Vài nét về công ty VSMT

Một phần của tài liệu Vấn đề Rác thải sinh hoạt và các biện pháp giảm thiểu (Trang 31 - 35)

3. CÔNG TÁC QUẢN LÝ RTSH TẠI THỊ TRẤN TÂN KỲ

3.1 Vài nét về công ty VSMT

Lao động và việc làm là một vấn đề được các cấp chính quyền và ban nghành quan tâm nhiều, việc thành lập công ty đã tạo điều kiện cho một số lao động chưa có việc làm và có nhu cầu để họ có cơ hội tăng thêm thu nhập cho gia đình. Vì mới được thành lập và quy mô còn nhỏ nên cơ cấu tổ chức lao động của công ty cũng tương đối đơn giản.

Hiện nay, số lượng lao động trong toàn công ty gồm có 14 người, trong đó lao động nữ chiếm nhiều hơn nam, sự chênh lệch này một phần là do đặc điểm của công việc.

Nhìn chung do khối lượng RTSH cần thu gom ngày càng nhiều nên cũng sẽ cần thêm lao động để đảm đương công việc đầy đủ và kịp thời. Bình quân qua 3 năm từ 2007 đên 2009, số lượng lao động trong công ty tăng 8 người, tương đương với 52,77%.

Chỉ tiêu

Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 So sánh (%) Số

người (Người)

Cơ cấu (%)

Số người (Người)

Cơ cấu (%)

Số người (Người)

Cơ cấu (%)

08/07 09/08 BQ

Tổng 6 100 10 100 14 100 166,7 140,36 152,77

1.Phân theo giới

6 100 10 100 14 100 166,7 140,36 152,77

- Nam 1 16,7 2 18,1 3 26,7 200 200 200

- Nữ 5 83,3 8 81,9 11 73,3 180 122,2 148,3

2.Phân theo đội

6 100 10 100 14 100 166,66 140 152,75

- Dịch vụ vệ sinh

1 16,67 2 20 2 14,3 200 100 141,42

- Vận chuyể n

1 16,67 1 10 1 7,1 100 100 100

- Thu

gom 4 66,66 7 70 11 78,6 175 157,1 165,8

- quản lý bãi rác

0 0 0 0 0 0 0 0 0

Trong đó số lượng lao động cho công việc thu gom tăng nhiều nhất, bình quân qua 3 năm tăng 7 người tương đương với 65,8%. Trong thời gian tới, khi mà sẽ có nhiều hơn các hộ gia đình được thu gom RTSH đồng nghĩa khối lượng RTSH cần thu gom cũng sẽ tăng lên, vì thế số lượng lao động cho công việc thu gom sẽ có nhiều thay đổi theo xu hướng gia tăng.

Chỉ tiêu Năm

2007

Năm 2008

Năm 2009

So sánh (%) 08/07 09/08 BQ Tiền lương

(Nghìn đồng/ngày công) 25 45 60 128,6 133,3 131

Để khuyến khích, động viên các công nhân vệ sinh môi trường tham gia công việc một cách tích cực và đạt hiệu quả, công ty áp dụng cơ chế chi trả lương cho người công nhân dựa theo ngày công, một hoặc hai công nhân sẽ được khoán việc thu gom RTSH trên từng đoạn đường, từng khu vực.

Nhìn chung mức tiền công trả cho công nhân ngày càng tăng, năm 2009 mức tiền công trên một ngày của một công nhân thu gom là 60.000đồng, so với năm 2007 là 35.000đồng/ngày công, bình quân qua 3 năm đạt 131% tăng 31%.

Trong một tháng, tùy theo khối lượng công việc sẽ được phân chia đều cho các công nhân đi thu gom, bình quân một tháng thì mỗi người đi làm khoảng 12 đến 15 ngày. Người đi làm ít ngày nhất trong một tháng là 10 ngày, người làm nhiều nhất là 20 ngày. Mức lương nhận được cũng là tương đối, đối với công nhân nữ bình quân một tháng họ được công ty trả từ 600 - 800 nghìn đồng, còn đối với công nhân nam thì bình quân một tháng họ nhậ được mức lương từ 1triệu đến 1,5 triệu đồng do họ đảm nhiệm khối lượng công việc thu gom lớn hơn và làm nhiều hơn.

Ngoài ra các công nhân họ còn có thêm một số khoản thu nhập từ việc làm thêm các dịch vụ vệ sinh được các hộ gia đình, hay các đon vị thuê. Tuy với mức lương nhậ được như vậy là chưa cao so với công việc mà họ làm, nhưng cũng đã một phần nào giúp họ trang trải cuộc sống hàng ngày.

b. Tình hình trang thiết bị phục vụ cho việc thu gom và vận chuyển RTSH

STT Loại thiết bị Số lượng

1 Xe đẩy tay 12 xe

2 Dụng cụ( cào, cuốc, xẻng) 12 bộ

3 Ôtô 2 xe

4 Xe máy thùng 1 xe

Qua bảng trên chúng ta có thể thấy được rằng là trang thiết bị được sử dụng cho công tác thu gom và vận chuyển RTSH trên địa bàn thị trấn Tiên Yêncủa công ty VSMT là còn quá ít và còn thiếu rất nhiều. Hiện nay công ty

chỉ mới có một số lượng xe đẩy tay đi thu gom rác và các dụng cụ hỗ trợ. Hai chiếc xe ôtô thì công ty phải đi thuê ngoài để vận chuyển RTSH từ điểm trung chuyển đến bãi xử lý, với giá thuê ngoài rất tồn kém.

Những loại phương tiện phục vụ công tác VSMT như xe ép rác, xe chuyên dùng vẫn chưa có, trong khi đó lượng RTSH cần thu gom qua các năm ngày càng tăng nhanh, sự trái ngược này gây ra những khó khăn rất lớn cho công tác thu gom và vận chuyển rác kịp thời. Khi có những trang thiết bị chuyên dùng hỗ trợ thì công tác thu gom, vận chuyển sẽ thuận lợi dễ dàng hơn với những công nhân đi thu gom rác.

Trong quá trình điều tra phỏng vấn các công nhân thu gom rác nhằm thu thập một số ý kiến của người công nhân trên địa bàn đã tổng hợp được một số thông tin như bảng sau

Chỉ tiêu đánh giá Số người (Người) Tỷ lệ (%)

Tổng 11 100

1.Trang thiết bị

- Đầy đủ 0 0

- Thiếu 9 81,81

- Thiếu rất nhiều 2 18,19

2.Hài lòng về mức lương nhận được

- Có 3 27,3

- Không 8 72,7

3.Mức độ hài lòng công việc

- Hài lòng 0 0

- Bình thường 3 27,3

- Không hài lòng 8 72,7

4.Công tác quản lý tại địa phương hiện nay

- Tốt 0 0

- Bình thường 6 54,5

- Trung bình 5 45,5

(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra)

Qua bảng tổng hợp ý kiến đánh giá của các công nhân thu gom RTSH chúng ta có thể thấy rằng hiện nay công tác quản lý RTSH trên địa bàn thị trấn vẫn gặp rất nhiều vướng mắc và khó khăn. Biểu hiện như tình hình trạng

thiết bị phục vụ cho công tác thu gom vận chuyển còn thiếu rất nhiều loại phương tiên chuyên dụng, hầu hết các công nhân vệ sinh và ban lãnh đạo đều cho rằng cơ sở vật chất hỗ trợ công việc còn thiếu nhiều (81,89% ý kiến đồng ý).

Vì đây là loại công việc rất vất vả, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe rất nhiều, công việc mà người ta cho rằng là thấp kém không được coi trọng nhiều trong xã hội, trong khi đó mức lương nhận được lại không thỏa đáng, những người công nhân chủ yếu là những gia đình có hoàn cảnh rất khó khăn vì thế mà hầu hết không ai muốn làm công việc này cả. Người công nhân gặp nhiều khó khăn trong công tác thu gom vận chuyển, phần lớn họ đều là phụ nữ. Bình quân mỗi ngày mỗi người phải đẩy khoảng 3 đến 4 xe rác mà mỗi xe như vậy là khoảng 0,4m3 , mà xe lúc nào cũng trong tình trạng quá tải, phải đến 0,6m3. Đây là công việc rất vất vả vì suốt ngày phải tiếp xúc với những loại rác thải bẩn, độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe bản thân họ. Họ phải chấp nhận công việc này để kiếm tiền tăng thêm thu nhập trang trải cuộc sống hàng ngày.

Một phần của tài liệu Vấn đề Rác thải sinh hoạt và các biện pháp giảm thiểu (Trang 31 - 35)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(49 trang)
w