Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Văn học Việt Nam từ sau năm 1986 được coi là giai đoạn có nhiều đổi mới sâu sắc và toàn diện, với khẩu hiệu “nhìn thẳng vào sự thật” của các nhà văn thể hiện sự khác biệt rõ rệt so với trước đó Tuy nhiên, xu hướng ca ngợi một chiều và rập khuôn về “văn học đổi mới” đã dẫn đến nhiều ngộ nhận về giai đoạn này Hơn 30 năm trôi qua, chúng ta đã có đủ thời gian để nhìn lại và lý giải đúng đắn về văn học từ sau đổi mới đến nay.
Nguyễn Hữu Quý, một nhà thơ xuất thân từ quân đội, đã trải qua cuộc sống binh nghiệp và tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Với hơn 20 năm sáng tác, tên tuổi của ông gắn liền với nhiều tập thơ nổi tiếng.
“Mười nghìn khát vọng”, “Huệ trắng”, “Làng Đảo”, “Im lặng trên cao”,
Thơ Nguyễn Hữu Quý vẫn chưa được nghiên cứu và giới thiệu rộng rãi, với rất ít công trình lớn về tác phẩm của ông Mặc dù đã có một số bài viết thể hiện sự quan tâm và khám phá những sáng tác tiêu biểu cũng như cảm hứng sáng tác của nhà thơ, nhưng vẫn cần nhiều hơn nữa để làm sáng tỏ giá trị nghệ thuật của ông.
Luận văn thạc sĩ của Đặng Thị Nhung tại Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế, với đề tài “Đặc điểm cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Hữu Quý”, là công trình nghiên cứu đầu tiên về thơ của tác giả này Mặc dù công trình đã phân tích các dạng thức và phương thức thể hiện cái tôi trữ tình, nhưng vẫn chưa nghiên cứu một cách toàn diện về giá trị nghệ thuật và nội dung trong thơ Nguyễn Hữu Quý.
2.2 Nhận định chung về thơ Nguyễn Hữu Quý, trong bài viết Thơ Nguyễn
Nhà lí luận phê bình văn học Nguyễn Thanh Tú nhận định rằng tập thơ "Mười nghìn khát vọng" của Nguyễn Hữu Quý, khi được xuất bản năm 1997, đã mang đến một giọng thơ đầy hứa hẹn cho thi đàn Tác phẩm này đã thu hút sự chú ý của độc giả và mở ra những triển vọng mới cho nền thơ ca.
Tác phẩm "Sinh ở cuối dòng sông" (2004) đã thể hiện sự ổn định trong giọng điệu suy tưởng, hướng nội và sâu lắng của tác giả, vượt trội hơn so với "Mười nghìn khát vọng" (2002) Hai câu thơ nổi bật: "Ta - dòng sông phẳng lặng/Nuôi sóng thần đáy sâu" không chỉ thể hiện sự khiêm tốn mà còn ẩn chứa chiều sâu cảm xúc, cho thấy sự phong phú và đa dạng trong tâm hồn người sáng tác.
"sự kiêu” nhưng là kiêu hãnh về sự dữ dội, về sự bung phá bất ngờ” [46]
Ngoài các tác phẩm thơ của Nguyễn Hữu Quý, còn có nhiều bài viết và bình luận phân tích hình ảnh cùng biểu tượng nghệ thuật trong sáng tác của ông Những tác phẩm này không chỉ làm nổi bật giá trị nghệ thuật mà còn giúp người đọc hiểu sâu hơn về ý nghĩa và thông điệp mà nhà thơ muốn truyền tải.
Nguyễn Đào Nguyên đã đánh giá tập thơ "Im lặng trên cao" của Nguyễn Hữu Quý, cho rằng đây là một tác phẩm thể hiện sự chân thực và bình dị, với những nốt tâm trạng phong phú hơn so với trước đây Tập thơ, được viết trong khoảng năm năm gần đây, phản ánh độ dày trải nghiệm sống của tác giả, mang đến cảm giác cô đơn và sâu lắng Nguyên nhận xét rằng "Im lặng trên cao" không chỉ là sự im lặng của những trải nghiệm phong phú, mà còn là một cách tồn tại hướng thiện, kết nối con người với vũ trụ Tác phẩm thể hiện sự sâu sắc và chân thành, khiến người đọc cảm nhận được hạnh phúc từ những nguồn thương vô hạn và những bài học quý giá mà tác giả đã tích lũy.
Trong bài viết Cảm thức làng trong “Hạ Thủy những giấc mơ” - in trên
Trong Tạp chí Văn học nghệ thuật số tháng 8 năm 2016, nhà lí luận phê bình Đỗ Ngọc Yên nhận định rằng việc viết về biển đảo từ góc nhìn văn hóa làng còn khá hiếm, và nhà thơ Nguyễn Hữu Quý là người tiên phong trong cách tiếp cận này Tập trường ca “Hạ thủy những giấc mơ” với 9 khúc và khoảng 1.250 câu thơ được viết theo thể tự do, dễ đọc và dễ cảm nhận Điều đặc biệt là biển đảo trong thơ của anh không xa lạ hay trừu tượng, mà trở nên gần gũi như những làng quê, nơi mà gần 80% dân số sinh sống Qua tác phẩm, biển hiện lên rõ nét và sâu sắc, nhờ vào cảm xúc nghệ thuật dày đặc mà nhà thơ đã truyền tải đến độc giả.
Nhà thơ Nguyễn Bình Phương trong bài viết "Hành trình sinh ở cuối dòng sông" nhận định rằng cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước trở nên gần gũi qua từng hạt cát, ngọn cỏ và số phận con người Ông cho rằng ở làng cát trắng, chiến tranh và hy sinh là phần tàn khốc nhưng cũng vĩ đại nhất của cuộc sống, làm cho quê hương trở nên thiêng liêng và sâu sắc hơn.
Hình tượng người mẹ trong thơ Nguyễn Hữu Quý được khắc họa sâu sắc, từ hình ảnh mẹ cụ thể đến biểu tượng mẹ miền Trung với gánh nặng của đất đai và quê hương Nỗi vất vả và giản dị của mẹ không chỉ thể hiện vẻ đẹp con người miền Trung mà còn chứa đựng tình yêu thương sâu sắc của nhà thơ dành cho mẹ và quê hương Trong tác phẩm Trường ca Sinh ở cuối dòng sông, nhà thơ Mai Nam Thắng nhấn mạnh sự kết hợp hài hòa giữa ba yếu tố Mẹ - Quê hương - Dòng sông, thể hiện tình yêu Tổ quốc và khát vọng hòa bình Đoạn kết của trường ca mang ý nghĩa tổng kết, khẳng định sự đoàn tụ và không thể chia cắt của đất nước, qua hình ảnh những người lính trở lại quê hương với khát khao đoàn viên.
Hiện nay, nhiều bài viết phê bình về thơ Nguyễn Hữu Quý đã được đăng tải trên các báo và tạp chí, tập trung vào những đặc điểm nổi bật như hình ảnh người lính, người mẹ, Tổ quốc và quê hương Những tác phẩm này đã đưa ra những nhận định sâu sắc về giá trị nội dung và nghệ thuật trong sáng tác của ông, khẳng định sự đóng góp và nét riêng của Nguyễn Hữu Quý đối với sự phát triển của thơ Việt Nam hiện nay.
Qua các nghiên cứu và phê bình, các tác giả đã chỉ ra những đặc điểm chính trong thơ của Nguyễn Hữu Quý, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về tác phẩm của ông Những bài viết và ý kiến trước đó là nguồn gợi ý quý báu cho việc phát triển nghiên cứu này Vì vậy, tôi chọn đề tài "Thơ Nguyễn Hữu Quý" cho luận văn thạc sĩ với hy vọng khẳng định giá trị đặc sắc trong các tác phẩm của ông, từ đó khắc họa chân dung nhà thơ trong lòng độc giả và góp phần vào tiến trình thơ ca Việt Nam hiện đại.
phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp tổng hợp tư liệu: Để có cái nhìn khái quát vấn đề
Phương pháp hệ thống giúp người viết phân tích sự hình thành, vận động và phát triển của các yếu tố trong thơ Nguyễn Hữu Quý, đồng thời cung cấp cái nhìn và đánh giá cá nhân về tác phẩm của ông.
Luận văn này áp dụng phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp và so sánh để nghiên cứu các sáng tác thơ của Nguyễn Hữu Quý Nghiên cứu sẽ khám phá nhiều khía cạnh trong thơ của ông, từ góc nhìn cá nhân của nhà thơ đến bối cảnh thời đại Đồng thời, việc so sánh thơ của Nguyễn Hữu Quý với các thế hệ cùng thời và các giai đoạn sáng tác của ông cũng sẽ được thực hiện để làm nổi bật sự phát triển và đặc trưng trong phong cách sáng tác của ông.
Phương pháp thi pháp học là công cụ hữu hiệu để nghiên cứu các hình thức nghệ thuật trong từng tác phẩm văn học, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa Việc áp dụng phương pháp này không chỉ mở ra những cách tiếp cận đa dạng đối với tác phẩm, mà còn góp phần thúc đẩy các nghiên cứu văn học đến những khám phá mới mẻ.
Phương pháp lịch sử là công cụ quan trọng giúp khám phá ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử và xã hội đến con người, Tổ quốc và quê hương, từ đó làm nổi bật vai trò của những yếu tố này trong việc hình thành nên thơ Nguyễn Hữu Quý.
Đóng góp của luận văn
Nếu đề tài này thành công, nó sẽ trở thành công trình nghiên cứu đầu tiên phân tích một cách hệ thống về giá trị nội dung và nghệ thuật của thơ Nguyễn Hữu Quý, từ đó khẳng định những đóng góp của ông đối với thơ Việt Nam đương đại Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho giảng dạy, học tập và tìm hiểu về thành tựu của thơ Việt Nam từ sau đổi mới (1986) đến nay.
Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung chính của luận văn có cấu trúc gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài và thơ Nguyễn Hữu Quý
- Chương 2: Quan niệm nghệ thuật, cảm hứng chủ đạo và cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Hữu Quý
- Chương 3: Biểu tượng nghệ thuật, không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Hữu Quý.
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI VÀ THƠ NGUYỄN HỮU QUÝ
Khái quát về thơ Việt Nam từ đổi mới (1986) đến nay
1.1.1 Bối cảnh lịch sử xã hội
Chiến thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh vào mùa xuân năm 1975 đánh dấu mốc son quan trọng trong lịch sử dân tộc, dẫn đến sự thống nhất đất nước và niềm vui hàn gắn vết thương chiến tranh Cuộc sống hòa bình nhanh chóng mang lại sức sống mới cho các vùng quê, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn Tuy nhiên, hai cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và phía Tây Nam đã ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống nhân dân và sự phát triển kinh tế Sau khi kết thúc các cuộc chiến, thiên tai như bão lũ và hạn hán kéo dài, cùng với những hạn chế trong công tác lãnh đạo, đã khiến đất nước gặp nhiều thử thách Để vượt qua khó khăn, Đảng xác định cần tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Năm 1986 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong chiến lược của Đảng, giúp đất nước vượt qua khó khăn, phục hồi kinh tế và tạo không khí dân chủ Công nghiệp hoá và hiện đại hoá là nền tảng để hàn gắn vết thương chiến tranh và thúc đẩy phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế Từ đầu thế kỷ XXI, Việt Nam bước vào thời kỳ mới với nhiều thành tựu lớn, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, đồng thời khẳng định vị trí trên trường quốc tế Tuy nhiên, quá trình hội nhập quốc tế cũng đặt ra thách thức về nguy cơ mai một bản sắc văn hóa dân tộc và những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, như phân hóa giàu nghèo, tham nhũng, tội phạm và lối sống thực dụng, đòi hỏi giải pháp phù hợp để bảo vệ giá trị văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa.
1.1.2 Các khuynh hướng thơ Việt Nam đương đại
Công cuộc đổi mới bắt đầu từ năm 1986 đã tác động sâu sắc đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có văn học Văn học không còn chỉ mang tính ngợi ca mà đã dám “nói thẳng”, “nói thật” về những vấn đề phức tạp và đau lòng Sự chuyển mình này đã giải phóng cá tính sáng tạo của các nhà thơ, khiến họ phải thích ứng với những thay đổi chóng mặt của cuộc sống Thơ ca giai đoạn này thể hiện cái nhìn tỉnh táo, như một hình thức tra vấn không ngừng về đời sống, với khát vọng đổi mới được tiếp sức từ công cuộc đổi mới của đất nước Sự đa dạng trong thơ ca, với những câu thơ mang tính đối thoại và gần gũi với đời sống thường nhật, phản ánh ý thức tạo dựng nhãn quan nghệ thuật mới Nhà thơ không chỉ là người rao giảng mà còn là người đánh thức những khát khao và niềm trắc ẩn của con người, thông qua việc trình bày cảm nhận cá nhân về các giá trị nhân sinh.
Các nhà thơ đã khám phá "cái tôi ẩn giấu", dũng cảm phơi bày bi kịch nhân sinh và phản biện các giá trị ổn định để tìm kiếm giá trị mới trong xã hội hiện tại Nhiều tác phẩm mang cảm hứng "giải thiêng" và khát vọng đổi mới ngôn từ Trong nghệ thuật, nhận thức xã hội không đồng nhất với suy nghĩ cá nhân, và văn bản văn học không chỉ là tuyên huấn hình ảnh Quan trọng nhất, nhà thơ cần tạo ra quan niệm riêng về đời sống, thể hiện qua câu chữ và hình tượng, không phải qua lý thuyết khô khan Sau 1986, các nhà thơ chú trọng đến tính đa nghĩa của ngôn ngữ, đồng thời tạo ra sự nhòe mờ trong ngôn từ và biểu tượng, nhằm gia tăng chất ảo trong thơ và khuyến khích người đọc giải mã các tác phẩm qua nhiều chiều liên tưởng văn hóa khác nhau.
Công cuộc đổi mới đã mở ra cơ hội giao lưu và hội nhập với thế giới, khiến thơ ca không thể giữ nguyên hình thức nghệ thuật cũ Xuất hiện những giọng thơ mới, mang đậm ảnh hưởng phương Tây, dẫn đến các cuộc tranh luận kéo dài về mối quan hệ giữa “ta” và “tây” trong thơ, đặc biệt sau sự kiện “Sự mất ngủ của lửa” của Nguyễn Quang Thiều và các tác phẩm của Lê Đạt, Dương Tường, Đặng Đình Hưng Những nhà thơ này đã ý thức phá vỡ cấu trúc tuyến tính, tạo ra dòng chảy đứt nối và gia tăng tính đồng hiện của hình ảnh, đồng thời khuyến khích người đọc tự xác lập mối liên hệ giữa các hiện tượng khác nhau.
Từ năm 1986 đến nay, thơ Việt Nam đã trải qua một quá trình hiện đại hóa mạnh mẽ, mặc dù chưa đạt đến đỉnh cao nghệ thuật Tuy nhiên, sự thay đổi trong tư duy và nhận thức đã diễn ra một cách toàn diện, tạo đà cho những kết tinh nghệ thuật trong các giai đoạn tiếp theo.
Thơ Việt Nam đương đại phát triển trong bối cảnh lịch sử - xã hội biến động, dẫn đến sự xuất hiện của nhiều khuynh hướng, trào lưu và trường phái Điều này phản ánh sự tìm kiếm dân chủ và khát vọng đổi mới trong học thuật, tạo ra sự đa dạng cho nền thơ và phong cách sáng tác của các nhà thơ Hiện nay, chúng ta nhận thấy nhiều khuynh hướng và nhóm thơ khác nhau, với một số nhà thơ sáng tác theo nhiều phong cách trong các giai đoạn khác nhau Sự đan xen và cộng hưởng về thi pháp là điều dễ nhận thấy Tuy nhiên, thơ Việt Nam đương đại có thể được phân chia thành các khuynh hướng chính.
Khuynh hướng nghiêng về thi pháp truyền thống trong thơ Việt Nam xuất hiện từ thời Thơ mới và thơ kháng chiến, chủ yếu do các nhà thơ trước 1945 và các nhà thơ trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thể hiện Đến thơ Việt Nam đương đại, khuynh hướng này vẫn tiếp tục ảnh hưởng mạnh mẽ tới sáng tác của các nhà thơ Dù vẫn giữ nét truyền thống, nhưng các tác giả hiện nay như Nguyễn Hữu Quý, Dương Kiều Minh, và Nguyễn Ánh Nông đã có sự cách tân trong bút pháp nghệ thuật, cấu trúc bài thơ và hình ảnh, tạo nên dấu ấn riêng trong nền thơ ca đương đại.
Khuynh hướng thi pháp hiện đại đang ngày càng nổi bật, với những thể nghiệm đa dạng từ các trường phái thơ phương Tây như tượng trưng và siêu thực Các nhà thơ trẻ trưởng thành sau năm 1975 là những chủ thể chính trong xu hướng này, cùng với một số nhà thơ thế hệ trước như Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Hoàng Cầm và Dương Tường, những người mong muốn đổi mới và tiếp tục các thể nghiệm thi pháp hiện đại mà họ đã bắt đầu trước đây.
Khuynh hướng thi pháp hậu hiện đại đang nổi bật trong thơ của các nhà thơ trẻ trưởng thành sau 1975, như Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Đặng Thân, Inrasara, Nguyễn Bình Phương, Ly Hoàng Ly, Trần Tiến Dũng, và Nguyễn Hữu Hồng Minh Nhóm thơ này bao gồm các phong trào như Ngựa biển, Vụt hiện, và Dự báo phi thời tiết, thể hiện sự đổi mới và sáng tạo trong cách tiếp cận thi ca.
Từ năm 1986 đến nay, sự chuyển biến trong đời sống xã hội, văn hóa và tư tưởng đã thúc đẩy nhu cầu đổi mới thơ ca, đặc biệt là quan niệm thẩm mỹ về hiện thực và con người Điều này đã dẫn đến sự hình thành của các khuynh hướng thơ đa dạng, tồn tại song song và ảnh hưởng lẫn nhau về thi pháp nội dung và thi pháp hình thức, bao gồm thể loại, triết mỹ và ngôn ngữ Sự giao thoa giữa các yếu tố này khiến cho việc phân chia thi pháp riêng biệt của từng nhà thơ hay từng tác phẩm trở nên khó khăn.
1.1.3 Khái niệm hậu chiến và đề tài sau chiến tranh
Văn học hậu chiến, theo Từ điển tiếng Việt, được định nghĩa là “thuộc về sau chiến tranh”, tức là văn học được sáng tác sau năm 1975 tại Việt Nam Thể loại này còn được biết đến với tên gọi “Văn học đương đại Việt Nam” và nằm trong phạm trù “Văn học hiện đại”.
1.1.3.2 Đề tài sau chiến tranh thời hậu chiến
Trong văn học Việt Nam, chiến tranh là một đề tài lớn được khai thác bởi nhiều nhà văn, nhà thơ, không chỉ trong văn học chiến tranh mà còn trong văn học hậu chiến Dù đã bước ra từ cuộc chiến đau thương, nhưng dư âm của chiến tranh vẫn hiện hữu trong đời sống hàng ngày Với sự phát triển của đất nước, các tác giả có những cách nhìn khác nhau về chiến tranh, phản ánh những tổn thất và đau thương mà dân tộc đã trải qua Tiêu biểu cho khuynh hướng này là các tác phẩm như “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh và “Bến không chồng” của Dương Hướng Một số nhà văn tiếp cận chiến tranh từ góc nhìn của những người chiến thắng, sử dụng hình thức tráng ca như “Ngàn dâu” của Hồ Phương Bên cạnh đó, văn học hậu chiến cũng có sự góp mặt của những tác giả không trải qua cuộc chiến, như Nguyễn Đình Tú với “Xác phàm” Thế hệ nhà văn trực tiếp trải qua chiến tranh thường thiên về lối viết “tả trận”, trong khi thế hệ sau nghiêng về “nghiền ngẫm” thế sự.
Thơ Nguyễn Hữu Quý
Nguyễn Hữu Quý, sinh ngày 14 tháng 4 năm 1956 tại Thanh Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình, đã nhập ngũ ngay sau khi tốt nghiệp cấp III vào mùa hè năm 1974 Ông bắt đầu sự nghiệp quân sự tại Đoàn 559 và sau đó gia nhập Binh đoàn Trường Sơn (Binh đoàn 12) Từ năm 1974 đến 1996, ông đã gắn bó với đồng đội và nhân dân hai nước Việt - Lào trên tuyến đường Trường Sơn, nơi chứng kiến nhiều kỳ tích lịch sử và những mất mát đau thương trong cuộc chiến Những trải nghiệm này, cùng với hình ảnh những đồng chí dũng cảm hy sinh và nỗi đau của các bà mẹ mất con trong ngày đất nước thống nhất, đã trở thành nguồn cảm hứng mạnh mẽ để Nguyễn Hữu Quý cầm bút sáng tác.
Nguyễn Hữu Quý nhận thức rõ ràng về con đường sáng tác từ sớm, vì vậy ông đã theo học cử nhân Văn tại Trường Đại học Khoa học Huế.
Nguyễn Hữu Quý tốt nghiệp cử nhân Văn năm 1987, tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp thơ ca sau này Sau khi hoàn thành học tập, ông trở lại quân ngũ và sống hơn hai mươi năm trong môi trường quân đội, để lại nhiều kỷ niệm và cảm xúc sâu sắc Những trải nghiệm này không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống của ông mà còn in đậm trong đề tài sáng tác Trong thơ của Nguyễn Hữu Quý, các chủ đề về chiến tranh, tình yêu quê hương và nỗi đau do chiến tranh mang lại luôn gây ấn tượng mạnh mẽ, trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo trong các tác phẩm của ông.
Với niềm đam mê văn chương cuộc đời, Nguyễn Hữu Quý đã thật sự chuyển bước ngoặt lớn bằng việc bước hẳn sang con đường nghệ thuật Năm
Năm 1997, Nguyễn Hữu Quý bắt đầu công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội với vai trò biên tập viên và trưởng ban thơ Dù quê gốc ở Quảng Bình, anh đã kết hôn và sống lâu dài tại Quảng Trị trong thời gian phục vụ quân đội Tuy nhiên, khi theo đuổi sự nghiệp viết văn, Nguyễn Hữu Quý và gia đình đã chuyển ra Hà Nội sinh sống.
Nguyễn Hữu Quý chính thức bắt đầu sự nghiệp văn chương vào năm 1997 khi tham gia Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam Đến năm 2000, ông được kết nạp vào Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp văn học của mình Sự kiện này không chỉ khẳng định tên tuổi mà còn thể hiện những đóng góp đáng kể của Nguyễn Hữu Quý cho nền văn học nước nhà.
Nguyễn Hữu Quý, một nhà thơ tài năng, đã để lại dấu ấn riêng trong quá trình sáng tác của mình, với ngòi bút hướng về con người và tình yêu thương Ông cho rằng hạt nhân của cái đẹp trong cuộc sống chính là tình yêu giữa con người Dù cống hiến cho nhiều thể loại, thơ vẫn là lĩnh vực ông thành công nhất Trong cuộc trò chuyện, ông nhấn mạnh rằng quan điểm sáng tác của mình là “Bám riết vào đời sống để phát hiện và sáng tạo văn học.” Trong cuốn lý luận phê bình văn học "Theo dòng thi ca", ông khẳng định rằng các nhà thơ đích thực là những người lương thiện, với ngòi bút hướng về tình yêu và sự cao đẹp của con người Ông nhấn mạnh rằng những tác phẩm mang nỗi buồn vui và khát vọng của dân tộc luôn được quần chúng kính trọng và yêu mến, bởi chính những người dân bình dị đã tự chọn ra anh hùng và nhà thơ cho dân tộc mình Những giá trị mà nhân dân ghi nhận mới thực sự bền vững và trở thành di sản văn hóa của đất nước.
Thơ Nguyễn Hữu Quý mang đậm tính truyền thống nhưng có sự đổi mới trong bút pháp nghệ thuật Ông nhấn mạnh rằng thơ cần một công chúng rộng lớn để truyền cảm và chia sẻ, và để làm được điều đó, tác phẩm phải chứa đựng tư tưởng lớn, gắn bó với đất nước và nhân dân Thơ cần có tình cảm và tâm hồn dân tộc như lá cây cần diệp lục để xanh tươi Nếu tách rời khỏi đất nước và nhân dân, thơ sẽ khó tồn tại vững chắc Tuy nhiên, để truyền tải tư tưởng và nội dung lớn, thơ cần đạt chất lượng nghệ thuật cao, vì chính chất lượng này quyết định giá trị của mỗi tác phẩm, đồng thời cũng là thử thách lớn trong quá trình sáng tác.
Nguyễn Hữu Quý nhấn mạnh rằng thơ truyền thống giữ vững các hình thức thi ca quen thuộc và tuân thủ lề luật đã có, đồng thời chú trọng đến tứ thơ và chất liệu đời sống, phản ánh cách cảm thụ của công chúng Việt Ông cho rằng cả thơ truyền thống và cách tân đều cần xem xét hai yếu tố quan trọng: nội dung và cách thể hiện Thơ cần phải chứa đựng tư tưởng và tình cảm; nếu không, những từ ngữ dù được sắp xếp khéo léo cũng sẽ trở thành những "xác" ngôn từ vô hồn và lạnh lẽo.
Theo Nguyễn Hữu Quý, dấu ấn đổi mới trong thơ truyền thống sau năm
Năm 1975 không chỉ đơn thuần là một hình thức nghệ thuật bí ẩn hay sự giải thiêng, mà còn là một cuộc khám phá sâu sắc về nguồn cơn của thi ca Thế hệ này đã tìm ra những hình ảnh thi ca lấp lánh và sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ một cách sáng tạo và nhuần nhuyễn, mang đến những tác phẩm đầy sức sống và ý nghĩa.
1.2.3 Quá trình sáng tác và các giải thưởng
Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý, nhập ngũ năm 1974 khi mới 18 tuổi, đã có bài thơ đầu tiên được đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân đội hai năm sau đó Hành trình sáng tác của ông ngày càng phát triển về cả số lượng lẫn chất lượng, tạo nên một gia tài thơ phong phú cùng nhiều giải thưởng văn học danh giá Thơ của Nguyễn Hữu Quý đã để lại dấu ấn sâu sắc trên thi đàn Việt Nam và được đón nhận nồng nhiệt bởi bạn đọc qua các thế hệ.
Hơn 20 năm lao động sáng tạo nghệ thuật miệt mài, Nguyễn Hữu Quý đã xuất bản một khối lượng tác phẩm không hề khiêm tốn cùng nhiều thể loại Trong đó thơ là thể loại để lại nhiều dấu ấn hơn cả Nguyễn Hữu Quý xuất bản ẩn phẩm đầu tay với tập thơ “Mười nghìn khát vọng” năm 1997, sau đó lần lượt nhiều tập thơ khác gồm: “Huệ trắng “- 1999, “Làng Đảo” - 2002, “Im lặng trên cao” - 2007, “Những hồi chuông màu đỏ - 2009, “Nơi tôi gọi là Tổ quốc” -
2018 Không dừng lại ở thơ, Nguyễn Hữu Quý còn khẳng định tên tuổi của mình thông qua các trường ca: “Sinh ở cuối dòng sông” - 2003, “Vạn lý
Trường Sơn” - 2009, “Hạ thủy những giấc mơ” - 2013
Nguyễn Hữu Quý là một nhà thơ đa tài, không chỉ tập trung vào đề tài chiến tranh mà còn khai thác các khía cạnh của đời sống sau chiến tranh Ông để lại dấu ấn sâu sắc trong cả thơ ca và văn xuôi, với hai tập bút ký nổi bật là “Dưới tán cây bồ đề” và “Cầu vồng Hiền Lương”, cả hai đều xuất bản năm 2006 Ngoài ra, tác giả còn có tác phẩm truyện ngắn “Biển tím” được phát hành vào năm 2014, thể hiện sự đa dạng trong sáng tác của ông.
Nguyễn Hữu Quý không chỉ nổi bật trong lĩnh vực sáng tác mà còn tích cực tham gia vào công tác nghiên cứu phê bình văn học Sự cống hiến của ông được thể hiện rõ nét qua nhiều tác phẩm phê bình đa dạng, trong đó có tác phẩm nổi bật “Bên dòng thi ca”.
2008, “Theo dòng thi ca” - 2015 Ngoài ra, ông còn có một số bài viết viết cho thiếu nhi như: “Hương rừng thơm đồi vắng”- 2011, “Trong lời mẹ ru” - 2013,
Nhà thơ đã để lại dấu ấn qua hai tác phẩm nổi bật: “Nếu chúng mình có phép lạ” (2015) và “Thì thầm tiếng cát” (2017) Mặc dù số lượng tác phẩm chưa nhiều, nhưng chúng đã phác họa rõ nét chân dung của ông và đánh giá một cách đầy đủ những thành công về nội dung cũng như nghệ thuật trong sáng tác.
Nguyễn Hữu Quý là một nhà văn có nhiều đóng góp đáng kể cho nền văn học Việt Nam, và những cống hiến của ông đã được ghi nhận qua nhiều giải thưởng Ông đã nhận giải thưởng từ Bộ Quốc phòng cho các tác phẩm nổi bật như "Sinh ở cuối dòng sông" (2004) và "Vạn lý".
Nguyễn Hữu Quý và thế hệ các nhà thơ trưởng thành từ người lính
Sau các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, dân tộc ta đã hình thành một đội ngũ nhà văn quân đội hùng hậu, đóng góp quan trọng cho nền văn học nước nhà Trong “tổng tập nhà văn quân đội, kỷ yếu và tác phẩm”, có khoảng 300 nhà văn chiến sĩ được ghi nhận Các nhà thơ trưởng thành từ người lính có thể chia thành ba thế hệ, trong đó thế hệ đầu tiên là những nhà thơ chống Pháp nổi tiếng trước Cách mạng Tháng Tám như Thanh Tịnh, Thâm Tâm, và Tố Hữu Tiếp theo là giai đoạn chín năm kháng chiến với các tên tuổi như Huỳnh Văn Nghệ, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Cầm, Trần Dần, Hữu Loan, Thôi Hữu, và nhiều tác giả khác như Quang Dũng, Chính Hữu, Trần Mai Ninh, Phùng Quán, Minh Huệ, Trần Hữu Thung, Vũ Cao.
Thế hệ nhà thơ mang áo lính nổi bật nhất trong thời kỳ chống Mỹ bao gồm những tác giả tiêu biểu như Phạm Ngọc Cảnh, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Anh Ngọc, Nguyễn Đức Mậu, Vương Trọng, Văn Lê, Trần Đăng Khoa, Lê Anh Xuân, Nguyễn Mỹ, Thu Bồn, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Duy, Thanh Thảo và Lưu Quang Vũ Những nhà thơ này đã góp phần quan trọng vào nền văn học Việt Nam, thể hiện tâm tư, tình cảm và tinh thần yêu nước trong bối cảnh kháng chiến.
Thế hệ nhà thơ bộ đội xuất hiện sau chiến tranh và đổi mới từ năm 1975 đến nay, với những tên tuổi như Trần Anh Thái, Hồng Thanh Quang, và Nguyễn Hữu Quý, đã góp phần làm nên nền thi ca cách mạng hào hùng và nhân văn Nguyễn Hữu Quý, một nhà thơ xuất thân từ quân ngũ, bắt đầu sáng tác từ năm 1976, thể hiện quan điểm của những người lính trong cuộc sống mới Các tác phẩm của ông không chỉ ngợi ca Tổ quốc và người lính mà còn thể hiện những trăn trở về đời tư và thế sự Với giọng thơ riêng biệt, giản dị nhưng ám ảnh, Nguyễn Hữu Quý đã khẳng định được vị trí của mình trong lòng độc giả qua nhiều đề tài khác nhau.
Khi viết về mẹ, hình ảnh cát không bao giờ thành đường gợi nhớ đến những lối đi mà mẹ thường hát ru Viết về chiến tranh, nhân dân không gieo hạt chiến tranh nhưng lại phải gặt hái những cánh đồng nước mắt, thể hiện nỗi đau và mất mát Đối với thân phận người phụ nữ cô đơn, việc lấy rét làm chồng và mùa đông hôn lễ với cải ngồng phù dâu phản ánh sự khắc khoải và đơn độc trong cuộc sống.
Nguyễn Hữu Quý đã làm phong phú nền thơ dân tộc, đặc biệt là thơ của các nhà thơ xuất thân từ người lính, đồng thời mang đến cái nhìn mới mẻ về quá khứ và hiện tại của xã hội Thơ ông nổi bật với sự nồng nàn, đắm đuối, không thiên về triết luận hay trí tuệ như Hoàng Trần Cương, Trần Anh Thái, cũng không chỉ đơn thuần là dòng cảm xúc như Trần Đăng Khoa, mà là sự lay động sâu sắc trong trái tim độc giả Hình ảnh Bà mẹ, làng quê và dòng sông trong thơ ông như một “cõi đi về” đầy yêu thương, là nguồn mạch nuôi dưỡng tâm hồn thi sĩ Trong trường ca "Sinh ở cuối dòng sông", những hình ảnh này hòa quyện tự nhiên, tạo nên một không gian thi ca sâu lắng và ý nghĩa.
Nước mắt mẹ tôi chảy khuyết cánh buồm Hết tuổi thôi nôi tôi có hai cánh tay làm hai bờ sông cho mẹ
Có một dòng sông chảy dưới ba thước đất và nửa làng quê khuất dưới mặt trời
Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý sáng tạo một cách độc đáo khi kết hợp ba yếu tố Mẹ - Quê hương - Dòng sông thành một chỉnh thể hữu cơ, thể hiện tình yêu Tổ quốc, khát vọng hòa bình và ý chí thống nhất non sông Những hình ảnh thơ của ông chứa đựng cảm xúc sâu sắc, với âm thanh tiếng ve nơi rừng sâu phản ánh sự lắng đọng của nỗi đau trong quá khứ và hiện tại của người lính, người đã trải qua chiến tranh và viết về nó với sự thấu hiểu.
Kêu sớm kêu chiều kêu cả hoàng hôn
Kêu bồ đề xanh kêu tượng đài trắng kêu buốt lá kim trên cây mọc thẳng tiếng kêu nhức nhức Trường Sơn
Ve kêu ở nghĩa trang Trường Sơn gợi nhớ đến những chiến sĩ vô danh đã hy sinh trong cuộc kháng chiến Họ sống và chết trong sự lặng lẽ, nhưng sự hi sinh của họ đã góp phần viết nên trang sử hào hùng của dân tộc Những câu thơ thể hiện rõ nét tầm vóc lịch sử và lòng dũng cảm của những người lính Trường Sơn.
Ngấm sâu vào đất, chảy ngầm vào sông Xưa trận mạc, giờ hư không
Vẫn hồn chiến sĩ ở trong đời
Qua hàng trăm cuộc tìm kiếm mộ liệt sĩ kỳ lạ của các nhà ngoại cảm, có thể khẳng định sự tồn tại của một thế giới tâm linh bí ẩn xung quanh chúng ta Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý đã dũng cảm đưa những điều huyền bí này vào tác phẩm thơ của mình.
Dưới lòng đất âm thầm, trong tầng cây nhiệt đới xanh rì
Có vạn vạn cuộc đời ẩn hiện
Họ vẫn yếu nhau từ quy đêm đêm gọi nhau khắc khoải
Nhà thơ thường thể hiện nỗi ám ảnh về những linh hồn chưa siêu thoát, đang khao khát trở về quê hương, phản ánh sự tàn khốc của chiến tranh Hàng triệu đồng đội đã hy sinh vì nền độc lập và tự do của đất nước.
Mười nghìn đồng đội nằm rải rác trên Trường Sơn, với mười nghìn hài cốt vẫn chưa được trở về trong khói hương Họ sống trong cô đơn, lặng lẽ giữa cõi vắng, mười nghìn tâm hồn cô quạnh lang thang giữa những nẻo rừng hoang.
Bài thơ “Khát vọng Trường Sơn” dài ba mươi câu, trong đó hai câu đầu tiên và hai mươi tám câu còn lại đều bắt đầu bằng điệp khúc "mười nghìn" Việc lặp lại điệp khúc này không chỉ thể hiện sự thấu hiểu và đồng cảm của nhà thơ đối với đồng đội, mà còn làm nổi bật những điều giản dị nhưng thiêng liêng trong cuộc sống.
Mười nghìn tấm bia ghi nhớ những đồng đội đã ngã xuống trên Trường Sơn, mười nghìn hài cốt vẫn chưa được trở về với khói hương, và mười nghìn linh hồn đơn côi vẫn lang thang trong cõi vắng của rừng sâu.
Mười nghìn khát vọng được về bên nhau!
Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý muốn thay lời những đồng đội đã khuất, truyền tải chân lý rằng cái chết không chỉ là sự kết thúc mà còn là sự tồn tại của tinh anh Lời thơ thể hiện sự thấu hiểu sâu sắc, khiến người đọc khó phân biệt giữa tiếng nói của người sống và tiếng vọng từ những người đã ra đi Những con người từng trải qua những tháng năm khốc liệt bên nhau, chia sẻ lý tưởng, sự sống và cái chết, không còn gì có thể chia rẽ họ Những anh linh ấy chỉ mong được bên nhau mãi mãi trong cõi vĩnh hằng Qua những vần thơ, Nguyễn Hữu Quý khắc họa cuộc đoàn tụ tâm linh bất diệt giữa những người đã khuất và những người sống hôm nay, tạo nên một kết nối sâu sắc giữa các thế hệ.
Những bài thơ nổi bật nhất của ông thường xoay quanh chủ đề những người lính đã hy sinh, những ngôi mộ vô danh và linh hồn liệt sĩ trở về quê mẹ Qua đó, tác phẩm thể hiện sự an ủi và bù đắp cho những người đã cống hiến tuổi trẻ và xương máu cho dân tộc Đây không chỉ là mong ước cá nhân của nhà thơ mà còn là khát vọng chung của toàn thể người dân Việt Nam.
Nguyễn Hữu Quý là một trong những nhà thơ tiêu biểu của đội ngũ văn học Việt Nam hiện đại sau 1986, với một gia tài phong phú bao gồm nhiều thể loại như thơ, trường ca, bút ký và truyện ngắn, cùng với nhiều giải thưởng văn học danh giá trong hơn 20 năm sáng tác Tuy nhiên, thơ của ông chưa gây được tiếng vang lớn trên thi đàn, có thể do tính kén độc giả; nếu chỉ đọc lướt qua, người ta có thể cảm nhận thơ ông mang tính truyền thống với ít sự đổi mới Nhưng khi đọc kỹ, độc giả sẽ nhận ra sự sâu sắc trong tác phẩm, thể hiện nỗi đau và tình yêu quê hương đất nước của nhà thơ, đặc biệt là trong bối cảnh chiến tranh Nguyễn Hữu Quý, một nhà thơ trưởng thành từ quân đội, vừa giữ gìn thi pháp truyền thống, vừa không ngừng đổi mới bút pháp nghệ thuật, tạo nên một phong cách giản dị nhưng ám ảnh, chiếm được một vị trí đặc biệt trong lòng bạn đọc.
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT, CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN HỮU QUÝ
Quan niệm nghệ thuật
2.1.1 Khái niệm quan niệm nghệ thuật
Theo Từ điển Thuật ngữ văn học, quan niệm nghệ thuật được định nghĩa là nguyên tắc giải thích thế giới và con người thông qua hình thức nghệ thuật, giúp thể hiện đời sống với chiều sâu nhất định Nó không chỉ là hình thức bên trong của việc chiếm lĩnh đời sống, mà còn là hệ quy chiếu ẩn chứa trong nghệ thuật, liên kết với các phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, và trở thành thước đo cho hình thức văn học cũng như cơ sở của tư duy nghệ thuật.
Quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ cá tính sáng tạo của họ Khi tư duy nghệ thuật của nhà văn phát triển và biến đổi theo từng giai đoạn, thời kỳ và trào lưu văn học, thì quan niệm về thế giới và con người cũng sẽ thay đổi tương ứng.
Theo giáo sư Trần Đình Sử, "quan niệm nghệ thuật về con người" là cách mà nhà văn thể hiện hiểu biết, đánh giá, trí tuệ, tầm nhìn và cảm xúc của mình về con người trong tác phẩm Ông nhấn mạnh rằng việc phân tích và mổ xẻ hình tượng con người trong văn học giúp làm nổi bật các nguyên tắc và biện pháp thể hiện, từ đó tạo ra giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các nhân vật Do đó, giá trị của hình tượng nghệ thuật trong các tác phẩm sẽ được làm rõ hơn.
Quan niệm nghệ thuật về con người và thế giới được định nghĩa trong Từ điển Thuật ngữ văn học, nhấn mạnh rằng nó thể hiện qua điểm nhìn nghệ thuật, chủ đề cảm nhận đời sống, kiểu nhân vật và biến cố trong tác phẩm, cũng như cách xử lý các biến cố và mối quan hệ giữa các nhân vật.
Quan niệm nghệ thuật về đời sống xã hội và con người, dù được diễn đạt khác nhau, đều phản ánh cốt lõi của vấn đề Nó thể hiện cách nhìn, cảm nhận, suy nghĩ và giải thích của nhà văn về con người trong từng tác phẩm Quan niệm này luôn gắn liền với cảm thụ và biểu hiện sáng tạo chủ quan, bất kể sự tương đồng hay khác biệt trong miêu tả đối tượng.
2.1.2 Quan niệm nghệ thuật trong thơ Nguyễn Hữu Quý
2.1.2.1 Quan niệm nghệ thuật về đời sống xã hội
Bốn tập thơ "Mười nghìn khát vọng", "Huệ trắng", "Làng Đảo", và "Im lặng trên cao" của Nguyễn Hữu Quý phản ánh bức tranh đời sống thanh bình của Việt Nam sau chiến tranh Những tác phẩm này ghi lại sự hồi sinh của đất nước và những thành tựu ban đầu trong công cuộc kiến thiết Qua thơ, hình ảnh Hà Nội thanh bình, êm ả hiện lên, thể hiện sự thay da đổi thịt của xã hội Việt Nam thời hậu chiến.
Hà Nội, nghìn năm vẫn tinh mơ, như buổi sáng tôi trở về ga Hàng Cỏ từ phương Nam Trong lòng tôi vang vọng cái tên cổ, gợi nhớ thời kỳ ngựa xe lộc cộc chốn kinh thành Đi trong không khí trong lành, tôi gặp Hồ Gươm với màu sắc huyền bí, nghe tiếng chày thậm thịch và canh gà xao xác bên bờ đê Dạo bước trên những con đường vắng vẻ, tôi nhận ra một Hà Nội quen thuộc, nơi những hàng cây còn ngái ngủ, hòa quyện cùng gió và sương từ sông Hồng.
[ Hà Nội tinh mơ - Im lặng trên cao] Bức tranh đời sống không chỉ được nhà thơ khắc họa mang vẻ đẹp thanh
Hà Nội của tôi ngày tháng xa em Nhà số 4 đêm về im ắng quá hoa đại tỏa hương vào lòng hạ gió bấc lùa xao xác lá đông
[ Hà Nội của tôi - Im lặng trên cao]
Sự thanh bình không chỉ được Nguyễn Hữu Quý khắc họa thông qua không gian mà còn thông qua hình ảnh con người rất đối giản dị, đời thường
Từ Nhà số 4 trông ra thấy cô thôn nữ chở hoa trên đường nụ hồng lóng lánh giọt sương cánh sen thấp thoáng sắc hương nội đồng
Bức tranh thanh bình của xã hội Việt Nam sau chiến tranh được Nguyễn Hữu Quý khắc họa không chỉ qua khung cảnh thành phố mà còn qua hình ảnh đặc trưng của các vùng nông thôn.
Trở về hoàng hôn mùa gặt, nơi hương rạ gợi nhớ ký ức, mặt trời quê lặn vào những hạt thóc chín, tạo nên những giấc mơ trên cánh đồng Cuối ngày, tôi tắm mình trong gió mênh mông, cảm nhận sương bùn thấm đẫm lòng chân rười rượi, lặng im lắng nghe tiếng gọi của mùa và chiều đang dần qua.
[ Về hoàng hôn mùa gặt - Làng đảo]
Nguyễn Hữu Quý đã khắc họa vẻ đẹp đặc trưng của nông thôn Việt Nam qua hình ảnh hoàng hôn mùa gặt, chân rạ thơm, mặt trời quê, hạt thóc, cánh đồng và sương bùn Những hình ảnh này không chỉ gần gũi, thân thương mà còn gợi nhớ về những kỷ niệm tuổi thơ êm đềm đã qua.
Hình ảnh nông thôn trong thơ Nguyên Hữu Quý không chỉ hiện với vẻ đẹp thành bình mà nó còn gắn với những dư vị rất riêng
Mùi khói rạ mang đến cảm giác quen thuộc nhưng vẫn đầy mới mẻ, khiến lòng người luyến tiếc như lần đầu trải nghiệm Có lẽ hoàng hôn đang giấu kín hình ảnh của một cánh đồng con gái trong tâm hồn em, tạo nên những kỷ niệm sâu sắc và đầy cảm xúc.
[Về hoàng hôn mùa gặt - Làng đảo]
Thơ Nguyễn Hữu Quý mang đến sự thanh bình từ thành phố đến nông thôn, và ngay cả những vùng biển đảo xa xôi cũng được ông ghi lại một cách chân thực và gần gũi.
Làng tươi vui với nụ cười rạng rỡ, những câu chèo vang lên trong không khí hân hoan Cầu vồng xuất hiện, mang lại niềm vui cho mọi người khi đón chào văn công Các chàng lính da đen bên cạnh những cô gái má hồng, cùng nhau thưởng thức những khoảnh khắc đẹp Họ cùng nhau ngắm hoa muống trắng và hái tặng cho những người thân yêu.
Trong thơ Nguyễn Hữu Quý, bức tranh đời sống thanh bình hiện lên với những mảnh tươi xanh của hiện thực, được nhà thơ trân trọng và ca ngợi Bức tranh này không chỉ trải rộng từ thành thị đến nông thôn, mà còn vươn tới những vùng đảo xa xôi Qua đó, ta nhận thấy sự nhạy cảm của nhà thơ trước những biến đổi của cuộc sống và đất nước sau chiến tranh.
Nguyễn Hữu Quý, một nhà thơ từng tham gia chiến tranh, mang đến bức tranh sống động về ký ức chiến tranh trong thơ của mình Khác với các nhà thơ thế hệ trước, ông viết từ góc nhìn của một người lính đã trải nghiệm thực tế, chứng kiến sự hy sinh và mất mát tại Trường Sơn Những hồi ức về chiến tranh và tình đồng đội trong những năm tháng gian khổ luôn hiện hữu trong tác phẩm của ông, tạo nên chiều sâu tâm linh và cảm xúc chân thật.
Cảm hứng chủ đạo trong thơ Nguyễn Hữu Quý
2.2.1 Khái niệm cảm hứng chủ đạo
Cảm hứng chủ đạo là khái niệm được các nhà nghiên cứu mỹ học và văn học cổ điển quan tâm từ sớm Trong tư tưởng mỹ học của Hêgel, cảm hứng chủ đạo được coi là "trung tâm điểm" và "vương quốc thật sự" của nghệ thuật, thể hiện mối liên hệ hữu cơ giữa người sáng tạo và người tiếp nhận Ông xem nghệ thuật như một sự miêu tả cảm tính của các tư tưởng, là hình thức chân lý tuyệt đối Hêgel cho rằng cảm hứng chủ đạo là biểu hiện của tâm hồn nghệ sĩ, thể hiện qua sự thâm nhập vào đối tượng, và là sản phẩm của một tinh thần phong phú, hoàn thiện, nơi mà tất cả các lực lượng bản thể phổ quát được thực hiện.
Bêlinxki nhấn mạnh rằng trong những tác phẩm thi ca chân chính, tư tưởng không chỉ là khái niệm trừu tượng mà là linh hồn tỏa sáng trong tác phẩm, giống như ánh sáng chiếu vào pha lê Cảm hứng trong sáng tạo thi ca là sự thiết tha và nhiệt tình nồng cháy được gợi lên bởi một tư tưởng nào đó Cảm hứng biến nhận thức trí tuệ về tư tưởng thành lòng say mê, trở thành năng lượng và khát vọng mãnh liệt Theo Bêlinxki, cảm hứng chủ đạo chính là khung hướng cơ bản của tác phẩm, xuyên suốt toàn bộ thế giới nghệ thuật của văn học.
Các nhà nghiên cứu trong nước đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về cảm hứng chủ đạo Theo nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi, cảm hứng chủ đạo được định nghĩa là trạng thái tình cảm mãnh liệt và say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, liên kết chặt chẽ với một tư tưởng xác định và sự đánh giá nhất định, từ đó tác động đến cảm xúc của người tiếp nhận tác phẩm.
Nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương trong cuốn "Lý luận văn học - vấn đề và suy nghĩ" nhấn mạnh rằng cảm hứng chủ đạo đóng vai trò quyết định trong tác phẩm văn học Cảm hứng này thấm nhuần vào toàn bộ cấu trúc tác phẩm, bao gồm không gian, thời gian, tính cách nhân vật, xung đột, cốt truyện, ngôn từ và giọng điệu Việc tìm hiểu cảm hứng chủ đạo cần phải dựa trên toàn bộ logic nghệ thuật của tác phẩm, chứ không chỉ tập trung vào một bộ phận hay thành tố nào.
Cảm hứng chủ đạo đóng vai trò quan trọng trong sáng tác và thưởng thức tác phẩm văn học nghệ thuật, là nguồn động lực thúc đẩy quá trình sáng tạo Nó không chỉ kích thích tình cảm của độc giả mà còn tạo điều kiện cho việc tiếp nhận tác phẩm một cách sâu sắc hơn.
2.2.2 Một số cảm hứng chủ đạo trong thơ Nguyễn Hữu Quý
Cảm hứng chủ đạo là yếu tố cốt lõi trong tác phẩm văn chương, ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình sáng tác và phản ánh đặc điểm nghệ thuật cũng như phong cách của tác giả Nó xuất phát từ hiện thực khách quan và mang dấu ấn của thời đại Hành trình sáng tác thơ ca của Nguyễn Hữu Quý bắt nguồn từ những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cho đến thời kỳ hậu chiến đầy gian khổ, tiếp nối những thành tựu ban đầu trong quá trình đổi mới đất nước Vì vậy, cảm hứng chủ đạo trong thơ Nguyễn Hữu Quý là sự hòa quyện giữa cảm hứng ngợi ca Tổ quốc, người lính và những trăn trở về đời tư.
2.2.2.1 Cảm hứng ngợi Tổ quốc
Cảm hứng ngợi ca Tổ quốc và quê hương là mạch cảm hứng trữ tình mang tính sử thi, khơi dậy lòng tự hào dân tộc và tạo nguồn cảm xúc dồi dào cho các nhà thơ, đặc biệt là Nguyễn Hữu Quý Mỗi nhà thơ thể hiện cảm hứng này với những dấu ấn riêng, tạo nên sự đa dạng và phong phú trong sáng tác.
Nguyễn Đình Thi ca ngợi Tổ quốc và quê hương qua hình ảnh của những người dân anh hùng trong cuộc chiến Mỗi xóm làng, con đường đều hiện lên như những "luỹ thép", và mỗi ngọn núi, dòng sông đều lấp lánh với những câu chuyện anh hùng, thể hiện vẻ đẹp và sức mạnh của nước Việt.
Nam “rũ bùn đứng dậy sáng loà”
Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa”
Nguyễn Hữu Quý thể hiện tình yêu Tổ quốc và quê hương một cách đặc biệt qua thơ ca Những hình ảnh giản dị về quê hương và đất nước của ông gợi nhớ đến những vùng quê thân thuộc, dù có cách trở ngàn trùng trên biển cả.
Trập trùng sóng, trập trùng mây giữa bao la biển, ô hay, làng mình!
Cũng vàng hoa mướp rung rinh cũng tươi hoa muống trắng tinh cạnh nhà
Cảm hứng ngợi ca quê hương và Tổ quốc trong thơ Nguyễn Hữu Quý bắt nguồn từ những điều giản dị, như hình ảnh ngôi làng nhỏ bên biển hay những địa danh đặc trưng của đất nước Những câu thơ như "Cao Bằng / núi đứng như chum / rượu mời bằng mắt đẹp" và "cây uống nước đầu nguồn / quả mời bằng tay ấm" thể hiện sự gắn bó sâu sắc với quê hương, tạo nên nét đẹp bình dị nhưng đầy ý nghĩa trong tác phẩm của ông.
Trong thơ của Nguyễn Hữu Quý, lòng tự hào và ca ngợi Tổ quốc được thể hiện mạnh mẽ qua cảm xúc trước vẻ đẹp oai nghiêm của cố đô, nơi lưu giữ nét cổ kính Hình ảnh Long - Ly - Quy - Phượng cùng với những dấu ấn vượt thời gian tạo nên một bức tranh sống động về di sản văn hóa và lịch sử của đất nước.
Có chi say vậy Huế ơi trăm năm còn đó những lời rêu phong
Cố đô chẳng khuất má hồng Long - Ly - Quy - Phượng bên vòng tay thơm
[Với Huế - Im lặng trên cao]
Nhà thơ thể hiện cảm hứng ngợi ca Tổ quốc và quê hương qua niềm tự hào về vẻ đẹp hùng vĩ của đất nước, với những núi non trùng điệp Đỉnh núi xưa hòa quyện với biển cả, tạo nên hình ảnh ấn tượng của thiên nhiên, nơi dấu vết của sóng biển đã lưu lại trên đá suốt hàng thiên kỷ.
[Hồn Yên Tử - Im lặng trên cao]
Trong thơ Nguyễn Hữu Quý, cảm hứng ngợi ca không chỉ tập trung vào vẻ đẹp mà còn khắc họa nỗi đau thương của đất nước trong chiến tranh Những đau thương ấy đã tạo nên hình ảnh của một dân tộc anh hùng, kiên cường trong quyết tâm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
A1 vô danh / A1 lừng danh bay bốn bể / A1 vô danh nằm dưới chân đồi / Tiếng chuông ngân vọng cõi người / Ngổn ngang mây trắng phủ trời Điện Biên [A1-
Thơ của Nguyễn Hữu Quý mang chiều sâu tư tưởng nhờ vào việc ngợi ca và tái hiện những đau thương, anh hùng của Tổ quốc Điều này thể hiện cái riêng của một nhà thơ đã trải qua chiến tranh, từ đó viết về những trải nghiệm và cảm xúc chân thực liên quan đến chiến tranh.
2.2.2.2 Cảm hứng ngợi ca người lính Để có một đất nước tươi đẹp như ngày hôm nay, hơn ai hết Nguyễn Hữu Quý là người thấu hiểu cái giá mà dân tộc ta phải trả để đổi lấy nền độc lập tự do của nước nhà Do vậy, bên cạnh cảm hứng ngợi ca Tổ quốc, quê hương trong thơ ông còn thể hiện cảm hứng ngợi ca người lính Đó là hình ảnh những người lính nhân văn trong những rung cảm trước cái đẹp của thiên nhiên và con người
Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Hữu Quý
2.3.1 Khái niệm cái tôi trữ tình
Thơ trữ tình là công cụ giúp con người khẳng định bản chất tinh thần của mình trước thế giới, đồng thời xây dựng hình tượng cá nhân Cái tôi đóng vai trò trung tâm, thể hiện suy nghĩ, tình cảm và thái độ qua giọng điệu riêng, tạo nên sự độc đáo trong nghệ thuật của từng nghệ sĩ Văn học nghệ thuật, chịu ảnh hưởng sâu sắc từ triết học, cho thấy cái tôi gắn liền với sự tiến hóa trong quan niệm về con người, từ đó ảnh hưởng đến ý thức nghệ thuật và việc thiết lập quan niệm về cái tôi trữ tình.
Trong ý thức sáng tạo của nghệ sĩ, cái tôi được hiểu qua nhiều khía cạnh phong phú, từ cá tính sáng tạo đến cái nhìn về con người như một đối tượng thẩm mỹ trong quá trình sáng tác Cái tôi cũng phản ánh số phận con người, không lặp lại ở mỗi giai đoạn sáng tác và mang dấu ấn của thời đại Khi xem xét cái tôi trữ tình trong mối tương quan với thế giới nghệ thuật, nó thể hiện sự tự ý thức của cái tôi qua nghệ thuật, là quan niệm về cái tôi được truyền tải qua các phương tiện trữ tình.
Cái tôi trong thơ được thể hiện qua hai hình thức: cái tôi của nhà thơ và cái tôi trữ tình Đôi khi, nhà thơ cũng chính là nhân vật trữ tình trong tác phẩm của mình, tạo nên sự hòa quyện giữa thơ ca và cuộc sống của tác giả Sự thống nhất này phản ánh rõ nét cái tôi nhà thơ trong từng tác phẩm.
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lý chói qua tim
Trong thơ, có những trường hợp mà nhân vật vẫn mang hình ảnh “tôi”, nhưng “tôi” đó không phải là nhà thơ Khi nhà thơ “hóa thân” và nhập vai vào nhân vật, đó chính là cái tôi trữ tình thể hiện sự kết nối sâu sắc giữa tác giả và nhân vật.
Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
2.3.2 Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Hữu Quý
2.3.2.1.Cái tôi người lính đại diện cho thế hệ của mình nhưng có tiếng nói riêng độc đáo
Nguyễn Hữu Quý, một nhà thơ quân đội, sáng tác những bài thơ hào hùng ca ngợi chiến công và thể hiện cái tôi của người lính, đại diện cho thế hệ của mình Thơ ông không chỉ là tiếng nói riêng, mà còn thay lời cho những người đã hy sinh, cống hiến tuổi thanh xuân cho Tổ quốc.
Chết không còn tuổi đã đành Cái tên Mẹ đặt cũng thành khói mây Biết hồn xanh cỏ, xanh cây
Vô danh vẫn cứ đắng cay lòng mình!
Nguyễn Đình Thi, khác với những nhà thơ cùng thời, đã thể hiện cái tôi trữ tình như một tiếng nói đại diện cho những người lính sống sót Ông khắc họa hình ảnh người lính ra trận với tinh thần hiên ngang và bất khuất.
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội Những phố dài xao xác hơi may Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng, lá rơi đầy
[Đất nước - Nguyễn Đình Thi]
Bên cạnh cái tôi đại diện cho cả thể hệ ra trận, cón có cái tôi với những cảm xúc riêng tư
Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc?
Thơ Nguyễn Hữu Quý không chỉ phản ánh cái tôi của người lính đại diện cho đồng đội, mà còn thể hiện cái nhìn sâu sắc của người lính hậu chiến về những người đã hy sinh Qua đó, tác giả bày tỏ sự cảm thương và tri ân đối với đồng đội đã ngã xuống.
Người Quảng Trị - người Thái Bình dưới ba tấc đất cốt hình của ai?
Vô danh ba chục năm dài giờ chung một mộ khắc hai tên người
[Nấm mộ hai bia - Im lặng trên cao]
Nhà thơ thể hiện tấm lòng thương cảm sâu sắc trước sự hy sinh của đồng đội qua hình ảnh một ngôi mộ khắc hai tên người Tên tuổi của những người lính, vốn là của riêng họ, giờ đây đã hòa quyện thành một tên chung của đất nước, biểu trưng cho tình đoàn kết và sự gắn bó.
Sau chiến tranh, nhiều người đã quên đi quá khứ, nhưng Nguyễn Hữu Quý, với tâm hồn của người lính, vẫn day dứt về những đồng đội đã hy sinh tuổi trẻ và mãi mãi nằm lại nơi chiến trường Những kỷ niệm này trở thành nguồn cảm hứng và nỗi trăn trở cho nhà thơ.
Mấy mươi năm lặng lẽ dưới rừng sâu, chúng tôi đến đưa anh về với mẹ trong cơn mưa tầm tã của tây Trường Sơn Thác trời tuôn, gió nghiêng ngã bốn bề, tấm ni long che hài cốt như cây đẫm buốt mưa rừng Tay đồng đội nâng niu đồng đội, cơn mưa rừng trào khóe mắt rưng rưng!
[Con mưa rừng chiều nay - Huệ trắng]
Nguyễn Hữu Quý đã khắc họa cái tôi của người lính, đại diện cho thế hệ của mình với một tiếng nói riêng biệt Thơ của ông không chỉ là lời nói thay cho những người đã hy sinh vì Tổ quốc, mà còn là tiếng lòng của những người lính nhìn lại quá khứ sau chiến tranh Cái tôi này mang đến những suy ngẫm và trăn trở về những năm tháng hào hùng đã qua, cũng như những di sản của chiến tranh trong cuộc sống thời bình.
2.3.2.2 Cái tôi trữ tình với sự trăn trở suy tư về những xung đột xã hội nổi cộm trong đời sống hôm nay
Trong xã hội hiện đại, giá trị tinh thần đang bị mai một do ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường, khi mà giá trị vật chất được đề cao quá mức Cuộc sống bận rộn khiến con người trở nên cô đơn và lạc lõng Khi trở về quê hương, nơi vốn thân thuộc, người ta cảm nhận rõ sự thay đổi và khoảng cách giữa mình và nơi chốn đã từng gắn bó.
Về quê như kẻ lạ ra phố giống người thừa bạn thân xa xôi quá ta, bỗng thành chơ vơ !
[Tâm trạng - Im lặng trên cao]
Nhà thơ không chỉ thể hiện cảm xúc cá nhân mà còn thấu hiểu những người lao động, phản ánh nỗi lòng của họ qua hình ảnh chờ đợi và nhớ quê hương Ông khắc họa cuộc sống giản dị với những bữa cơm bên lề đường, nỗi lo âu về sức khỏe và tuổi già, cùng với sự bất định của cuộc sống mà không ai có thể biết trước.
Cuộc sống mới mang đến nhiều thay đổi cho con người, tạo ra một thế hệ trẻ chỉ biết về chiến tranh qua những câu chuyện kể từ người lớn.
Những đứa trẻ hiện đại không trải qua những khó khăn của quá khứ, không biết đến cái rét hay những ký ức đau thương từ chiến tranh Chúng học ngoại ngữ, công nghệ, nhưng dường như thiếu đi sự gắn bó với văn hóa truyền thống và những câu ca dao dân gian Những điều lạ lẫm trong cuộc sống khiến chúng không còn hiểu rõ về nguồn cội và những giá trị văn hóa mà cha ông để lại.