CƠ SỞ LÝ LUẬN CÔNG TÁC KIỂM TOÁN QUY TRÌNH TSCĐ
Đặc điểm của TSCĐ
TSCĐ, hay Tài sản cố định, là những tư liệu lao động chủ yếu tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh TSCĐ bao gồm cả tài sản có hình thái vật chất và tài sản vô hình, được ghi nhận theo các tiêu chuẩn hiện hành Theo thông tư 45/2013 của Bộ Tài chính ban hành ngày 25/4/2013, các quy định về TSCĐ được xác định rõ ràng.
Tài sản cố định theo chuẩn mực Kế toán Việt Nam 04 là những tài sản hữu hình mà doanh nghiệp sở hữu và sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh Những tài sản này cần đáp ứng các tiêu chuẩn ghi nhận cụ thể để được công nhận là tài sản cố định.
Các tài sản được ghi nhận là TSCĐ hữu hình phải thỏa mãn đồng thời tất cả bốn (4) tiêu chuẩn ghi nhận sau:
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó;
- Nguyên giá tài sản đó phải được xác định một cách đáng tin cậy;
- Thời gian sử dụng ước tính trên một năm;
- Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành.
Theo Thông tư 45/2013/TT-BTC ban hành ngày 25/4/2013, tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định (TSCĐ) yêu cầu giá trị tối thiểu từ 30 triệu đồng, áp dụng bắt đầu từ năm tài chính 2013.
TSCĐ vô hình, theo chuẩn mực kế toán Việt Nam 04, là tài sản không có hình thái vật chất nhưng có giá trị xác định Tài sản này được doanh nghiệp nắm giữ và sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho thuê, phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình.
Tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình:
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Nguyễn Tiến Đạt
Một tài sản vô hình được ghi nhận là TSCĐ vô hình phải thỏa mãn đồng thời:
- Định nghĩa về TSCĐ vô hình;
- Bốn tiêu chuẩn ghi nhận sau:
Để đảm bảo thu được lợi ích kinh tế từ tài sản trong tương lai, cần xác định nguyên giá tài sản một cách đáng tin cậy.
+ Thời gian sử dụng ước tính trên một năm;
+ Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành.
TSCĐ thuê tài chính là tài sản cố định mà doanh nghiệp thuê từ công ty cho thuê tài chính Khi hết thời gian thuê, bên thuê có quyền mua lại tài sản hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng Tổng số tiền thuê tài sản trong hợp đồng ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản tại thời điểm ký kết.
1.1.2 Đặc điểm của TSCĐ ảnh hưởng đến công tác kiểm toán
Tài sản cố định (TSCĐ) có giá trị lớn và thời gian sử dụng dài, đóng vai trò quan trọng trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh Việc thay đổi TSCĐ chỉ diễn ra khi hết thời gian sử dụng hoặc khi không còn mang lại lợi ích kinh tế.
TSCĐ hầu như không thay đổi về hình thái vật chất bên ngoài và đặc tính sử dụng ban đầu trong quá trình tồn tại và hoạt động.
TSCĐ thể hiện năng lực sản xuất và trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật của đơn vị, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra khả năng tăng trưởng bền vững Việc đầu tư vào TSCĐ không chỉ giúp nâng cao năng suất lao động mà còn góp phần giảm chi phí, từ đó hạ giá thành sản phẩm và dịch vụ.
TSCĐ là tài sản phục vụ cho sản xuất kinh doanh, không phải để bán, và trong quá trình sử dụng, chúng sẽ bị hao mòn Giá trị hao mòn này được chuyển dần vào giá trị sản phẩm, coi như một yếu tố chi phí trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp sẽ bù đắp được giá trị hao mòn khi tiêu thụ sản phẩm.
SV: Dương Thị Lan 5 Lớp: K19KTE
Đặc điểm của tài sản cố định (TSCĐ) ảnh hưởng đáng kể đến công tác kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC) TSCĐ thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp, và quá trình mua sắm, trang bị TSCĐ diễn ra không thường xuyên và không đồng đều Việc này thường được thực hiện theo một quy trình kiểm soát chặt chẽ, điều này yêu cầu kiểm toán viên cần chú trọng hơn trong việc đánh giá và kiểm tra các khoản mục liên quan đến TSCĐ trong BCTC.
DN TSCĐ thường có thời gian sử dụng lâu dài, thời gian quản lý các tài sản này tại
Doanh nghiệp (DN) thường sở hữu tài sản cố định (TSCĐ) lớn Việc trích khấu hao hợp lý các tài sản này không chỉ ảnh hưởng đến tính trung thực và hợp lý của thông tin TSCĐ trên báo cáo tài chính (BCTC) mà còn có thể bị tác động bởi việc nâng cấp và sửa chữa TSCĐ trong quá trình sử dụng.
TSCĐ là phần quan trọng trong Bảng Cân đối kế toán, thuộc mục Tài sản và có mối liên hệ chặt chẽ với các khoản mục khác Thông tin về TSCĐ bao gồm nguyên giá, giá trị hao mòn và các chi phí liên quan như chi phí khấu hao trong sản xuất kinh doanh Những thông tin này ảnh hưởng đến các chỉ tiêu lợi nhuận, chi phí và kết quả kinh doanh, được tổng hợp và trình bày trong báo cáo tài chính hàng năm của đơn vị.
Kiểm toán TSCĐ đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm toán BCTC, giúp kiểm toán viên đánh giá hiệu quả quản lý và sử dụng TSCĐ Qua quá trình này, kiểm toán viên có thể đưa ra các kiến nghị nhằm cải thiện đầu tư và quản lý tài sản cố định.
Cải tiến quản lý tài sản cố định (TSCĐ) là cần thiết để nâng cao chất lượng công tác này Chi phí mua sắm và đầu tư cho TSCĐ thường lớn, trong khi vòng quay vốn diễn ra chậm Để đảm bảo hiệu quả đầu tư, kiểm toán TSCĐ sẽ đánh giá tính hiệu quả của các khoản đầu tư, đồng thời định hướng cho việc sử dụng nguồn lực đầu tư một cách tối ưu nhất.
Kiểm toán tài sản cố định (TSCĐ) không chỉ giúp phát hiện sai sót trong các giao dịch liên quan mà còn nâng cao hiệu quả quản lý TSCĐ tại doanh nghiệp Ngoài ra, việc kiểm toán còn hỗ trợ cho các phần hành khác, từ đó cung cấp thông tin quan trọng cho việc lập báo cáo tài chính (BCTC).
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Nguyễn Tiến Đạt
1.1.2.2 Công tác quản lý TSCĐ
Quy trình kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán BCTC
1.2.1 Mục tiêu, căn cứ kiểm toán
1.2.1.1 Mục tiêu kiểm toán TSCĐ
Mục tiêu của kiểm toán BCTC là xác nhận độ tin cậy của báo cáo tài chính, trong khi kiểm toán TSCĐ tập trung vào việc thu thập đầy đủ bằng chứng thích hợp để xác nhận tính chính xác của thông tin tài chính liên quan Đồng thời, kiểm toán TSCĐ cũng cung cấp các tài liệu và thông tin liên quan, làm cơ sở tham chiếu cho việc kiểm toán các chu kỳ tiếp theo.
* Đối với các nghiệp vụ về TSCĐ:
Sự phát sinh: Tất cả các nghiệp vụ TSCĐ được ghi sổ trong kỳ là phát sinh thực tế, không có nghiệp vụ ghi khống.
Để đảm bảo tính chính xác trong việc quản lý tài sản cố định (TSCĐ), cần thực hiện các bước tính toán và đánh giá theo đúng nguyên tắc, chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành Việc này giúp xác định đúng đắn các nghiệp vụ liên quan đến TSCĐ, tránh sai sót trong quá trình ghi chép và báo cáo tài chính.
SV: Dương Thị Lan 15 Lớp: K19KTE
Phân loại và hạch toán đầy đủ: Các nghiệp vụ TSCĐ phát sinh trong kỳ đều được phản ánh, theo dõi đầy đủ trên các sổ kế toán.
Phân loại và hạch toán TSCĐ là rất quan trọng, đảm bảo rằng tất cả các nghiệp vụ phát sinh trong kỳ được phân loại chính xác theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành Việc hạch toán các nghiệp vụ này cần tuân thủ đúng trình tự và phương pháp kế toán phù hợp với quy định đặc thù của doanh nghiệp.
Phân loại và hạch toán đúng kỳ: Các nghiệp vụ TSCĐ đều được hạch toán đúng kỳ phát sinh theo nguyên tắc kế toán dồn tích
* Đối với số dư các tài khoản TSCĐ
Tất cả tài sản cố định (TSCĐ) được phản ánh trong báo cáo tài chính (BCTC) cần phải tồn tại thực tế tại thời điểm lập báo cáo Dữ liệu trong báo cáo phải phù hợp với kết quả kiểm kê của doanh nghiệp.
Tất cả tài sản cố định (TSCĐ) được báo cáo phải thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Đối với các TSCĐ thuê tài chính, doanh nghiệp cần đảm bảo rằng các tài sản này thuộc quyền kiểm soát lâu dài của mình.
DN trên cơ sở các hợp đồng thuê đã ký.
Việc đánh giá số dư các tài khoản Tài sản cố định (TSCĐ) phải tuân thủ đầy đủ các quy định của chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán hiện hành và các quy định cụ thể của doanh nghiệp.
Tính toán: Việc xác định, tính toán số dư TSCĐ là đúng đắn, không có sai sót
Phân loại và hạch toán đầy đủ: Toàn bộ số dư TSCĐ cuối kỳ được trình bày đầy đủ trên các BCTC và không có sai sót
Phân loại và hạch toán đúng đắn: Toàn bộ TSCĐ được phân loại đúng đắn để trình bày trên BCTC.
Để đảm bảo tính chính xác trong báo cáo tài chính, việc tổng hợp và cộng dồn số liệu lũy kế từ sổ chi tiết tài sản cố định (TSCĐ) là rất quan trọng Số liệu này cần được xác định đúng đắn, giúp quá trình kết chuyển sang sổ kế toán tổng hợp và sổ cái diễn ra mà không gặp phải sai sót nào.
Các chỉ tiêu liên quan đến tài sản cố định (TSCĐ) trên báo cáo tài chính (BCTC) được xác định chính xác theo quy định của chuẩn mực và chế độ kế toán, đảm bảo không có sai sót nào.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Nguyễn Tiến Đạt
1.2.1.2 Căn cứ kiểm toán Để có thể tiến hành kiểm toán và đưa ra ý kiến nhận xét về các thông tin tài chính có liên quan đến khoản mục TSCĐ trên BCTC, KTV phải dựa vào các tài liệu sau:
BCTC bao gồm chỉ tiêu 211 về nguyên giá tài sản cố định (TSCĐ) và chỉ tiêu 212 về hao mòn lũy kế, thể hiện trên bảng cân đối kế toán Để đảm bảo tính chính xác, cần tổng hợp và chi tiết hóa các báo cáo kế toán liên quan như báo cáo tăng, giảm TSCĐ, báo cáo sửa chữa, báo cáo chi phí, báo cáo thanh toán, biên bản bàn giao TSCĐ và bảng phân bổ khấu hao.
Số kế toán bao gồm các sổ kế toán tổng hợp và chi tiết cho các tài khoản liên quan, chẳng hạn như sổ chi tiết tài sản cố định (TSCĐ), sổ cái và sổ tổng hợp của các tài khoản liên quan.
Chứng từ kế toán liên quan đến tài sản cố định (TSCĐ) bao gồm hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT) khi mua TSCĐ, các chứng từ nhập khẩu, cũng như các tài liệu liên quan đến quá trình vận chuyển, lắp đặt và sửa chữa TSCĐ Ngoài ra, các chứng từ thanh toán như phiếu chi, giấy báo nợ và biên bản thanh lý, nhượng bán TSCĐ cũng rất quan trọng trong việc quản lý và ghi chép kế toán.
Các tài liệu pháp lý cần thiết cho các nghiệp vụ liên quan đến tài sản cố định (TSCĐ) bao gồm hợp đồng mua sắm, bản thanh lý hợp đồng và các quyết định đầu tư Những tài liệu này đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và ghi chép các hoạt động tăng, giảm, mua bán và sửa chữa TSCĐ.
- Các nội quy, quy chế kiểm soát nội bộ của đơn vị liên quan đến việc mua sắm, quản lý, sử dụng thanh lý, nhượng bán TSCĐ.
- Các tài liệu khác liên quan đến quy định, quy trình kiểm soát nội bộ.
Các tài liệu liên quan đến hệ thống kiểm soát nội bộ là cơ sở quan trọng để kiểm toán viên (KTV) đánh giá hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) Những tài liệu này chủ yếu cung cấp bằng chứng liên quan đến quy trình kế toán và các cơ sở dẫn liệu cho thông tin tài chính đã được trình bày trong báo cáo tài chính (BCTC) được kiểm toán.
1.2.2 Lập kế hoạch kiểm toán Đây là giai đoạn đầu tiên của cuộc kiểm toán nhằm tạo ra tiền đề và điều kiện cụ thể trước khi thực hiện quá trình kiểm toán Nó có ý nghĩa và tác động không kém phần quan trọng đến chất lượng của cuộc kiểm toán Nếu giai đoạn này