1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về chi trả dịch vụ môi trường rừng

68 49 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,05 MB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG (13)
    • 1.1. Cơ sở lý luận về chi trả dịch vụ môi trường rừng (13)
      • 1.1.1. Khái niệm (13)
      • 1.1.2. Đặc điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng (20)
      • 1.1.3. Các nguyên tắc điều chỉnh hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng (22)
      • 1.1.4. Vai trò của chi trả dịch vụ môi trường rừng (25)
      • 1.1.5. Đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về chi trả dịch vụ môi trường rừng (26)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (29)
      • 1.2.1. Thực tiễn về hiệu quả môi trường rừng (29)
      • 1.2.2. Thực tiễn về hiệu quả kinh tế (31)
      • 1.2.3. Thực tiễn về hiệu quả an sinh xã hội (31)
  • CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN (35)
    • 2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về chi trả dịch vụ môi trường rừng (35)
      • 2.1.1. Các loại dịch vụ môi trường rừng được chi trả (35)
      • 2.1.2. Nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường rừng (35)
      • 2.1.3. Hình thức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng (36)
      • 2.1.4. Đối tượng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng (37)
      • 2.1.5. Đối tượng phải chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng (39)
      • 2.1.6. Hoạt động kiểm tra, giám sát, công khai tài chính (42)
    • 2.2. Một số bất cập của pháp luật Việt Nam về chi trả dịch vụ môi trường rừng qua thực tiễn thi hành (43)
      • 2.2.1. Bất cập về loại dịch vụ môi trường rừng được chi trả (43)
      • 2.2.2. Bất cập về hình thức chi trả dịch vụ môi trường (44)
      • 2.2.3. Bất cập về đối tượng được chi trả dịch vụ môi trường rừng (45)
      • 2.2.4. Bất cập về đối tượng phải chi trả dịch vụ môi trường rừng (46)
      • 2.2.5. Bất cập trong hoạt động kiểm tra, giám sát, công khai tài chính (53)
    • 2.3. Kinh nghiệm chi trả dịch vụ môi trường rừng ở một số quốc gia (54)
    • 2.4. Kiến nghị hướng hoàn thiện (57)
      • 2.4.1. Về các loại dịch vụ môi trường rừng được chi trả (57)
      • 2.4.2. Về đối tượng được chi trả dịch vụ môi trường rừng (57)
      • 2.4.3. Về hình thức chi trả dịch vụ môi trường rừng (58)
      • 2.4.4. Về đối tượng chi trả dịch vụ môi trường rừng (59)
      • 2.4.5. Về mức chi trả dịch vụ môi trường rừng (60)
      • 2.4.6. Về hoạt động kiểm tra, giám sát, công khai tài chính (61)

Nội dung

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG

Cơ sở lý luận về chi trả dịch vụ môi trường rừng

Ngày nay, các quốc gia đều công nhận rằng lợi ích kinh tế của rừng vượt xa giá trị các sản phẩm hữu hình mà rừng mang lại Giá trị của rừng không chỉ nằm ở việc sử dụng trực tiếp mà còn ở các giá trị gián tiếp từ chức năng của hệ sinh thái, đặc biệt là dịch vụ môi trường (DVMTR) Để bảo vệ DVMTR, việc chi trả dịch vụ môi trường rừng (CTDVMTR) ra đời nhằm bồi hoàn cho những người cung cấp dịch vụ này các chi phí phát sinh từ quản lý và phát triển dịch vụ CTDVMTR được xem là phương thức hiệu quả để cân bằng lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường rừng, do đó, cần tìm hiểu các khái niệm liên quan như môi trường rừng (MTR), DVMTR và CTDVMTR.

1.1.1.1 Khái niệm môi trường rừng

Trong Báo cáo FRA năm 2015, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) đã định nghĩa rừng là diện tích đất rộng hơn 0,5 héc-ta với cây cao trên 5 mét và có tán che phủ hơn 10% Định nghĩa này cũng bao gồm các cây có khả năng đạt đến chiều cao đó trong điều kiện đặc biệt, nhưng không tính diện tích đất chủ yếu thuộc về nông nghiệp hoặc đô thị.

Theo Nghị định thư Kyoto, rừng được định nghĩa là hệ sinh thái có diện tích từ 0,05 đến 1,00 héc-ta, với tỷ lệ che phủ tầng tán từ 10-30% và chiều cao cây tối thiểu từ 2 đến 5 mét Hệ sinh thái này bao gồm các quần thể động thực vật và cộng đồng vi sinh vật, tất cả đều tương tác với môi trường xung quanh để thực hiện chức năng chung.

2 FAO, “Global Forest Resources Assessment 2015”, http://www.fao.org/3/i4808e/i4808e.pdf truy cập ngày 12/4/2021

Dịch vụ môi trường và chi trả dịch vụ môi trường là những khái niệm quan trọng trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên Các dịch vụ này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn tạo ra lợi ích kinh tế cho cộng đồng Việc áp dụng các chính sách chi trả dịch vụ môi trường sẽ khuyến khích sự tham gia của người dân và các tổ chức trong việc bảo vệ rừng và tài nguyên tự nhiên Thông tin chi tiết về các dịch vụ này có thể được tìm thấy tại trang web moitruong.com.vn.

Theo Luật Lâm nghiệp Việt Nam (Luật số 16/2017/QH14), rừng được định nghĩa là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật, động vật, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác Thành phần chính của rừng là các loài cây thân gỗ, tre, nứa và cây họ cau, với chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên các loại địa hình như núi đất, núi đá, đất ngập nước, và đất cát Để được công nhận là rừng, diện tích phải từ 0,3 héc-ta trở lên và độ tàn che tối thiểu là 0,1 mét.

Rừng được định nghĩa là một hệ sinh thái chủ yếu bao gồm các loại cây thân gỗ, tre, nứa và cây họ cau, với độ cao, diện tích và độ tàn che nhất định, tồn tại trên đất lâm nghiệp Nó không chỉ đơn thuần là cây cối mà còn là một hệ sinh thái toàn diện với mối liên hệ chặt chẽ giữa các thành phần Giá trị của rừng không chỉ nằm ở gỗ và các sản phẩm trực tiếp mà còn bao gồm đa dạng sinh học và các dịch vụ mà hệ sinh thái rừng cung cấp Trong bối cảnh hiện nay, rừng không chỉ là tài nguyên và tư liệu sản xuất mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an ninh môi trường.

Tại Việt Nam, rừng được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau Dựa vào nguồn gốc, rừng chia thành rừng tự nhiên và rừng trồng Theo điều kiện lập địa, có bốn loại rừng: rừng núi đất, rừng núi đá, rừng ngập mặn và rừng trên đất cát Dựa vào loài cây, rừng được phân thành rừng gỗ, rừng tre nứa, rừng cau dừa và rừng hỗn giao Về trữ lượng, rừng gỗ được chia thành năm loại: rừng rất giàu, rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo và rừng chưa có trữ lượng Tuy nhiên, phân loại phổ biến và theo quy định pháp luật hiện hành là dựa trên mục đích sử dụng, bao gồm rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất.

Khái niệm MTR lần đầu tiên được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam qua Nghị định 99/2010/NĐ-CP ban hành ngày 24/9/2010, liên quan đến chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng Theo nghị định này, môi trường rừng được định nghĩa bao gồm các thành phần của hệ sinh thái rừng như thực vật, động vật, vi sinh vật, nước, đất và không khí.

4 Nguyễn Thị Hải Vân, “Bảo vệ “áo giáp” an ninh môi trường”, https://www.sggp.org.vn/bao-ve-ao-giap-an- ninh-moi-truong-696656.html, truy cập ngày 14/4/2021

5 Điều 5, 6, 7, 8 Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành ngày 10/06/2009 quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng

Môi trường rừng đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu của xã hội và con người thông qua các giá trị sử dụng như bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, và phòng hộ đầu nguồn Ngoài ra, rừng còn có chức năng phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, duy trì đa dạng sinh học, hấp thụ và lưu giữ carbon, đồng thời tạo điều kiện cho du lịch và là nơi cư trú, sinh sản của nhiều loài sinh vật, cung cấp gỗ và lâm sản khác.

Theo Nghị định 156/2018/NĐ-CP, MTR được định nghĩa là một phần của hệ sinh thái bao gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng và các yếu tố vật chất khác tạo nên cảnh quan rừng Trước đây, giá trị kinh tế của rừng chủ yếu được đánh giá qua các sản phẩm hữu hình phục vụ nhu cầu con người Tuy nhiên, với xu hướng phát triển bền vững hiện nay, giá trị kinh tế của rừng đã được mở rộng để bao gồm giá trị sử dụng trực tiếp, gián tiếp, giá trị lựa chọn, giá trị để lại và giá trị tồn tại Sự chuyển biến này đã thúc đẩy khoa học lâm nghiệp phát triển, khẳng định MTR là một bộ phận sinh thái có tiềm năng phát triển bền vững lớn và mở ra tư duy mới về khai thác giá trị dịch vụ của MTR.

1.1.1.2 Khái niệm dịch vụ môi trường rừng

Dịch vụ hệ sinh thái (DVMT) hay còn gọi là "ecosystem service" được coi là hàng hóa công cộng, cho phép mọi người hưởng lợi mà không phải trả phí Tuy nhiên, sự suy giảm nhanh chóng của tài nguyên môi trường do khai thác quá mức đã dẫn đến gia tăng thảm họa tự nhiên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và sản xuất Khoảng 20% dân số thế giới thiếu nước sạch và một nửa không có đủ nước cho nhu cầu vệ sinh Do đó, cộng đồng quốc tế và các quốc gia đã bắt đầu chú trọng đến nghiên cứu chi trả dịch vụ môi trường (Payment for Ecosystem Service - PES) nhằm thúc đẩy phát triển bền vững.

7 Khoản 8 Điều 3 Nghị định 156/2018/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2018 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp

8 Vũ Tấn Phương (2016), “Giỏ trị mụi trường và dịch vụ mụi trường sống”á Tạp chớ Nụng nghiệp và phỏt triển nông thôn, số 15-2016, tr 7-11

10 dù đã có nhiều nghiên cứu về DVMT, tuy nhiên, hiện nay, trên thế giới chưa có một khái niệm thống nhất về DVMT

Theo Tổ chức Phát triển và Hợp tác Kinh tế (OECD), Đánh giá Giá trị Môi trường Tự nhiên (DVMT) được định nghĩa là các chức năng định tính của tài sản không sản xuất trong tự nhiên, bao gồm đất, nước, không khí, hệ sinh thái liên quan và quần xã sinh vật.

Dịch vụ môi trường (DVMT) được hiểu là các chức năng định tính, bao gồm cả không gian, do các nguồn tài nguyên thiên nhiên cung cấp.

Tại Việt Nam, học giả Vũ Văn Tự cho rằng:“DVMT là các hoạt động dịch vụ nhằm mang lại lợi ích về môi trường” 11

Luật Bảo vệ môi trường (Luật số 72/2020/QH14) được ban hành vào ngày 17 tháng 11 năm 2020 đã xác định dịch vụ môi trường là một ngành kinh tế quan trọng, cung cấp các dịch vụ liên quan đến đo lường, kiểm soát ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất, và sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiệu quả Dịch vụ này bao gồm xử lý chất thải, bảo tồn đa dạng sinh học và các hoạt động liên quan khác, nhằm mục đích bảo vệ và duy trì môi trường, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế - xã hội.

Tóm lại, DVMT (Đặc điểm Vật lý Môi trường Tự nhiên) là khả năng của môi trường tự nhiên cung cấp cho con người không khí trong lành, nước sạch, đất màu mỡ và đa dạng sinh học, từ đó giúp phát triển kinh tế - xã hội Trong đó, DVMTR (Đặc điểm Vật lý Môi trường Tự nhiên) đóng vai trò quan trọng nhất trong hệ thống DVMT.

Cơ sở thực tiễn của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

Mục tiêu chính của chính sách CTDVMTR tại Việt Nam là phát triển bền vững ba trụ cột trong lĩnh vực lâm nghiệp: kinh tế, xã hội và môi trường Kinh tế được thể hiện qua tỷ lệ đóng góp của ngành lâm nghiệp vào nền kinh tế quốc dân, trong khi bảo vệ môi trường liên quan đến kết quả bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học Về mặt xã hội, chính sách này hướng tới cải thiện sinh kế, xóa đói giảm nghèo và tăng thu nhập cho cộng đồng sống dựa vào rừng Do đó, việc đánh giá chi trả dịch vụ môi trường rừng cần dựa trên ba khía cạnh: hiệu quả môi trường, hiệu quả kinh tế và hiệu quả an sinh xã hội.

1.2.1 Thực tiễn về hiệu quả môi trường rừng

Theo Viện Điều tra quy hoạch rừng, diện tích rừng toàn quốc đã giảm từ 14,3 triệu héc-ta vào năm 1945 xuống còn 8,25 triệu héc-ta vào năm 1995 Để đối phó với tình trạng suy giảm nghiêm trọng này, Chính phủ đã quyết định "đóng cửa" rừng tự nhiên từ năm 1995 và yêu cầu các địa phương tăng cường trồng rừng bổ sung Kết quả là diện tích rừng trồng đã được mở rộng từ năm 1999 đến 2015, nhưng vẫn không đạt được mục tiêu phủ xanh 43% diện tích rừng vào năm 2015.

Mặc dù Việt Nam đã thực hiện nhiều biện pháp cải thiện tình trạng rừng và đạt được một số thành tựu đáng kể, diện tích rừng vẫn còn thấp và tỷ lệ che phủ chưa cao Diện tích rừng tự nhiên tăng chậm, trong khi việc chuyển mục đích sử dụng đất rừng, khai thác lâm sản quá mức và chính sách đầu tư phát triển rừng chưa đồng bộ vẫn diễn ra Do đó, tìm kiếm giải pháp cân bằng giữa lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường rừng là một mục tiêu cấp thiết.

Tổng cục Lâm nghiệp (2015) đã tổ chức hội thảo tại Hà Nội vào ngày 20/11/2015, với chủ đề “Đánh giá hiệu quả thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng và sự tham gia của các bên liên quan tại địa phương.” Hội thảo này nhằm mục đích đánh giá hiệu quả của các chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng và tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương.

Rừng tự nhiên Việt Nam đã trải qua nhiều biến đổi kể từ năm 1945, với những thách thức và cơ hội trong việc bảo tồn và phát triển Tình trạng rừng hiện nay phản ánh sự ảnh hưởng của các chính sách quản lý, khai thác tài nguyên và biến đổi khí hậu Việc bảo vệ rừng tự nhiên không chỉ góp phần duy trì đa dạng sinh học mà còn hỗ trợ phát triển bền vững cho cộng đồng địa phương Để nâng cao hiệu quả bảo tồn, cần có những giải pháp đồng bộ từ chính phủ và sự tham gia tích cực của người dân.

Sau 2 năm thí điểm CTDVMTR thành công tại Sơn La và Lâm Đồng, ngày 24 tháng 9 năm 2010, Chính phủ ban hành NĐ 99/2010/NĐ-CP về chính sách CTDVMTR trên cả nước Bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011,

NĐ 99/2010/NĐ-CP đã góp phần đóng góp vào việc cải thiện hiện trạng rừng tại Việt Nam

Trong 10 năm CTDVMTR, diện tích rừng được nhận tiền DVMTR đã tăng từ gần 1,4 triệu héc-ta vào năm 2011 đến năm 2020 là trên 6,8 triệu héc-ta rừng, chiếm 46,3% tổng diện tích rừng toàn quốc Đồng thời, CTDVMTR cũng góp phần làm tỷ lệ che phủ rừng của cả nước trong giai đoạn 2011 – 2020 tăng từ 39,7% lên 42,01% Chính sách này cũng huy động được một nguồn kinh phí lớn cho hoạt động bảo vệ rừng của các địa phương, góp phần làm giảm 50% số lượng các vụ vi phạm liên quan đến rừng 35 Ở các địa phương, chính sách CTDVMTR đã thể hiện vai trò nổi bật trong bảo vệ MTR Tại tỉnh Sơn La, trước khi có CTDVMTR, kinh phí hàng năm Nhà nước hỗ trợ ngành lâm nghiệp của tỉnh chỉ đáp ứng khoảng từ 20 - 30% nhu cầu, do vậy công tác bảo vệ và phát triển rừng gặp nhiều khó khăn, tình trạng phá rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác lâm sản trái phép diễn biến phức tạp Từ khi triển khai chính sách CTDVMTR, công tác bảo vệ rừng đã phát huy hiệu quả rõ rệt, trên địa bàn tỉnh có khoảng 637.000 héc-ta rừng thì có trên 537.000 héc-ta rừng được bảo vệ và phát triển từ nguồn DVMTR Số vụ vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản giảm cả ba tiêu chí (số vụ vi phạm, số diện tích và số lâm sản bị thiệt hại), nếu như năm 2009, toàn tỉnh phát hiện 1.434 vụ vi phạm, năm 2019 giảm còn 566 vụ 36

Chính sách CTDVMTR đã ảnh hưởng tích cực đến công tác bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt là nâng cao ý thức bảo vệ rừng của cộng đồng Sự gia tăng diện tích rừng được bảo vệ nhờ nguồn CTDVMTR đã giúp giảm áp lực tài chính lên ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực phát triển lâm nghiệp.

Việc giảm số vụ vi phạm về rừng không chỉ giúp duy trì mà còn nâng cao diện tích rừng hiện có, đồng thời đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ sinh thái rừng.

Bài viết của Cao Trường Sơn và Nguyễn Thanh Lâm (2017) trong Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, số 13, trang 11, đánh giá chương trình chi trả dịch vụ môi trường trên thế giới và rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá cho Việt Nam Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các mô hình chi trả dịch vụ môi trường hiệu quả nhằm bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên tại Việt Nam.

Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đang dần được thực hiện hiệu quả trong đời sống, mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng và bảo vệ tài nguyên rừng Qua việc triển khai chính sách này, người dân không chỉ nhận được hỗ trợ tài chính mà còn nâng cao nhận thức về vai trò quan trọng của rừng trong việc bảo vệ môi trường Các chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng đã góp phần thúc đẩy phát triển bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học và cải thiện sinh kế cho người dân địa phương.

1.2.2 Thực tiễn về hiệu quả kinh tế

Sau khi Việt Nam hạn chế khai thác gỗ từ rừng tự nhiên vào năm 1995, ngành lâm nghiệp đã bị xem nhẹ do đóng góp thấp vào GDP Tuy nhiên, từ khi triển khai chính sách CTDVMTR toàn quốc vào năm 2011, doanh thu từ DVMTR đã tăng đáng kể, góp phần lớn vào đầu tư cho ngành lâm nghiệp.

Trong giai đoạn 2011 – 2020, CTDVMTR đã thu được 16.753 tỷ đồng, đóng góp 18,2% vào tổng đầu tư cho ngành lâm nghiệp Đặc biệt, năm 2015, CTDVMTR chiếm khoảng 22% tổng vốn đầu tư trong lĩnh vực này.

CTDVMTR đã trở thành nguồn tài chính quan trọng cho hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường rừng tại địa phương Nguồn thu từ CTDVMTR không chỉ hỗ trợ chi phí trả lương cho người lao động mà còn chi cho các hoạt động, nâng cao năng lực cán bộ ngành lâm nghiệp Bên cạnh đó, nó còn cung cấp kinh phí cho các ban quản lý rừng, khu bảo tồn, vườn quốc gia và lâm trường quốc doanh, đồng thời góp phần vào chương trình phát triển hạ tầng và cộng đồng.

Tại tỉnh Lào Cai, nguồn thu từ chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) chiếm 52% nhu cầu vốn hàng năm cho hoạt động quản lý và bảo vệ rừng Trong khi đó, tỉnh Kon Tum hiện có nguồn thu DVMTR cao gấp 3,6 lần so với ngân sách trước đây dành cho quản lý và bảo vệ rừng hàng năm.

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

Ngày đăng: 25/04/2022, 11:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ luật dân sự (Luật số 91/2015/QH13) ngày 24 tháng 11 năm 2015 Khác
2. Luật Bảo vệ và phát triển rừng (Luật số 29/2004/QH11) ngày 03 tháng 12 năm 2004 Khác
3. Luật Lâm nghiệp (Luật số 16/2017/QH14) ngày 15 tháng 11 năm 2017 Khác
4. Luật Bảo vệ môi trường (Luật số 72/2020/QH14) ngày 17 tháng 11 năm 2020 Khác
5. Nghị định số 05/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/01/2008 về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Khác
6. Quyết định số 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10/4/2008 về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng Khác
7. Nghị định 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24/9/2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng Khác
8. Nghị định số 147/2016/NĐ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng Khác
9. Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành ngày 10/06/2009 quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng Khác
10. Thông tư 22/2017/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ngày 15/11/2017 về hướng dẫn một số nội dung thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng Khác
11. Nghị định 156/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/11/2018 quy định chi tiết một số điều của Luật Lâm nghiệp;B. Tài liệu tham khảo Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w