân thực hiện Việc này giúp đề ra nhiệm vụ và giải pháp cụ thể, phù hợp với điều kiện đặc thù của xã.

Đội ngũ cán bộ cấp xã đóng vai trò quan trọng trong việc gắn kết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Họ thường xuyên lắng nghe ý kiến của người dân và tạo cầu nối để triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Qua đó, họ giúp củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đồng thời biến các đường lối, chính sách thành hiện thực sống động trong cuộc sống hàng ngày Sự thành công của các chủ trương này phụ thuộc nhiều vào khả năng tuyên truyền và tổ chức vận động của đội ngũ cán bộ cấp xã.

Đội ngũ cán bộ (CC) cấp xã đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng và củng cố tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị cấp xã, đồng thời phát động và lãnh đạo phong trào cách mạng của nhân dân ở cơ sở Sự mạnh yếu của hệ thống chính trị và phong trào cách mạng gắn liền với vai trò của họ, là trụ cột tổ chức, tập hợp lực lượng và là linh hồn của các tổ chức trong hệ thống chính trị xã CC cấp xã là trung tâm đoàn kết, huy động mọi tiềm năng, nguồn lực địa phương, động viên nhân dân thi đua hoàn thành nhiệm vụ chính trị Họ có ảnh hưởng lớn đến năng lực lãnh đạo của đảng bộ xã, hiệu quả quản lý của chính quyền và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc cùng các đoàn thể xã Qua đó, đội ngũ CC cũng góp phần xây dựng và hoàn thiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, cũng như các chính sách cấp tỉnh, huyện tại địa phương.

Đội ngũ cán bộ cấp xã đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực cho cấp huyện và tỉnh Môi trường làm việc tại xã không chỉ là nơi rèn luyện và giáo dục cán bộ, mà còn tạo điều kiện cho họ phấn đấu, tu dưỡng và trưởng thành Qua các hoạt động tại xã, cán bộ tích lũy kinh nghiệm thực tiễn, nâng cao kiến thức, cải thiện năng lực lãnh đạo và quản lý, cũng như phát triển phương pháp và phong cách làm việc.

Cán bộ có kinh nghiệm làm việc ở cấp xã khi được luân chuyển về huyện hoặc tỉnh thường thể hiện sự vững vàng và bản lĩnh Họ thích ứng nhanh với nhiệm vụ mới và có khả năng hoàn thành tốt công việc được giao.

Xây dựng đội ngũ công chức của hệ thống chính trị cấp xã là một yếu tố then chốt trong việc thúc đẩy quá trình đổi mới Đội ngũ này không chỉ đảm bảo hiệu quả quản lý mà còn góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ công và đáp ứng nhu cầu của người dân Việc phát triển đội ngũ công chức sẽ tạo ra nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của chính quyền địa phương.

CC của hệ thống chính trị cấp xã đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị, đồng thời góp phần vào việc đạt được các chỉ tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Hệ thống này cũng đảm bảo an ninh - quốc phòng và thúc đẩy xây dựng Đảng cùng hệ thống chính trị của huyện và tỉnh.

1.3.2 Xây dựng đội ngũ công chức cấp xã đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương

Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam đang tích cực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, với trọng tâm là thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới kết hợp với phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" Đất nước cũng cam kết phát huy dân chủ ở cơ sở, cải cách hành chính để hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch và vững mạnh Đội ngũ cán bộ công chức cần có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, cùng với hệ thống cơ quan Nhà nước hoạt động hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.

Xuất phát từ yêu cầu đó, việc xây dựng đội ngũ CC nói chung, đội ngũ

CC cấp xã cần có trình độ và năng lực ngang tầm, trung thành với sự nghiệp đổi mới của Đảng Sự quan tâm đến đội ngũ này là rất quan trọng để thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế Việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” và phát huy dân chủ ở cơ sở sẽ góp phần nâng cao hiệu quả cải cách hành chính Điều này sẽ xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vững mạnh, giúp đất nước vượt qua khó khăn và thách thức, đồng thời thúc đẩy sự đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và phát triển nhanh, bền vững.

Việt Nam hiện đã thiết lập quan hệ ngoại giao và đầu tư với nhiều quốc gia, là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế, điều này giúp nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế Nếu tận dụng tốt các cơ hội này, Việt Nam có thể tiếp thu thành tựu khoa học - kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý và cải cách cơ chế quản lý kinh tế, từ đó thu hút đầu tư và xây dựng nền kinh tế chất lượng, hiệu quả Tuy nhiên, nếu không cẩn thận, đất nước có thể rơi vào tình trạng bị thao túng, lệ thuộc kinh tế và chính trị, tạo điều kiện cho các thế lực thù địch thực hiện âm mưu gây bất ổn Bên cạnh đó, toàn cầu hóa cũng mang đến những thách thức như bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn vốn, tài nguyên, và công nghệ, đồng thời gia tăng nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh và tội phạm xuyên quốc gia.

Để tận dụng tốt các thuận lợi và vượt qua khó khăn, đất nước cần thực hiện nhiều biện pháp, trong đó việc xây dựng đội ngũ công chức vững mạnh, đặc biệt là cấp xã, là rất quan trọng Điều này sẽ giúp xây dựng lộ trình và kế hoạch đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” Đồng thời, cần phát huy dân chủ ở cơ sở và cải cách hành chính hiệu quả để hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh và từng bước hiện đại.

1.3.3 Những yếu kém, bất cập của đội ngũ công chức cấp xã hiện nay và yêu cầu tăng cường xây dựng đội ngũ công chức cấp xã

C ất lượn đội n ũ CC iện na còn bất cập, c ưa đáp n êu cầu của s p át triển kin tế - xã ội

THỰC TRẠNG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

Quan điểm nâng cao chất lƣợng xây dựng đội ngũ công chức cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

xã, thị trấn trên địa àn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

3.1.1 Nâng cao chất lượng xây dựng đội ngũ công chức cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trên cơ sở quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước

Nhiệm vụ cải cách hành chính đòi hỏi đội ngũ công chức (CC) có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt và bản lĩnh chính trị vững vàng Họ cần có ý thức trách nhiệm, trung thành, gương mẫu, chuyên nghiệp và tận tụy, nhằm xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, trong sạch và hiện đại Đội ngũ công chức thực sự phải là công bộc của nhân dân.

Trên cơ sở các chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng an ninh và cải cách thủ tục hành chính, nhiều nghị quyết và quyết định quan trọng đã được ban hành Trong đó, Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 và Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 13/6/2013 xác định chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 15/4/2015 và Nghị quyết 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 nhấn mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển Chính phủ điện tử Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành các quyết định và chỉ thị như Quyết định số 225/QĐ-TTg ngày 04/02/2016 và Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 22/5/2013 nhằm đẩy mạnh cải cách hành chính và tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính các cấp Tại tỉnh Nghệ An, Quyết định số 74/QĐ-UBND ngày 09/01/2012 đã được áp dụng để triển khai chương trình cải cách hành chính địa phương.

Trong giai đoạn 2012-2020, Quyết định số 2277/QĐ-UBND ngày 23/05/2016 đã được ban hành nhằm thực hiện Đề án đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức tỉnh Nghệ An Mục tiêu của đề án này là cải thiện hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính và nâng cao năng lực phục vụ của đội ngũ cán bộ, viên chức trong tỉnh.

Theo Đề án đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lƣợng đội ngũ

Đến hết năm 2017, 100% cơ quan, tổ chức hành chính tại Nghệ An phải hoàn thành bản mô tả công việc và khung năng lực theo Danh mục vị trí việc làm đã được Bộ Nội vụ phê duyệt Việc tuyển dụng và bố trí công chức, viên chức cần thực hiện đúng theo Đề án vị trí việc làm Đồng thời, cần đổi mới và nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng gắn với tiêu chuẩn chức danh, cơ cấu ngạch và vị trí việc làm, nhằm nâng cao kỹ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ chuyên môn.

Giai đoạn 2018-2019: 70-80% CC, viên chức đƣợc bồi dƣỡng nâng cao các kỹ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ chuyên môn

Giai đoạn 2019-2020: 100% CC, viên chức đƣợc bồi dƣỡng nâng cao các kỹ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ chuyên môn

Tăng cường giáo dục và bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ, viên chức là mục tiêu quan trọng Đến năm 2019, 85% cán bộ, viên chức được nhân dân đánh giá có bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức tốt; con số này đã tăng lên 95% vào năm 2020.

Bồi dưỡng kiến thức ngoại ngữ và tin học cho đội ngũ công chức, viên chức là cần thiết để đáp ứng yêu cầu công việc Đến năm 2020, tỉnh sẽ đảm bảo đội ngũ này có đủ kiến thức ngoại ngữ và trình độ công nghệ thông tin phù hợp với vị trí việc làm.

UBND huyện đã cụ thể hóa văn bản và Đề án, xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ nhằm thực hiện hiệu quả Đề án của tỉnh, góp phần vào thành công của công cuộc cải cách hành chính hiện nay Mục tiêu cụ thể là đến năm

Đến năm 2020, đội ngũ công chức (CC) tại các xã, thị trấn huyện Nam Đàn đã có sự chuyển biến rõ rệt về tinh thần trách nhiệm, đạo đức công vụ, và trình độ chuyên môn, kỹ năng công tác, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Đội ngũ CC đã đạt được trình độ, kỹ năng thông thạo và phong cách chuyên nghiệp, với cơ cấu hợp lý về số lượng và trình độ cao, có khả năng hoạch định, tham mưu và tổ chức triển khai thực hiện các quy hoạch, chương trình phát triển Tất cả công chức đều được bồi dưỡng nâng cao kỹ năng chuyên môn, trong giai đoạn 2018 - 2020, 100% CC đã hoàn thành việc này Đồng thời, việc giáo dục và bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cũng được chú trọng, với 100% CC được nhân dân đánh giá cao về những phẩm chất này vào năm 2020 Huyện Nam Đàn đã xây dựng đội ngũ công chức có cơ cấu hợp lý về độ tuổi và giới tính, đáp ứng yêu cầu công việc.

3.1.2 Nâng cao chất lượng xây dựng đội ngũ công chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

Căn cứ Điều 35 của Luật chính quyền địa phương ban hành ngày 19/6/2015 quy định nhiệm vụ và quyền hạn của UBND xã nhƣ sau:

HĐND xã có trách nhiệm xây dựng và trình quyết định các nội dung theo Điều 33 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, bao gồm việc ban hành Nghị quyết liên quan đến nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND xã, cũng như quyết định các biện pháp đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật HĐND xã cũng cần quyết định dự toán thu - chi ngân sách nhà nước và ngân sách xã, phê chuẩn quyết toán ngân sách, đồng thời tổ chức thực hiện các Nghị quyết và ngân sách địa phương Để thực hiện tốt các nhiệm vụ này, UBND xã cần tuân thủ chức năng, nhiệm vụ theo quy định pháp luật, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cán bộ công chức, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công vụ, góp phần vào sự thành công của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.

3.1.3 Nâng cao chất lượng xây dựng đội ngũ công chức cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An bám sát yêu cầu cải cách hành chính và nhiệm vụ trong giai đoạn mới

Chức năng quản lý nhà nước không chỉ bảo vệ pháp luật, an ninh quốc gia và trật tự xã hội, mà còn tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho tổ chức và công dân Việc xây dựng môi trường này thường được xem như một chính sách, và thực tế cho thấy sự thuận lợi trong hoạt động kinh doanh và sinh sống của người dân, cũng như niềm tin của họ vào Nhà nước, được đánh giá qua các quy định và thủ tục hành chính.

Trong bối cảnh Nhà nước ta thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tham gia sâu rộng vào các quan hệ quốc tế, cần phải chuyển đổi cơ chế quản lý để phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Đồng thời, mở rộng và nâng cao khả năng cung ứng dịch vụ phục vụ xã hội cũng là một yêu cầu quan trọng Đặc biệt, cần khắc phục tình trạng yếu kém, hạn chế và bất cập của bộ máy quản lý, bao gồm tổ chức, thể chế, cán bộ công chức và cơ sở vật chất - tài chính.

Cải cách nền hành chính nhà nước hiện nay bao gồm tổ chức bộ máy, đào tạo và bồi dưỡng công chức, cũng như cải cách tài chính Tuy nhiên, cải cách thể chế hành chính, đặc biệt là thủ tục hành chính, không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn ảnh hưởng đến đời sống của người dân Do đó, Nhà nước cần chú trọng hơn đến việc cải cách thủ tục hành chính để đáp ứng nhu cầu dịch vụ xã hội và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý trong bối cảnh chuyển đổi cơ chế kinh tế.

Giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng xây dựng đội ngũ công chức cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

3.2.1 Nâng cao nhận thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ xây dựng đội ngũ công chức cấp xã, thị trấn ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ƣơng (khóa X) nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng trong công tác cán bộ, khẳng định việc cụ thể hóa và thể chế hóa nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo Đảng yêu cầu phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ, đồng thời bổ sung và hoàn thiện quy định về lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức thành viên Hội nghị cũng đề xuất cải tiến quy trình nhân sự của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội, mở rộng và phát huy dân chủ trong công tác cán bộ.

Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong bối cảnh mới, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ Các cấp ủy Đảng cần thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển.

Các cấp ủy Đảng cần nắm vững và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc lãnh đạo thống nhất trong công tác cán bộ, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu Cần có quy chế công tác rõ ràng, đặc biệt trong quản lý đội ngũ cán bộ, và thường xuyên thực hiện tự phê bình, phê bình để đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và tư tưởng kèn cựa địa vị Việc xây dựng tình đồng chí và tôn trọng lẫn nhau vì lợi ích chung là rất quan trọng Cần xử lý kịp thời các trường hợp mất đoàn kết bằng các biện pháp tổ chức để không làm tình trạng này trở nên nghiêm trọng hơn.

Nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, đặc biệt là cấp xã, về tầm quan trọng của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là nhiệm vụ cấp bách và lâu dài Cần xác định rõ phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp để chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ này Việc tổ chức triển khai và quán triệt ý nghĩa, tầm quan trọng của các quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ lớn của Đảng sẽ giúp xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Đảng lãnh đạo thông qua công tác kiểm tra và giám sát, là cơ sở đánh giá năng lực của cán bộ, công chức, đồng thời chỉ ra hạn chế và sai phạm, đảm bảo tính công khai, minh bạch của nền công vụ Cần xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra, giám sát đủ về số lượng và chất lượng, với phẩm chất đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị, kinh nghiệm, và kỹ năng nghiệp vụ thuần thục Công tác này phải tập trung vào thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng và lãng phí trong việc sử dụng ngân sách nhà nước, quản lý đất đai, tài nguyên, và triển khai các dự án trọng điểm, đặc biệt trong cải cách hành chính và các lĩnh vực nhạy cảm khác.

3.2.2 Hoàn thiện xây dựng quy định tiêu chuẩn tuyển dụng công chức cấp xã phù hợp với đặc điểm tình hình địa phương

Huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, đã thực hiện tuyển dụng công chức hàng năm thông qua nhiều hình thức như đăng ký chỉ tiêu và chức danh thi tuyển, tiếp nhận công chức từ địa phương khác, chuyển công chức cấp xã, và thu hút sinh viên tốt nghiệp xuất sắc Để đáp ứng yêu cầu tình hình mới, trong những năm tới, huyện cần hoàn thiện tiêu chuẩn tuyển dụng công chức cấp xã.

Thứ nhất, tập trung hoàn thành việc xác định vị trí việc làm, xây dựng cơ cấu, tiêu chuẩn chức danh công chức

Trong mỗi cơ quan chuyên môn, việc xác định số vị trí việc làm cần dựa trên chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận để đảm bảo hiệu quả cao nhất Mô tả chi tiết chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu cho từng vị trí giúp xác định biên chế một cách khoa học và thực tế hơn Quá trình kê khai, mô tả và phân tích công việc cho phép người đứng đầu đánh giá tổng thể tiến độ thực hiện nhiệm vụ, phát hiện sự chồng chéo hoặc thiếu sót, và nhận diện hiệu quả sử dụng thời gian cũng như quy trình làm việc của từng công chức Từ đó, có thể điều chỉnh, bố trí và phân công công việc một cách hợp lý, nâng cao hiệu quả công việc.

Cần chú trọng xây dựng cơ cấu và tiêu chuẩn chức danh rõ ràng cho từng ngạch công chức cũng như cho các chức danh lãnh đạo, quản lý, nhằm khắc phục tình trạng vừa thừa vừa thiếu nhân sự và cơ cấu không hợp lý.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện quy trình tuyển dụng công chức

Trong thời gian gần đây, UBND huyện Nam Đàn đã tiến hành quy trình tuyển dụng công chức, đặc biệt chú trọng đến bước tiếp nhận và xem xét hồ sơ, đây là khâu tốn nhiều thời gian và yêu cầu sự kỹ lưỡng, chặt chẽ.

Cần bổ sung quy định cho công chức tuyển dụng, yêu cầu kiểm tra và nghiên cứu kỹ hồ sơ trước khi lập danh sách trình Hội đồng sơ tuyển thành phố Hồ sơ phải được phân loại theo vị trí công việc, kết quả học tập, bằng cấp, loại hình đào tạo và thứ tự ưu tiên, đảm bảo tính hợp lệ và độ tin cậy Điều này sẽ giúp Hội đồng sơ tuyển dễ dàng nắm rõ thông tin từng hồ sơ, tiết kiệm thời gian và lựa chọn được những hồ sơ chất lượng nhất.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện chính sách thu hút, đãi ngộ nhân tài

Huyện Nam Đàn cần xây dựng chính sách thu hút và đãi ngộ nhân tài riêng biệt, bổ sung cho các chính sách của tỉnh Chính sách này nên liên kết chặt chẽ với quy hoạch, đề bạt và bổ nhiệm, nhằm khuyến khích và tạo động lực cho những công chức có tài năng, góp phần tích cực vào sự phát triển của thành phố.

Khi xây dựng chính sách thu hút và đãi ngộ nhân tài, cần xác định rõ ràng định nghĩa về “nhân tài” với bộ tiêu chí cụ thể, tránh nhầm lẫn giữa nhân tài và người có bằng cấp cao Chính sách cần mang tính chiến lược và dài hạn, tập trung vào việc tạo ra môi trường làm việc thuận lợi để công chức có thể phát huy tối đa khả năng và thế mạnh của mình Đồng thời, cần chú trọng đến cả những công chức có kinh nghiệm trong nền công vụ, không chỉ những người mới được thu hút.

Để nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng công chức, UBND huyện Nam Đàn cần tạo điều kiện cho đội ngũ công chức thuộc Phòng Nội vụ và Hội đồng sơ tuyển tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn Chất lượng tuyển dụng phụ thuộc vào khả năng của những người làm nhiệm vụ này trong việc lựa chọn ứng viên phù hợp với các tiêu chuẩn quy định Việc trang bị kiến thức về quản lý nhà nước và các quy định liên quan đến vị trí việc làm, hình thức tuyển dụng cạnh tranh là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng.

Thứ năm, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với hoạt động tuyển dụng

UBND huyện Nam Đàn cần thành lập bộ phận kiểm tra, giám sát hoạt động tuyển dụng để tư vấn xây dựng chương trình kiểm tra hàng năm hoặc theo từng đợt tuyển dụng, cùng với các hồ sơ và vấn đề liên quan đến công tác công chức Đồng thời, cần ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của người làm công tác tuyển dụng, kết hợp với công tác thi đua - khen thưởng, và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm hoặc hành vi tiêu cực trong tuyển dụng công chức.

Thứ sáu, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo của chính quyền huyện và Sở Nội vụ trong công tác tuyển dụng

KẾT LUẬN

Trong những năm qua, huyện Nam Đàn đã nhận được sự quan tâm từ Tỉnh ủy và UBND tỉnh trong việc thực hiện chương trình cải cách hành chính nhà nước Huyện đã xây dựng được đội ngũ cán bộ công chức (CC) cấp xã và huyện đầy đủ về số lượng và chất lượng Đội ngũ này đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh - quốc phòng, cũng như phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức (CC) là một yêu cầu cần thiết trong bối cảnh hiện nay Điều này đòi hỏi sự thực hiện các nội dung, hình thức và biện pháp từ cấp ủy Đảng, chính quyền và đoàn thể ở cơ sở, nhằm cải thiện phẩm chất và năng lực của từng cán bộ công chức Sự chuyển biến này sẽ giúp đội ngũ CC đáp ứng tốt hơn các nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và tổ chức thực hiện công việc được giao.

Trong những năm qua, đội ngũ công chức (CC) cấp xã, thị trấn tại huyện Nam Đàn, Nghệ An đã được cải thiện về số lượng và chất lượng, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng huyện nông thôn mới Tuy nhiên, hiện nay, đội ngũ này vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, với nhiều vấn đề như thiếu số lượng, chất lượng hạn chế, và tư tưởng bảo thủ Để cải thiện tình hình, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp như nâng cao nhận thức và lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện tiêu chuẩn tuyển dụng, rà soát đội ngũ CC, tăng cường đào tạo, và nâng cao công tác kiểm tra, giám sát Các giải pháp này cần đảm bảo tính mục tiêu, hệ thống và khả thi, nhằm xây dựng đội ngũ CC cấp xã, thị trấn đủ số lượng và chất lượng, tạo tiền đề cho huyện Nam Đàn phát triển thành huyện nông thôn mới kiểu mẫu trong tương lai.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Tuấn Anh (2015), "Vốn xã hội và việc đề bạt, bổ nhiệm cán bộ trẻ", Tạp chí Lí luận Chính trị (số 7)

[2] Bộ Chính trị (2010), Quyết định số 286-QĐ/TW n ày 8/2/2010 về quy chế đán iá CC, Lưu Văn phòng Huyện ủy Nam Đàn

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Nghị định số 117/2003/NĐ-CP vào ngày 10 tháng 10 năm 2003, quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức trong các cơ quan nhà nước Nghị định này được áp dụng tại huyện Nam Đàn, nhằm đảm bảo quy trình và tiêu chuẩn trong việc quản lý nguồn nhân lực công.

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Nghị định số 158/2007/NĐ-CP vào ngày 27/10/2007, quy định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác.

CC, viên ch c, Lưu Phòng Nội vụ huyện Nam Đàn

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Nghị định số 13/2008/NĐ-CP vào ngày 04/02/2008, quy định về việc tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Nghị định số 92/2009/NĐ-CP vào ngày 22/10/2009, quy định về chức danh, số lượng và một số chế độ chính sách đối với cán bộ công chức ở xã, phường, thị trấn, cùng với những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

Nội vụ huyện Nam Đàn

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Nghị định số 06/2010/NĐ-CP vào ngày 25 tháng 01 năm 2010, quy định về những người là công chức Nghị định này được áp dụng tại huyện Nam Đàn, nhằm quản lý và hướng dẫn công tác nội vụ.

Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Nghị định số 24/2010/NĐ-CP vào ngày 15/3/2010, quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức Ngoài ra, Nghị định số 93/2010/NĐ-CP ngày 31/8/2010 cũng đã sửa đổi một số điều của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP Tài liệu này được lưu tại Phòng Nội vụ huyện Nam Đàn.

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 30c/NQ-CP vào ngày 08 tháng 11 năm 2011, nhằm triển khai tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011 - 2020 Nghị quyết này được lưu tại Phòng Nội vụ huyện Nam Đàn.

[10] Công báo (1950), Sắc lệnh số 76/SL ngà 22 t án 5 năm 1950 qu định chế độ CC của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hà Nội

[11] Công báo (1998), Pháp lệnh CC số: 01/1998/PL-UBTVQH10, ngày

26 tháng 02 năm 1998, Lưu Văn phòng UBND huyện Nam Đàn

[12] Đảng bộ tỉnh Nghệ An (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh

Nghệ An lần th XVII, Lưu văn phòng Huyện ủy Nam Đàn

[13] Đảng bộ tỉnh Nghệ An (2012), Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 13/3/2012 về phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân l c iai đoạn 2011-

2020, Lưu văn phòng Huyện ủy Nam Đàn

[14] Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần th VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

[15] Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần th ba, Ban

Chấp àn Trun ươn Khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

[16] Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần th IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

[17] Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần th năm Ban

Chấp àn Trun ươn k óa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

[18] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần th X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

[19] Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần th năm Ban

Chấp àn Trun ươn k óa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

[20] Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Hội nghị lần th chín Ban

Chấp àn Trun ươn k óa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

[21] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần th XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội

[22] Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Nghị quyết Hội n ị Trun ươn 4 khoá XI, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội

[23] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần th XII, Văn phòng Trung ƣơng Đảng, Hà Nội

[24] Nguyễn Trọng Điều (2007), Về chế độ công vụ Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

Bài viết của Vũ Văn Điệp (2017) trong Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông phân tích tác động của kinh tế thị trường đến đạo đức công vụ của đội ngũ công chức tại Việt Nam hiện nay Tác giả chỉ ra rằng sự chuyển mình của nền kinh tế đã ảnh hưởng sâu sắc đến các giá trị đạo đức trong công việc của công chức, dẫn đến những thay đổi trong cách thức thực hiện nhiệm vụ và trách nhiệm của họ Bài viết nhấn mạnh sự cần thiết phải nâng cao đạo đức công vụ để đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội hiện đại.

[26] Nguyễn Thị Hồng Hải (2012), “Đánh giá thực thi công vụ nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động của tổ chức hành chính nhà nước”, Tạp chí Tổ ch c

[27] Nguyễn Thị Hồng Hải (2013), “Nâng cao trách nhiệm của CC trong công vụ”, Tạp chí Tổ ch c n à nước, Bộ Nội vụ, số 7, trang 53 - 56

[28] Nguyễn Thị Hồng Hải (2015), “Đổi mới quản lý CC ở Việt Nam theo xu hướng "quản lý nguồn nhân lực”, Tạp chí Tổ ch c n à nước, Bộ Nội vụ, số 7, trang 04-07

Nguyễn Thị Hồng Hải và Hoàng Vĩnh Giang (2015) trong bài viết "Những thay đổi trong quản lý công cộng nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong xu thế hội nhập" đã phân tích các xu hướng và thay đổi cần thiết trong quản lý công nhằm cải cách hành chính Nghiên cứu đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước, Học viện Hành chính quốc gia, số 228, trang 17-21, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải cách để phù hợp với bối cảnh hội nhập toàn cầu.

[30] Nguyễn Thị Ngọc Hoa (2017), “Đổi mới đánh giá CC Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, số 2/2017, trang 56-59

[31] Nguyễn Thị Ngọc Hoa (2017), “Nâng cao đạo đức công vụ của đội ngũ

CC ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông số 4/2017, trang 24-28

[32] Học viện Hành chính (2009), Thuật ngữ Hành chính, Hà Nội

[33] Học viện Hành chính (2010), Giáo trình Lý luận àn c ín n à nước, Hà

[34] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5 (1947-1948), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

[35] Hồ Chí Minh (2011) Toàn tập, Tập 10 (1955 - 1957), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

Nguyễn Thị Tuyết Nga (2016) trong luận văn thạc sĩ khoa học chính trị đã nghiên cứu về việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay Nghiên cứu này nhằm đề xuất các giải pháp cải thiện năng lực và hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước tại địa phương.

[37] Trần Sỹ Phán (2016), “Nâng cao đạo đức công vụ của đội ngũ CC hiện nay”, Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, Online (số ngày

[38] Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Thu Huyền (2004), “Hệ thống công vụ và xu ướng cải cách của một số nước trên thế giới”, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội

[39] Nguyễn Xuân Phúc (2013), “Quyết tâm cải cách công vụ, CC để xây dựng một nền hành chính phục vụ nhân dân”, Báo N n d n điện tử số th Năm, ngày 08/08/2013.

[40] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), Luật CC ngày 13/11/ 2008.

[41] Sổ ta CC xã, p ường, thị trấn (2010), Nxb Lao động, Hà Nội

[42] Sở Nội vụ Nghệ An (2010), Hướng dẫn số 2760/HD-SNV ngày

08/12/2010 của Sở Nội vụ tỉnh Nghệ An ướng dẫn về việc bố trí CC xã, p ường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Nghệ An, Lưu Văn phòng UBND huyện

Sở Nội vụ Nghệ An đã ban hành Hướng dẫn 478/HD-SNV vào ngày 10/5/2013, quy định về quy trình tuyển dụng, tiêu chuẩn và các điều kiện cần thiết cho nhân viên được tuyển dụng, cũng như các trình tự và thủ tục đánh giá, khen thưởng và kỷ luật đối với cán bộ công chức xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Nghệ An Tài liệu này được lưu tại Văn phòng UBND huyện Nam Đàn.

[44] Nguyễn Thị Mai Thương (2014), “Phát triển nguồn nhân l c cán bộ CC ở

Văn p òn Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An”, Luận văn thạc sĩ kinh tế Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội

[45] Tỉnh ủy Nghệ An (2015), Báo cáo chính trị của BCH Đảng bộ tỉnh Nghệ

An k óa XVI trìn Đại hội Đại biểu khóa XVII, Lưu tại Văn phòng Huyện ủy

Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm (2003) đã trình bày luận c khoa học nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, xuất bản bởi Nxb Chính trị quốc gia tại Hà Nội.

[47] Trung tâm từ điển học (2008), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng

[48] Ủy ban nhân dân huyện Nam Đàn (2011), Báo cáo số lượng, chất lượng

CC năm 2011, Lưu tại Văn phòng UBND huyện

[49] Ủy ban nhân dân huyện Nam Đàn (2011), Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, Lưu văn phòng Ủy ban nhân dân huyện

[50] Ủy ban nhân dân huyện Nam Đàn (2013), Báo cáo số lượng, chất lượng

CC năm 2013, Lưu tại Văn phòng UBND huyện

[51] Ủy ban nhân dân huyện Nam Đàn (2014), Báo cáo kinh tế xã hội của huyện Nam Đàn năm 2014, Lưu văn phòng Ủy ban nhân dân huyện

[52] Ủy ban nhân dân huyện Nam Đàn (2015), Báo cáo số lượng, chất lượng

CC năm 2015, Lưu tại Phòng Nội vụ huyện

[53] Ủy ban nhân dân huyện Nam Đàn (2016), Báo cáo số lượng, chất lượng

CC năm 2016, Lưu tại Phòng Nội vụ huyện.

Ngày đăng: 01/08/2021, 12:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Tuấn Anh (2015), "Vốn xã hội và việc đề bạt, bổ nhiệm cán bộ trẻ", Tạp chí Lí luận Chính trị (số 7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn xã hội và việc đề bạt, bổ nhiệm cán bộ trẻ
Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh
Năm: 2015
[2]. Bộ Chính trị (2010), Quyết định số 286-QĐ/TW n ày 8/2/2010 về quy chế đán iá CC, Lưu Văn phòng Huyện ủy Nam Đàn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 286-QĐ/TW n ày 8/2/2010 về quy chế đán iá CC
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2010
[3]. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Nghị định số 117/2003/NĐ-CP n à 10/10/2003, “Về tuyển dụng, sử dụng và quản lý CC tron các cơ quan n à nước, Lưu Phòng Nội vụ huyện Nam Đàn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 117/2003/NĐ-CP n à 10/10/2003, “Về tuyển dụng, sử dụng và quản lý CC tron các cơ quan n à nước
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2003
[4]. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Nghị định số 158/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của Chính phủ qu định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí côn tác đối với CC, viên ch c, Lưu Phòng Nội vụ huyện Nam Đàn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 158/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của Chính phủ qu định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí côn tác đối với CC, viên ch c
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2007
[6]. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009), Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ qu định về ch c danh, số lượng, một số chế độ c ín sác đối với CC ở xã p ường, thị trấn và nhữn n ười hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, Lưu Phòng Nội vụ huyện Nam Đàn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ qu định về ch c danh, số lượng, một số chế độ c ín sác đối với CC ở xã p ường, thị trấn và nhữn n ười hoạt động không chuyên trách ở cấp xã
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2009
[7]. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), Nghị định số 06/2010/NĐ-CP n à 25 t án 01 năm 2010 của chính phủ về quy định nhữn n ười là CC, Lưu Phòng Nội vụ huyện Nam Đàn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 06/2010/NĐ-CP n à 25 t án 01 năm 2010 của chính phủ về quy định nhữn n ười là CC
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2010
[9]. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2011), Nghị quyết số 30c/NQ-CP n à 08/11/2011, Ban àn C ươn trìn tổng thể cải các àn c ín n à nước iai đoạn 2011 - 2020, Lưu Phòng Nội vụ huyện Nam Đàn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 30c/NQ-CP n à 08/11/2011, Ban àn C ươn trìn tổng thể cải các àn c ín n à nước iai đoạn 2011 - 2020
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2011
[11]. Công báo (1998), Pháp lệnh CC số: 01/1998/PL-UBTVQH10, ngày 26 tháng 02 năm 1998, Lưu Văn phòng UBND huyện Nam Đàn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh CC số": 01/1998/PL-UBTVQH10, "ngày 26 tháng 02 năm 1998
Tác giả: Công báo
Năm: 1998
[12]. Đảng bộ tỉnh Nghệ An (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần th XVII, Lưu văn phòng Huyện ủy Nam Đàn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần th XVII
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Nghệ An
Năm: 2010
[13]. Đảng bộ tỉnh Nghệ An (2012), Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 13/3/2012 về phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân l c iai đoạn 2011- 2020, Lưu văn phòng Huyện ủy Nam Đàn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 13/3/2012 về phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân l c iai đoạn 2011-2020
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Nghệ An
Năm: 2012
[14]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần th VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần th VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
[15]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần th ba, Ban Chấp àn Trun ươn Khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần th ba, Ban Chấp àn Trun ươn Khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
[16]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần th IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần th IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
[17]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần th năm Ban Chấp àn Trun ươn k óa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần th năm Ban Chấp àn Trun ươn k óa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
[18]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần th X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần th X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
[20]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Hội nghị lần th chín Ban Chấp àn Trun ươn k óa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần th chín Ban Chấp àn Trun ươn k óa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
[21]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần th XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần th XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
[22]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Nghị quyết Hội n ị Trun ươn 4 khoá XI, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội n ị Trun ươn 4 khoá XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2012
[23]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần th XII, Văn phòng Trung ƣơng Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần th XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2016
[24]. Nguyễn Trọng Điều (2007), Về chế độ công vụ Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chế độ công vụ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trọng Điều
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w