Trước ngày đo bệnh nhân không được ăn hoặc uống bất cứ một loại nào có chứa cafein hoặc đường, những đồ uống có chứa chất kích thích. Bệnh nhân đo có thể được yêu câu không được uống bất cứ một loại thuốc nào trước 8 tiếng để đo. Trước
khi đi đo điện não bệnh nhân phải gội đầu sạch để không làm ảnh hưởng tới việc đo
EEG.
39 2.2.1.1. Cach dat mii EEG
Mũ đã được gắn vị trí các điện cực một cách chính xác để đo EEG, do vậy chỉ
cần xác định các điểm ở đường trung bình đó là A, FZ„ FCZ, CZ, CPZ„ PZ và OZ. Sau
đó đặt mũ lên đầu, sao cho đường trung bình ở mũ phải trùng với đường trung bình của đầu bệnh nhân. Mũ được kéo xuống tai của bệnh nhân, và tóc ân sau tai được gạt gọn sao cho nó không gây cản trở các điện cực. Tiếp theo kiểm tra các cảm biến đặt dọc theo đường trung bình mũ có đúng không.
Các điện cực đo nhiễu mắt được gắn trực tiếp lên trên lông mày theo đường con ngươi và khoảng 1,5 cm phía trên và phía dưới mí mắt. Các điện cực đo nhiễu mắt là VEO và HORE.
Cho Gel vào các điện cực
Đê dây kết nôi mũ với hộp nôi điện cực áp xuông da đầu của bệnh nhân. Sau đó cho gel vào ông tiêm trước khi ông tiêm tiệp xúc với da đâu . Bơm gel vào các điện cực, ứel sẽ được lõp đõy toàn bộ đõu điện cực và một lượng nhỏ thừa ở trờn đầu điện Cực.
Lây một gel khác và dây điện cực ở ngoài, phân đâu có hình nón, múc gel vào nón và kẹp nó vào phía dái tai ở hai bên tai. Sau đó nôi phân cuôi của nó với MI và M2 trên mũ điện cực. Việc này giúp ta xác định được điện trở của các điện cực cân do.
Kiêm tra trở kháng của các điện cực
Các điện cực sẽ được biểu thị trên màn hình với màu ứng với thang đo điện trở ở bên phải của màn hình. Nếu trở kháng quá cao, cần ấn nhẹ nhàng với da đầu của bệnh nhân, cũng có thể thêm vào một ít gel sao cho tất cả trở kháng được để trong khoảng phù hợp, thường thì khoảng điện trở phù hợp để có thể quan sát được rõ nhất là dưới 10 kOÓ.
Kiém tra nhiéu qua mirc
Lựa chọn mũi tên màu xanh nhỏ trên thanh công cụ để xem tín hiệu thực của EEG. Tất cả các kênh sẽ có mức nhiễu như nhau. Việc chớp mắt sẽ đi xuống kênh VEO. Chúng ta nhìn thấy một số tác dụng của việc nháy mắt trên các kênh khác, nó giảm ở vị trị các kênh ở vùng dần về phía sau dau.
ŒGăn các điện cực ngoài
Găn các điện cực từng cái một riêng biệt. Lây một dây điện cực ở bên ngoài có đâu hình nón múc gel và đê thừa ra bên ngoài một chút (gel dạng này có dạng đặc và
sap tron) . Gel sẽ được cho vào các điện cực nên chỉ để thừa ra một ít ở phía trên của bề mặt, sau đó cắm phần cuối của dây vào hộp cắm điện cực mà có vị trí điện cực của tai, cho tới khi nó tiếp xúc tốt được với da đầu của bệnh nhân. Các điện cực này được găn ở phía sau hai bên tai.
Giông với bước l áp dụng với cảm biên VEO, cũng lây các điện cực tương tự ở phía bên ngoài đê múc gel và đặt vào phía trên con ngươi gân với lông mày ở hai bên mắt sau đó căm phân cuôi của dây với VEO và HORE ở trên mũ điện cực.
2.2.2. Quá trình đo điện não
Trong suốt quá trình đo bệnh nhân có thê ngồi trên ghế hoặc nằm. Nếu như bệnh nhân bắt đầu có hiện tượng ngủ gật, kỹ thuật viên sẽ đánh thức bệnh nhân dậy. Trong quá trình đo ta thực hiện các bước: chuẩn tham số đo, đo đơn cực, lưỡng cực, kích thích. Quá trình đo điện não đồ có thể kéo dài khoảng 30 phút hoặc hơn tuỳ thuộc vào bệnh nhân.
2.2.2.1. Chuẩn calibration
Trước khi ghi điện não đồ, cần thực hiện việc đo chuẩn độ để đảm bảo là máy
sẽ có đường ghi chính xác. Sóng ghi chuẩn độ cung cấp cho ta giá trị so sánh biên độ các sóng điện não. Người ta dùng một xung điện hình chữ nhật, hình tam giác, hay hình sin, có biên độ biết trước, đưa vào đầu vào của bộ khuếch đại của máy ghi điện não đồ. Như vậy tín hiểu chuẩn độ sẽ đi vào tất cả các đường phi EEG, tạo ra một sóng chuẩn độ trên bản ghi. Căn cứ vào sóng chuẩn độ này, người ta đánh giá các sóng điện não về mặt biên độ.
đỉnh phải nhọn
2/3
[1%
Hinh 2.1: Chuan bi calibration truéc khi đo
Hình chuẩn độ: đỉnh nhọn chứng tỏ máy đủ độ nhạy để ghi được những sóng có tần số cao và biên độ nhở; đoạn dốc xuống phải bằng khoảng 2/3 tổng chiều cao.
Đề chuẩn ta lựa chọn biểu tượng calibration trên thanh công cụ, hoặc lựa chọn control > Calibration. Tiếp theo chọn biểu tượng record để bắt đầu ghi. Ta sẽ ghi một
41
ít đữ liệu kiểm tra calibration, rồi bắt đầu đo với các đạo trình theo thứ tự: đạo trình
đơn cực, đạo trình lưỡng cực bao gom: dao trinh ngang va dao trinh doc.
2.2.2.2. Dao trinh do
Để bắt đầu đo ta lựa chọn kiểu đạo trình, độ nhạy, tần số của bộ lọc thông thấp, bộ lọc thông cao và tần số của bộ lọc notch, camera mở, thời gian quét ngang man hình thường chọn là 10 giây.
Trước khi tiến hành phi ta cần biết một số công cụ cần thiết trong quá trình đo : 4 Wr [2 tars, gfds - 14/05/2007 |
Default - E-Series | 1. Calibration $4 > Page | 14/05/2007 15:07:37 >
Select new Montage
new Montage Sequence
Hình 2.2: Lwa chon dao trinh do trén phan mém ProFusion EEG 4 Đề lựa chọn đạo trình ta có 2 cách lựa chọn đạo trình đo:
Từ hộp đạo trình như trên, chọn montage có danh sách thả xuống để lựa chọn đạo trình muốn đo. Ta có thể chọn đạo trình trong công cụ trace tool, để chọn ta đi chuyền con chuột về phía góc trên phía bên phải thì nó sẽ hiện lên. Nó có thể mở trong suốt quá trình ghi và xem lại, và được đặt ở bất cứ đâu trong workspace.
Trace Tools OK
‘active Group
Ecc vị
/ Click
Montage here to
minimise tool
| Previous ||
Hình 2.3: Lựa chọn đạo trình đo Một số tính năng trong tace tools :
Sensitivy: điều khiển độ nhạy được sử để định nghĩa cường độ của trace khi hiểu thị.
Sensitivy khác với Range là công cụ quyết định cấu hình dụng cụ, đơn vi của sensitivy
la pV/mm. Sensitivity thap nhat co thé ti nut 14 2 wV/mm va cao nhat là 100 uV/mm.
Sensitivity dugc chon sé dugc lam nôi bật và giá trị sẽ được chỉ ra trong ô chữ.
L2 J2 J5 J7 J 10) [15 J|20 J|z0 J|50 }{ 100 |
v
| 10 ujmm
Hình 2.4: Lựa chọn độ nhạy
Các bộ lọc sử dụng để loại bỏ các tần số ko mong muốn từ các dấu hiệu. Thay đôi có thé được thực hiện cho cài đặt bộ lọc bằng cách chọn nút yêu cầu từ thanh Trace Tools, hoặc nhập một thiết lập bộ lọc tùy chỉnh.
Low Pass Filter
LowfjL70 || 30 15 |
.0H= v
Motch Filter
[am |Lso | s0
“Hz
High Pass Filter
Lo# JL0-5 J1 J3 J|10)
“Hz J
Hình 2.5: Lựa chọn các bộ lọc số
Nếu một trong các nút được sử dụng để chọn cải đặt bộ lọc, nút sẽ được tô đậm. Nút
cài đặt và thiết lập tùy chỉnh được hiển thị bên đưới các nút.
Bộ lọc thông thấp được sử dụng để làm giảm các thành phần tần số cao. Tín hiệu tần số cao, tiếng Ôn, từ các nguồn như cơ EMG, có thể được giảm băng cách chọn một thiết lập thấp hơn cho các bộ lọc thông thấp.
Thiết lập mặc định cho bộ lọc thông thấp là 70Hz. Khi bộ lọc thông thấp tắt, tần số bộ lọc được xác định bởi các thiết bị ghi. Các tần số thấp 15Hz và 30Hz qua bộ lọc
thông thấp có thê loại bỏ một số thành phần EEG sinh lý quan trọng.
Chọn bộ lọc Notch thích hợp với nguồn điện lưới 50Hz.
43
Bộ lọc thông cao sử dụng để giảm bớt thành phân tần số thấp. Tín hiệu tiếng ồn
tần số thấp, từ các nguồn như mồ hôi bệnh nhân, có thể được giảm bằng cách chọn một thiết lập cao hơn cho các bộ lọc thông cao. Thiết lập mặc định cho bộ lọc thông
cao là 0.5Hz. Khi bộ lọc thông cao tắt, tần số bộ lọc được xác định bởi các thiết bị ghi.
Time base: Thời gian điều khiển cơ bản được sử dụng để thiết lập bao nhiêu giây đữ liệu được hiển thị trong cửa sỐ trace. Thay đổi có thê thực hiện cho thời gian cơ sở cài đặt bằng cách chọn nút yêu cầu từ thanh Trace Tools, hoặc nhập thiết lập căn cử một thời gian tủy chỉnh.
Việc thay đôi các thiết lập căn cứ thời gian chậm hoặc tăng tốc hiển thị các trace trong quá trình ghi ở chế độ Preview. Trong quá trình xem xét lại nghiên cứu, thiết lập căn cứ xác định thời gian bao nhiêu giây được hiến thị trên mỗi trang, các căn cứ thời gian khác nhau có thể sử dụng để xem các điểm đặc trưng tốt hơn.
Time Base -ˆ
L1 JL2L3 JLs Jie J
| 15 || 30 || 60 || 120 || 150 |
10 s/page
Hình 2.6: Lựa chọn số giây hiển thị trên một trang màn hình
Có thể cầu hình gia tri mac dinh cac nut Sensitivity, Low Pass Filter, High Pass Filter, Notch Filter và Timebase xuất hiện trên thanh Trace Tools. Để làm điều này, lựa chọn Trace Tools trong tùy chọn hiện thỊ(Display Options) của màn hình tùy chọn ( Options window)
Chọn nhóm các giá trị mặc định muốn thay đôi.
Trong hàng Caption of Button, đánh vào trong text cái sẽ được hiến thị trên nút. Tiếp theo, nhập giá trị mặc định cua cac button trong hang Value of Button.
Time Base Units Seconds per Page Logarithmic Scale for Sensitivity ‘Tes
Time Base Uniis- thay đôi timebase được hiển thị số giây cho mỗi trang hoặc số mm cho mỗi giây.
Logarithmic Scale for Sensifivity- sự cho phép thay đỗi độ nhạy để sử dụng một thang đo logic hơn là một thang đo số thông thường.
ntions
#4] Data F= ,
= £4 Display Properly Value
Polygraph Time Base Units Seconds per Page “ Event Ticker Leaganthmic Scale for Sencitrvaly No
Study Times +! Sensitivity button values o Trace Tools =| Low Pass Filter button values
+L) Operation ede en Ott
#1) Montages Value of button 1 [H2} o.000000 +L) Advanced Caption of button 2 70
Valine of Fidtrn 2 [Hzè Tù mimnmn
Caption of button 3 30
Value of button 3 [Hz} 30.000000 Caption of button 4 15 Value of button 4 [Hz] 15, 000000 + Notch Filter button values
+! High Pass Filter button values +! Time Base button values Caption of button 1
This can also be changed by ght clicking on the button.
Requires the appbeation to restart to take effect
| ox || Cancel |
Hình 2.7: Các tùy chọn trong phần mềm ProFusion EEG 4 khi do 2.2.2.3. Đơn Cực
Trong máy đo điện não các điện cực được so sánh với một điện cực tham chiếu.
Đầu vào 2 của các bộ khuếch đại sử dụng chung một điện cực tham chiếu. Một cách lý tưởng, điện cực tham chiếu này nên được đặt ở một vi trí xa so với các điện cực còn lại, nơi ít bị ảnh hưởng bởi các hoạt động điện ở vùng cần đo. Trong quá trình đo điện não, kỹ thuật viên thường dùng điện cực ở hai tai để làm điện cực tham chiếu với các điện cực ở trên đầu. Thời gian cho đạo trình này khoảng 10 phút.
2.2.2.4. Lưỡng cực
Thời gian đo của quá trình này thường diễn ra trong 15 phút. Lưỡng cực là quá trình được tạo thành từ một dãy các cặp điện cực sắp xếp theo đường thắng theo chiều dọc từ trước ra sau hoặc theo chiều ngang từ trái qua phải. Đạo trình lưỡng cực sử dụng nhiều cặp điện cực, mỗi cặp điện cực nối với một bộ khuếch đại, không có đầu vào chung cho tất cả các bộ khuếch đại. Thông thường, các cặp điện cực được sắp xếp sao cho các điện cực được nhóm theo đường thăng và hai cặp liền kể có một điện cực chung. Các cặp điện cực này có tác dụng như một bộ lọc không gian, loại bỏ
những thế thay đôi trên điện rộng về biên độ và pha.Đạo trình lưỡng cực phù hợp với
việc phân tích các dạng sóng có biên độ từ nhỏ đến trung bình xảy ra cục bộ. Trong đạo trình lưỡng cực ta có đạo trình ngang và đạo trình dọc
45 Dao trinh ngang
Các cặp điện cực được liên kết với nhau theo kiểu đầu vào số 2 của bộ khuếch đại thứ nhất là đầu vào số 1 của bộ khuếch đại thứ hai. Trong đạo trình lưỡng cực, vị trí của nguồn phát ra sự thay đôi điện thế được xác định bởi sự lệch hướng của dạng sóng giữa hai kênh. Cùng một điện thế thay đôi được đưa vào đầu vào 2 của bộ khuếch đại thứ nhất và đầu vào 1 của bộ khuếch đại thứ hai sẽ tạo ra hai sóng ngược pha ở hai kênh đầu ra. Sự ngược pha này không phải do bản thân các vùng trong bộ não tạo ra thế ngược pha mà do sự sắp xếp ở đầu vào các kênh. Khi một sự kiện riêng biệt xảy ra ở điện cực chung, ta có thê định vị và xác định sự phân cực của nó.
Dao trinh doc
Với mỗi lần đo với các kiểu đạo trình khác nhau, ta đo trong vòng khoảng 10- 15 phút hoặc có thê kéo đài hơn tùy theo kĩ thuật viên, cảm thấy cần đo thêm khi cần thiết. Trong qúa trình ghi ta có thế quan sát bệnh nhân qua camera bằng cách vào view
> video để quán sát. Khi ta quan sát thấy hiện tượng sóng bất thường ta có thể nhìn lúc đó xem bệnh nhân đang làm gì có thể đánh dau vao vi trí sóng bất thường bằng cách
ấn chuột phải vào vị trị đó rồi xác định xem đó là do hiện tượng gì.
2.2.2.5. Kích thích
Trong quá trình đo ta cũng có thể lựa chọn thêm các liệu pháp kích thích như
yêu câu bệnh nhân hít thở sâu và có thê kích thích ánh sáng.
Tùy vào mỗi bệnh nhân mà bác sĩ có thê yêu cầu có nên dùng các liệu pháp
kích thích hay không. Thường các bác sĩ dùng phương thức hoạt hoá: tăng không khí, kích thích ánh sáng. Thời gian kích thích này thường diễn ra khoảng một vài phút.
Tăng thông khí (Hyperventilation): biện pháp tăng thông khí có thê kích hoạt các cơn vắng ở trẻ em. Bệnh nhân đc yêu cầu thở sâu từ 1 —2 phút. Khả năng dễ bị kích thích của các nơ-ron trong khi tăng thông khí được cho là do co thắt mạch não qua trung gian thân não do tình trạng giảm cacbonmic trong máu gây ra. Không
dùng biện pháp này với người cao huyết áp ác tính, bệnh hồng cầu hình liềm.
Kích thích ánh sáng (photic stimulation): phương pháp này dùng để hoạt hóa các phóng điện dạng động kinh toàn thể hóa. Đặt một nguồn sáng nhấp nháy cách mắt bệnh nhân 20 — 30 cm, nhấp nháy với tần số tăng dần từng nấc tới 30 Hz. Người ta khuyên làm nghiệm pháp với mở mắt, rồi cho nhằm mất lại. Cho nhắm mắt trong khi đang nhấp nháy sáng đặc biệt hữu ích làm tăng phóng điện động kinh. Kích thích ánh sáng đặc biệt hữu ích trong bệnh động kinh toàn thê hóa nguyên phát và các sóng dạng động kinh khi làm kích thích ánh sáng có thể có ở khoảng 40% bệnh nhân.
Trong quá trình đo ta sẽ thấy dữ liệu được quét ngang màn hình. Khi đo kỹ
thuật viên đánh dấu vào đữ liệu đo khi phát hiện các nhiễu do nhắm, mở mắt, hay do
cử động hoặc nói v.v.