CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU VỀ HÃNG XE MITSUBISHI
1.1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển
Tuy chính thức thành lập năm 1970 nhưng thực chất Mitsubishi cho ra đời chiếc xe đầu tiên từ năm 1917, Model A khi còn là công ty Mitsubishi Shipbuilding Co., Ltd. Đây là chiếc ô tô được sản xuất hàng loạt đầu tiên của Nhật Bản, là kiểu xe sedan 7 chỗ, hoàn toàn được làm bằng tay dựa trên mẫu xe Fiat
Chương 1. Giới thiệu về hãng xe Mitsubishi
Tipo 3. Model này đắt hơn so với các đối thủ đến từ 2 châu lục Âu – Mỹ. Đến năm 1921, con số xuất xưởng của model này dừng lại ở 22 xe.
Hình 1.3. Mitsubishi Model A.
Năm 1939, Mitsubishi Shipbuilding sáp nhập với Mitsubishi Aircraft Co., một công ty chuyên sản xuất động cơ máy bay được thành lập năm 1920. Công ty mới sáp nhập có tên là Mitsubishi Heavy Industries (MHI) và trở thành công ty tư nhân lớn nhất Nhật Bản. MHI tập trung sản xuất máy bay, tàu thủy, xe lửa và thiết bị máy móc. Tuy nhiên, năm 1937, công ty đã cho ra đời model PX33, chiếc sedan đầu tiên dùng cho quân đội. Đây là chiếc xe du lịch dẫn động 4 bánh đầu tiên của Nhật, với công nghệ lắp ráp sẽ được công ty sử dụng trong suốt 50 năm sau để sản xuất xe thể thao và gặt hái được vô số thành công.
Chương 1. Giới thiệu về hãng xe Mitsubishi
Ngay khi chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, công ty bắt tay ngay vào việc sản xuất ô tô. Xe buýt Fuso lại tiếp tục được sản xuất, loại xe chở hàng cỡ nhỏ 3 bánh Mizshima và xe scuto (vétpa) Silver Pigeon cũng được phát triển rầm rộ.
Tuy nhiên, các tập đoàn công nghiệp lớn của Nhật Bản đều bị giải thể theo yêu cầu của lực lượng Đồng Minh vào năm 1950 và MHI bị tách thành 3 công ty nhỏ, đều tham gia phát triển và sản xuất ô tô: West Japan Heavy – Industries, Central Japan – Industries, và East Japan Heavy – Industries. Đầu những năm 60, nền kinh tế Nhật Bản phát triển mạnh, mức lương cơ bản tăng cao là tiền đề chắp cánh cho loại xe gia đình ra đời. Central Japan Heavy – Industries, ngày nay là công ty Shin Mitsubishi Heavy – Industries, đã thành lập một ban chuyên về ô tô ngay tại trụ sở công ty năm 1953. Để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, Mitsubishi 500 ra đời, theo sau là Minica (1962) – chiếc compact 4 chỗ siêu nhỏ, động cơ 2 kỳ, 359cc vẫn còn tồn tại đến tận nay và Colt 1000, model đầu tiên của dòng xe gia đình cỡ nhỏ, Colt đã ra đời năm 1963.
Hình 1.5. Mitsubishi Colt 1000.
West Japan Heavy – Industries (nay là Mitsubishi Shipduilding &
Engineering) và East Japan Heavy – Industries (nay là Mitsubishi Nihon – Industries) cũng tiến hành mở rộng sản xuất ô tô từ thập niên 50. Đến năm 1964, 3 công ty lại được sáp nhập thành Mitsubishi Heavy Industries. Trong 3 năm liền doanh số bán của công ty là 75.000 xe/năm. Nối tiếp thành công là sự ra đời của chiếc Ganlant vào năm 1969. Lúc này công ty quyết định nên có một công ty con chỉ tập trung hoạt động trong ngành công nghiệp ô tô và Mitsubishi Motors Corporation (MMC) được thành lập vào ngày 22/4/1970 dưới sự lãnh đạo của một kỹ sư lắp ráp máy bay nổi tiếng, Tomio Kubo.
Chương 1. Giới thiệu về hãng xe Mitsubishi
Một trong chiếc lược mở rộng nhằm tăng lượng xe xuất khẩu của Kubo là liên minh với các công ty ô tô nước ngoài danh tiếng. Vì vậy, năm 1971, MHI đã bán 15% cổ phần của Mitsubishi Motors Corporation cho đại gia Chrysler, Mỹ.
Nhờ hợp đồng này mà Chrysler đã bán model Galants tại Mỹ với tên gọi Dodge Colts, đẩy doanh số bán của Mitsubishi Motors Corporation lên tới hơn 250.000 xe/năm. Năm 1976, Galants được bán tại Úc dưới cái tên Chrysler Scorpion. Số xe xuất xưởng hàng năm tăng từ 500.000 xe (1973) lên tới 965.000 xe (1978) khi Chrysler bán xe Galant với tên gọi Dodge Challenge và Plymouth Sapporo. Tuy nhiên, đây lại chính là khởi nguồn dẫn tới xích mích: Chrysler nhận thấy nguồn lợi nhuận lớn thu được từ những chiếc xe subcompact do Mitsubishi Motors Corporation sản xuất trên thị trường quốc tế, trong khi Mitsubishi Motors Corporation thấy rằng ông lớn nay đang can dự quá nhiều vào việc ra quyết định của công ty.
Hình 1.6. Mitsubishi Galant.
Năm 1980, doanh số bán của Mitsubishi Motors Corporation đạt mức 1 triệu xe. Cũng trong năm này, để tránh bị phá sản, Chrysler buộc phải bán chi nhánh tại Úc cho Mitsubishi Motors Corporation và tên công ty được đổi thành Mitsubishi Motors Australia Ltd (MMAL).
Năm 1982, lần đầu tiên thương hiệu Mitsubishi được giới thiệu tại thị
Chương 1. Giới thiệu về hãng xe Mitsubishi
Hình 1.7. Mitsubishi Starion.
Năm 1982, Mitsubishi ra mắt mẫu Pajero (được gọi là Shougun ở Anh hay Montero ở Tây Ban Nha, Ấn Độ và Châu Mỹ, trừ Braxin), là model SUV thành công nhất của Mitsubishi. Pajero nhanh chóng trở thành chiếc xe bán chạy nhất thế giới và giành giải thưởng “Chiếc 4 x 4 của năm” tại Anh, Pháp, Tây Ban Nha và Tây Đức. Mức dù doanh số bán xe SUV và xe tải nhẹ được đánh giá là bùng nổ tại Mỹ nhưng các công ty sản xuất ô tô Nhật Bản lại gạt bỏ ý kiến cho rằng điểu này cũng có thể xảy ra tại đất nước mặt trời mọc của họ. Tuy nhiên, Hirokazu Nakamura, Chủ tịch mới của Mitsubishi từ năm 1989, lại đầu tư ngân sách vào nghiên cứu và phát triển xe SUV. Kết quả, Nakamura đã giành phần thắng trong lần đánh cược này: dòng xe dẫn động 4 bánh của Mitsubishi từ Pajero, Mini kei car đến xe khách Delica đã trở thành làn sóng tiêu thụ xe SUV tại Nhật Bản trong những năm đầu thập niên 90. Đến năm 1995, thị phần trong nước của công ty tăng tới 11,6%.
Chương 1. Giới thiệu về hãng xe Mitsubishi
Hình 1.8. Mitsubishi Pajero (1982).
Mở rộng sản xuất ra nước ngoài cũng được tiến hành nhanh chóng thông qua hợp đồng liên minh với các hãng như Hyundai (Hàn Quốc), Proton (Malaysia), Volvo (Thụy Điển), PSA Peugeot Citoởn (Phỏp).
Mitsubishi Motors Corporation dự kiến sẽ tung ra thị trường model xe ô tô điện với công nghệ chuyển động iMiEV (Mitsubishi In - wheel motor Electric Vehicle) vào năm 2009. Đồng thời hãng cũng lên kế hoạch cho các doanh nghiệp và các thành phố tự trị thuê xe mini car và đợi đến năm 2010 sẽ cho bán tại các điểm bán lẻ.