Nhóm bệnh nhân suy tim

Một phần của tài liệu Phân tích quang phổ tín hiệu tim loạn nhịp (Trang 82 - 85)

PHẦN 4: ỨNG DỤNG XỬ LÝ TÍN HIỆU TIM LOẠN NHỊP VÀ ỨNG DỤNG PHÂN TÍCH QUANG PHỔ TÍN HIỆU TIM LOẠN NHỊP

4.4. Nhóm bệnh nhân suy tim

Tim đƣợc cấu tạo từ những tế bào cơ hoạt động nhƣ là một cái bơm tự động để đƣa máu đi khắp cơ thể. Suy tim là tình trạng mà chức năng bơm máu của tim không đủ để cung cấp cho nhu cầu của cơ thể.

Tình trạng kém cung cấp máu do suy tim có thể dẫn đến suy những hệ thống cơ quan khác của cơ thể. Khi hoạt động bơm máu của tim không hiệu quả do tình trạng suy tim, máu sẽ ứ lại ở phía sau tim. Tình trạng xung huyết này có thể dẫn đến sự ứ dịch ở phổi và ở mô của cơ thể. Suy tim có thể đƣợc xem nhƣ là triệu chứng của suy giảm chức năng bơm của tim gây ra bởi một bệnh tiềm tàng nào đó.

Suy tim có thể đƣợc chia rộng hơn trong một bảng phân loạituỳ thuộc vào sự hiện diện của nguyên nhân nền tảng gây suy tim. Sự co bóp của tim có thể bị suy giảm do rất nhiều bệnh gây nên suy yếu cơ tim hoặc khả năng của tim trong việc dãn và đổ đầy bị suy giảm. Thêm vào đó, trong một vài trường hợp, mặc dù hoạt động bơm máu của tim vẫn còn nguyên vẹn nhƣng do những yếu tố khác gây ra bởi nhu cầu tăng cao một cách bất thường của mô cơ thể làm cho tim khó khăn trong việc trong việc cung cấp đủ máu ra ngoại biên ( đƣợc gọi là suy tim cung lƣợng cao).

Suy tim thường bao hàm sự kết hợp của hai tình trạng ở trên. Trong bài này sẽ tập trung chủ yếu vào nguyên nhân làm suy yếu cơ tim.

Suy tim có thể ảnh hưởng lên nhiều cơ quan của cơ thể không kể đến nguyên nhân khởi đầu của suy tim, sự suy yếu cơ tim sẽ làm tim mất khả năng trong việc tống máu ra hệ thống tuần hoàn cơ thể. Khi tim suy, các cơ quan khác đều bị ảnh hưởng. Quan trọng là thận bắt đầu giảm khả năng bài tiết muối và nước bình thường.

Hậu quả là thận có thể bắt đầu bị suy, phổi có thể trở nên xung huyết và khả năng gắng sức bị suy giảm.

Tương tự như vậy, dịch có thể ứ ở gan, vì vậy làm suy giảm khả năng trừ khử chất độc trong cơ thể và làm giảm khả năng tạo ra những protein cần thiết. Ruột cũng trở nên mất khả năng hấp thu chất dinh dƣỡng và thuốc. Theo thời gian, suy tim không được điều trị sẽ ảnh hưởng hầu như đến mọi cơ quan trong cơ thể.

83 Khả năng bơm máu của tim bị suy giảm bởi suy tim có thể do nhiều bệnh tạo ra. Những nguyên nhân thường gặp nhất của suy tim là bệnh mạch vành, tăng huyết áp, nghiện rƣợu kéo dài và rối loạn của van tim. Nguyên nhân ít gặp hơn gồm viêm cơ tim do siêu vi, rối loạn chức năng tuyến giáp, rối loạn nhịp tim và nhiều nguyên nhân khác nữa.

Chúng ta cũng cần chú ý đến những bệnh nhân có bệnh tim tiềm ẩn, sau khi uống một vài loại thuốc có thể dẫn đến tiến triển hoặc nặng hơn tình trạng suy tim.

Những loại thuốc đặc biệt này có thể gây giữ muối hoặc ảnh hưởng lên khả năng bơm máu của tim. Ví dụ như những thuốc thường dùng là kháng viêm nonsteroid ( NSAIDS ) bao gồm ibuprofen ( Motrin và loại khác ) và Naproxen ( Aleve và loại khác).

Những triệu chứng của suy tim tuỳ thuộc vào từng cơ quan riêng biệt bị ảnh hưởng và còn lệ thuộc vào phần còn lại của cơ thể đã “ bù trừ “ cho sự suy yếu của cơ tim. Triệu chứng thường gặp của suy tim là mệt. Mệt là dấu hiệu chỉ điểm rất nhạy cảm của suy tim, nhƣng rõ ràng nó không phải là triệu chứng đặc hiệu mà còn có thể gặp nhiều tình huống khác. Khả năng gắng sức cũng bị giảm đi. Bệnh nhân có thể không cảm giác đƣợc mức độ giảm này và họ có thể hạn chế đi lại, hoạt động vốn có của mình để thích nghi với giới hạn này.

Khi cơ thể trở nên quá tải bởi sự tích tụ dịch, phù ở hai mắt cá chân và chân có thể đƣợc ghi nhận. Thêm vào đó, dịch có thể tích tụ ở phổi, do đó gây nên khó thở đặc biệt trong lúc gắng sức và khi nằm đầu thấp. Trong một vài trường hợp, bệnh nhân không ngủ được lúc ban đêm mà phải há hốc mồm để thở. Một vài trường hợp khác không thể ngủ đƣợc khi nằm trừ khi ngồi để ngủ. Sự tích tụ nhiều dịch trong cơ thể gây tiểu nhiều đặc biệt là lúc ban đêm.

Ứ dịch ở gan, ruột có thể gây buồn nôn và chán ăn.

Bác sỹ có thể chẩn đoán suy tim dựa vào lâm sàng, dựa vào tiền sử của bệnh, thăm khám kỹ và làm những xét nghiệm có chọn lọc.

Việc hỏi bệnh sử kỹ có thể phát hiện đƣợc một hay nhiều triệu chứng của suy tim nhƣ đã mô tả ở trên. Thêm vào đó, cần quan tâm đến tiền sử bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim trước đây, tăng huyết áp, tiểu đường, hay nghiện rượu cũng là dấu hiệu cần lưu ý.

84 Thăm khám lâm sàng kỹ lƣỡng, tập trung phát hiện sự quá tải dịch trong cơ thể ( âm phế bào, phù chân, hoặc tĩnh mạch cổ nổi to ) kể cả những biểu hiện của tim ( mạch, kích thước tim, tiếng tim, và âm thổi).

Các xét nghiệm để chẩn đoán bao gồm đo điện tim ( ECG ), chụp X-quang ngực để khảo sát tình trạng nhồi máu cơ tim trước đây, loạn nhịp tim, tim to, ứ dịch ở trong và quanh phổi. Một xét nghiệm khác hữu dụng nhất để chẩn đoán là siêu âm tim. Siêu âm tim giúp biết đƣợc tình trạng của cơ tim, cấu trúc của van tim, và kiểu của dòng máu chảy. Siêu âm tim rất hữu ích trong chẩn đoán suy tim. Siêu âm có thể gợi ý lên nguyên nhân của suy tim, ví dụ như nhồi máu cơ tim trước đây, bất thường van tim. Hầu hết tất cả bệnh nhân nghi ngờ suy tim nên làm siêu âm tim vào một thời điểm nào đó.

Những nghiên cứu về y học hạt nhân giúp đánh giá toàn bộ khả năng tống máu của tim và có thể xác định đƣợc sự suy yếu chức năng này. Thông tim có thể giúp quan sát đƣợc hình ảnh của động mạch và chụp động mạch( dùng một chất cản quang bơm vào mạch máu rồi chụp, có thể thấy được qua phương pháp chụp X- quang ). Trong khi đó thông tim có thể đo đƣợc áp lực ở trong và quanh tim, đánh giá được chức năng của tim. Trong một số hiếm các trường hợp, sinh thiết mô cơ tim có thể cần đến để chẩn đoán một số bệnh đặc biệt của tim. Sinh thiết nhờ vào một dụng cụ chuyên biệt xuyên qua tĩnh mạch đƣa vào tim để lấy mô cơ tim.

Việc chọn lựa xét nghiệm tuỳ thuộc vào mỗi bệnh nhân, và những nghi ngờ về chẩn đoán.

Nhìn chung, tiến triển của suy tim có những giai đoạn ổn định, có những giai đoạn bùng phát. Tuy nhiên, quá trình của bệnh tùy thuộc từng bệnh nhân, thay đổi rất nhiều. Những yếu tố liên quan tới tiên lƣợng của bệnh nhân bao gồm bệnh tim nền tảng, đáp ứng với điều trị, mức độ tổn thương các cơ quan khác, và những bệnh nặng khác kèm theo, triệu chứng của bệnh nhân, mức độ suy giảm, và những yếu tố khác vẫn còn chƣa rõ.

Ngày nay, với những thuốc mới hơn tác động lên quá trình tiến triển của bệnh.

Do đó, tiên lƣợng nhìn chung thấy tốt hơn so với cách đây 10 năm. Trong một vài trường hợp, đặc biệt khi rối loạn chức năng cơ tim mới bị thì sự cải thiện tự nhiên không phải là không thường gặp, thậm chí một lúc nào đó chức năng cơ tim trở nên bình thường.

85 Một điều quan trọng ở bệnh nhân suy tim là nguy cơ bị rối loạn nhịp tim. Tất cả những trường hợp tử vong xảy ra ở bệnh nhân bị suy tim, thì khoảng 50% liên quan tới suy tim tiến triển, còn 50% đƣợc nghĩ là liên quan tới rối loạn nhịp tim nặng. Tuy nhiên, điều chƣa rõ là bằng cách nào để xác định tất cả những bệnh nhân suy tim có những yếu tố nguy cơ cao nhất của rối loạn nhịp tim và cách tốt nhất để ngăn ngừa hoặc điều trị chúng. Hiện nay, trên lâm sàng có dùng thuốc chống loạn nhịp và máy khử rung để điều trị.

Mặc dù thuốc có nhiều ƣu điểm trong điều trị suy tim khoảng trên 20 năm qua nhƣng có rất nhiều nghiên cứu đang đƣợc xúc tiến. Những loại thuốc mới đang đƣợc thử nghiệm trên lâm sàng bao gồm những thuốc tác dụng lên thụ cảm thể calcium, ức chế vasopeptidase và những peptides lợi tiểu. Ngoài ra, còn dùng thêm ức chế men chuyển và ức chế beta, việc dùng những thuốc này dựa trên sự hiểu biết thêm về quá trình tiến triển và hậu quả để lại do suy tim. Thêm vào đó, liệu pháp gen đƣợc tập trung nghiên cứu và đang đƣợc thử nghiệm trên động vật.

Những điều trị mới này đã đƣợc chứng minh, là một điều lạc quan chƣa từng thấy trong điều trị suy tim. Ở đa số bệnh nhân cải thiện lối sống phù hợp, dùng thuốc đúng thứ tự, có thể duy trì đƣợc hoạt động, và cảm thấy dễ chịu. Việc chọn lựa những loại thuốc nhƣ ức chế men chuyển, ức chế beta để điều trị đã cho thấy có nhiều điều đáng chú ý. Vào thế kỷ 21 chắc chắn rằng sẽ có thêm nhiều những can thiệp có hiệu nghiệm hơn.

Một phần của tài liệu Phân tích quang phổ tín hiệu tim loạn nhịp (Trang 82 - 85)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(98 trang)