Tính đa thanh trong ngôn ngữ trần thuật

Một phần của tài liệu Đặc điểm truyện ngắn nguyễn trí (Trang 90 - 96)

Chương 3: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT NỔI BẬT

3.3. Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Trí

3.3.2 Tính đa thanh trong ngôn ngữ trần thuật

Truyện ngắn Việt đương đại không còn mang tính chất một giọng, đơn bè, như các thời kì trước. Ngay trong bản thân các phát ngôn của người trần thuật, cùng lúc có thể có cả lời trực tiếp hay những suy tư gián tiếp của nhân vật. Khảo sát tính chất đối thoại trong ngôn ngữ trần thuật hay lời nửa trực tiếp (phát ngôn đồng thời của người trần thuật và nhân vật) có thể thấy rõ tính chất đa thanh của ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn thời kì này.

Qua tập truyện Bãi vàng, đá quý, trầm hương, cách kể chuyện của tác giả, một cách kể chuyện tưởng như có gì nói đấy, tiện đâu kể đấy, nhưng đầy chủ ý. Câu chuyện được dẫn dắt bằng giọng của người kể chuyện ở ngôi thứ ba số ít, nhưng nhiều khi người kể chuyện lại phân thân thành một vai khác, tạo nên sự đối đáp bên trong, “tạo cớ” cho chuyện kể: “ Sao mà bẩn thế? Đàn anh ai lại dấn thân vào lãnh vực này? Sao lại sợ bị xù? Cứ làm như phố thị đưa tiền cho má mì, má mì sẽ điều gái cho anh, quỵt làm sao được? Phố khác, rừng khác. Bộ tưởng rẻ lắm sao? Xuống hầm một ca khổ như trong Papillon người tù khổ sai, được chỉ vàng, chung hai phân cho nửa tiếng ôm ma nữ. Đưa tiền trước, chưa kịp làm ăn gì thằng chồng nó xuất hiện, đã mất hết còn bị bạt tai.

Ngu à? Chưa kể ba cái bệnh xã hội…” [82, 27]. Cứ thế, câu chuyện trôi đi, sinh động, cuốn người đọc về phía những cuộc đời giang hồ bị khuất lấp nơi góc rừng. Ta cũng dễ dàng nhận thấy trong ngôn ngữ của người kể.

Với hai tập truyện ngắn này Nguyễn Trí chạm đến một đề tài không phải là mới vì trước ông viết về những người dưới đáy xã hội đã có Bỉ Vỏ của Nguyên Hồng, Làm đĩ của Vũ Trọng Phụng. Nhưng ông đã có cách tiếp cận mới, cách kể chuyện rất riêng của mình qua ngôn ngữ, qua giọng điệu nghệ thuật. Qua Bãi vàng chúng ta hiểu thêm một vỉa tầng khác của hiện thực, có

thêm nhiều hiểu biết về thế giới đào đãi vàng với những đánh bổi, chia bổi, lòng bàn, sái... Tất cả được anh miêu tả, đánh giá bằng sự chiêm nghiệm đầy triết lí về cuộc đời: “Sòng phẳng luôn lạnh lẽo”, “Có hay không số phận xin miễn bàn. Kẻ nào lười biếng, kém thông minh ắt cu li xe kéo suốt đời, khôn lanh, siêng sắn ắt có cục đường phèn. Tính cách tạo nên số phận” [82, 24].

Nguyễn Trí viết tự nhiên, với cảm quan hiện đại, giữa sự hỗn độn của bãi vàng, giữa cái khắc nghiệt từng giây từng phút đối diện với cái chết của những người đào vàng, lằn ranh mong manh giữa sự sống và cái chết, giữa thiện và ác, tự đáy sâu tâm hồn của họ vẫn lấp lánh yêu thương. Thông điệp tình yêu đầy nhân văn ở cuối tác phẩm gieo vào lòng nười đọc niềm tin vào cuộc sống.

Cái tài của Nguyễn Trí là đọc Bãi vàng, chúng ta như thể đang nhắm mắt mà lắng nghe được rất nhiều giọng nói cùng vang lên. Đó cũng chính là cái đa âm phức điệu mà ta bắt gặp trong tiểu thuyết của Doxtoiepxki:

“Tướng tá rất bụi, dân đi đây đi đó không bụi mới lạ à. Giang hồ đúng nghĩa với từ này. Là sao? Giải thích nghe chơi. Được thôi, muốn đến xứ người làm ăn phải có cái miệng Tô Tần, cái đầu Chu Du. Ngọt như mật và mưu mô, giảo quyệt nhiều nhiều chút” [82, 9]. Bãi vàng là tạp âm. Nguyễn Trí bằng cảm quan tự nhiên đã cho chúng ta nghe được tất cả sự hỗn độn của bãi vàng. Điều này phản ánh nghệ thuật xây dựng nhân vật độc đáo của Nguyễn Trí. Cái âm thanh hỗn độn của bãi vàng lan tỏa tới khu đại ngàn, ẩn trú trong lời nửa trực tiếp của nhân vật Minh Tàn ở truyện Tiền rừng: “Khà khà... Nhỏ đó bị ảo tưởng thôi. Cái ảo đó xuất phát từ sự thiếu thốn tình dục. Chồng em không đáp ứng nổi thì ra vậy. Thằng Thế chỉ là vật thế thân. Em nhớ tao vì tao không cho em gì cả. Em khát vì em không thỏa, vậy thôi. Tao không chơi kiểu thằng Thế vì đó là tội ác. Ăn cướp của rừng còn hậu quả khôn lường, huống đã ở rừng lại còn cướp vợ kẻ khác.

Thần rừng đâu có tha ” [82, 186]…

Nhân vật chủ yếu bộc lộ tính cách qua hành động và ngôn ngữ cực hạn, có tính đa âm. Qua hành động ấy lại được“ đánh dấu” bằng hàng loạt các chi tiết nghệ thuật đắt giá, giàu sức gợi đã góp phần không nhỏ tạo nên thành công trong các tác phẩm của nhà văn, khẳng định tài năng viết văn đặc biệt của Nguyễn Trí.

Bảng thống kê số lượng câu cực hạn trong truyện ngắn Nguyễn Trí:

STT Tên tác phẩm Tổng số câu

Câu dưới 5 chữ

Câu từ 6 đến 10

chữ

Câu từ 11 đến 20 chữ

1 Bãi vàng 776 254 246 252

2 Giã từ vàng 1059 373 417 216

3 Đá quý 944 299 308 222

4 Cầm giùm đi 398 86 145 131

5 Trầm hương 604 185 162 164

6 Tiền rừng 739 110 193 244

7 Chuyện cũ từ rừng 293 57 83 101

8 Kỷ niệm 194 30 68 56

9 Ngọc Liên Thành 617 94 131 208

10 Có biết không 233 74 76 73

11 Nín lặng khóc 294 53 78 111

12 Nhờ nước mắt 701 219 209 176

13 Trại viên cũ quay lại đông lắm

331 79 114 95

14 Ở thành phố 300 56 93 92

15 Vô thường 195 25 61 74

16 Đoạn trường 521 106 147 82

17 Trần yên Bình ngày ấy

372 40 89 148

18 Người không Tổ quốc

228 59 74 33

19 Nhãn tiền 510 96 159 190

20 Quả báo 795 89 273 433

21 Ảo và sợ 391 50 113 133

22 Đời cứ thế trôi 178 22 58 69

23 Kì bẻo 300 32 88 130

24 Sáu Lém 537 89 124 157

25 Trắng tay 264 48 74 106

26 Trên đồi đất đỏ 268 40 74 154

27 Trời cao đất thấp 204 38 61 43

28 Trong nghĩa địa 178 28 38 71

29 Nhí đen 419 49 119 153

Qua khảo sát 29 tác phẩm của Nguyễn Trí, ta nhận thấy trong tác phẩm nhà văn đã sử dụng những câu văn ngắn, thậm chí cực ngắn. Ở tác phẩm Bãi vàng, có 752/776 câu văn có từ 20 từ trở xuống, số câu văn có từ 21 từ trở lên chỉ có 24 câu, chiếm 3,09% số câu trong toàn tác phẩm. Tác phẩm Đá quý, có 629/944 câu văn có từ 20 từ trở xuống, số câu văn có từ 21 từ trở lên chỉ có 315 câu, chiếm 33,37% số câu trong toàn tác phẩm.

Truyện Chuyện cũ ở rừng, có 241/293 câu văn có từ 20 từ trở xuống, số câu văn có từ 21 từ trở lên chỉ có 52 câu, chiếm 17,75% số câu trong toàn tác phẩm

Đặc biệt truyện Có biết không, có 223/223 câu văn có từ 20 từ trở xuống chiếm 100% số câu trong toàn tác phẩm...

Đặc điểm ngôn ngữ đó cũng thể hiện cá tính sáng tạo độc đáo của nhà văn.

Nguyễn Trí cùng với các nhà văn khác trong những nỗ lực cách tân, việc đổi mới ngôn ngữ trần thuật, đã góp phần tạo nên thành công không thể phủ nhận của truyện ngắn Việt Nam từ sau 1986. Với cách vận dụng linh hoạt ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ vùng miền; và nhất là với cách tổ chức đồng thời nhiều tiếng nói khác nhau, người trần thuật có vai trò quan trọng trong việc cấu trúc tác phẩm, dẫn dắt mạch truyện. Qua ngôn ngữ trần thuật trong tác phẩm của Nguyễn Trí người đọc còn có thể nhận diện một số biểu hiện cơ bản và xu thế vận động của ngôn ngữ truyện ngắn hôm nay.

* Tiểu kết chương 3

Trong chương này chúng tôi tập trung nghiên cứu một số phương diện cơ bản trong nghệ thuật tự sự của truyện ngắn Nguyễn Trí. Thế giới nhân vật, các kiểu loại nhân vật tiêu biểu, ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Trí. Ở phương diện thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Trí, chúng tôi thấy nỏi bật lên hai đặc điểm cơ bản: đa dạng và đặc biệt.

Đa dạng vì hầu như thế giới nhân vật của ông chúng ta gặp đủ các kiểu loại con người lao động làm đủ mọi nghề kiếm sống, có thể tạm gọi là những con người

“nhỏ bé” sống “dưới đáy” xã hội. Đặc biệt vì những nghề mưu sinh của họ, những người bình thường ít ai dám hoặc phải làm, có thể nghe kể tên các nghề nghiệp ấy nhưng không mấy ai hiểu sâu sắc về nó: đào vàng, tìm đá quý, tìm trầm hương, lâm tặc… Từ thế giới nhân vật sống động ấy hai kiểu loại nhân vật tiêu biểu và phổ biến đã xuất hiện: kiểu nhân vật loại hình và kiểu nhân vật kết hợp yếu tố loại hình và yếu tố tính cách, dù sự kết hợp này có độ “đậm – nhạt ”

khác nhau , có nhân vật được xây dựng “đầy đặn”, có nhân vật chỉ là những “ phác thảo” sơ lược nhưng tất cả đều lôi cuốn bạn đọc bởi yếu tố “lạ”, trong những “gương mặt” làm những nghề đặc biệt có tính thử thách quyết liệt này.

Để khắc họa các kiểu loại nhân vật nhiều khi chỉ qua vài chi tiết sắc nét, khắc họa nhân vật qua những hành động bất ngờ, qua đời sống nội tâm nhân vật theo hướng gợi tả chủ yếu bằng lời văn nửa trực tiếp, đặc biệt qua ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ trần thuật có đặc điểm riêng không thể bị nhầm lẫn với các nhà văn khác. Về ngôn ngữ đối thoại của nhân vật, sự xuất hiện dày đặc các vùng phương ngữ Nam bộ, tiếng lóng của giới giang hồ trên các vùng “đất dữ ” như bãi vàng, bãi đá quý… đem lại một sắc thái thẩm mĩ riêng và rất cuốn hút, về ngôn ngữ trần thuật với kiểu câu cực hạn nhà văn tạo ra một dấu ấn của riêng mình. Nguyễn Trí đã thành công khi sử dụng các từ địa phương, ngôn ngữ phố phường như ùa vào trong truyện với các từ chửi tục, chửi thề, những tiếng lóng.

Hiện thực cuộc sống vì thế chân thật hơn và trần trụi hơn.

Có thể nói, nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Trí chưa phải đã đổi mới mạnh mẽ theo xu thế cách tân trong văn xuôi Việt Nam đương đại.

Nhưng viết về những thân phận con người đặc biệt, xuất hiện trong những hoàn cảnh ngệ thuật đặc biệt nằm ở “góc khuất” của đời sống xã hội đã tạo cái

“lạ” lôi cuốn người đọc. Rời thế giới nghệ thuật ấy, lại được xây dựng bằng ngôn ngữ và giọng điệu rất riêng của Nguyễn Trí – một nhà văn viết với tâm thế “Người trong cuộc” - viết về người khác mà cũng là viết về chính thân phận mình, bằng những trải nghiệm thực tế của mình. Những nguyên nhân ấy đem lại vẻ đẹp “lạ” tuy không mới, nguyên nhân ấy đem lại thành công cho truyện ngắn Nguyễn Trí là ở trái tim đầy yêu thương và hi vọng của nhà văn dành cho những con người nhỏ bé, lầm lạc khi đã mắc vào tội lỗi vẫn khao khát hướng thiện và hạnh phúc.

Một phần của tài liệu Đặc điểm truyện ngắn nguyễn trí (Trang 90 - 96)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(105 trang)