Phát huy tính sáng tạo của học sinh trong dạy học Vật lí

Một phần của tài liệu Lí luận và phương pháp dạy học Vật lí (Trang 27 - 30)

Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG ĐA PHƯƠNG TIỆN (MULTIMEDIA) TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THPT NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH

1.2. Phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh trong dạy học Vật lí

1.2.3. Phát huy tính sáng tạo của học sinh trong dạy học Vật lí

Sáng tạo: “Sáng tạo là loại hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hay vật chất có tính cách tân, có ý nghĩa xã hội, có giá trị”.

Cụ thể hơn “sáng tạo là hoạt động tạo ra những cái mới chưa từng có trong tự nhiên hay trong xã hội. Những cái mới này phải mang lại lợi ích và hiệu quả cho con người. Trong dạy học người ta phân biệt hai cấp độ của sáng tạo là sáng tạo cái mới chỉ đối với bản thân và sáng tạo cái mới đối với nhân loại. Trong quá trình học tập vật lí của học sinh, hoạt động sáng tạo chủ yếu là sáng tạo khoa học tự nhiên chủ yếu là cấp độ thứ 1. Nó thể hiện dưới nhiều hình thức như: sáng tạo xây dựng các kiến thức vật lí (các khái niệm , định luật,…), sáng tạo vận dụng các kiến thức vật lí như giải các bài tập vật lí, lập các mô hình vật lí, các thiết bị ứng dụng các nguyên lí vật lí…,sáng tạo để cải tiến những cái cũ…”. [14]

Năng lực sáng tạo: “Năng lực sáng tạo có thể hiểu là khả năng tạo ra những giá trị về vật chất và tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới”.

Nói cách khác “năng lực sáng tạo thể hiện ở khả năng có thể tạo ra những cái mới đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống mà bằng những kinh nghiệm và những cái đã biết không đủ để đáp ứng đước”, “năng lực sáng tạo thể hiện ở khả năng giải quyết vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đặt ra”.

Những đặc trưng của năng lực sáng tạo

Theo I.Ia.Lecne thì năng lực sáng tạo thường thể hiện qua các đặc trưng sau:

- Trong rất nhiều trường hợp, quá trình sáng tạo hầu như bao giờ cũng đòi hỏi phải có sự tự lực chuyển các tri thức và kỹ năng sang một tình huống mới. Sự liên hệ giữa tình huống mới và tri thức cũ càng xa thì mức độ sáng tạo càng cao.

- Nhìn thấy những vấn điều mới trong các điều kiện quen biết “đúng quy cách”.

- Nhìn thấy chức năng mới của đối tượng quen biết.

- Nhìn thấy cấu trúc của đối tượng đang nghiên cứu. Thực chất của năng lực này là bao quát nhanh chóng, các bộ phận, các yếu tố của đối tượng trong mối tương quan giữa chúng với nhau.

- Kỹ năng nhìn thấy nhiều lời giải cho một bài toán. Thực chất kỹ năng này là hướng tâm lí chấp nhận những lời giải khác nhau, là khả năng xem xét đối tượng ở những khía cạnh khác nhau, đôi khi mâu thuẫn lẫn nhau.

- Kỹ năng kết hợp những phương thức giải đã biết thành một phương thức mới.

- Kỹ năng sáng tạo một phương thức giải độc đáo tuy đã biết những phương thức khác.

Theo tác giả Nguyễn Mạnh Hùng thì ngoài các đặc trưng đã nêu năng lực sáng tạo còn có thêm các đặc trưng khác, cụ thể như:

- Bài kiểm tra, đánh giá hiệu quả cách giải quyết vấn đề của bản thân và của những người khác.

- Biết điều chỉnh các phương án giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng và phù hợp với điều kiện thực tiễn.

- Tự chủ, tin tưởng vào khả năng giải quyết các vấn đề của bản thân. Không nản chí trước một vấn đề khó mà tìm mọi cách để tìm ra một phương án tốt nhất.

Không thể lĩnh hội sáng tạo nhờ thu thập thông tin truyền miệng hay xem biểu diễn phương thức hành động. Đối với quy trình sáng tạo không thể lập được thuật toán, không thể xây dựng hệ thống hành động nào để học sinh xem, chỉ có cách cho họ xem sản phẩm, xem bản thân kết quả hành động. Để sáng tạo, học sinh bắt buộc phải hoạt động. “Vai trò của trực giác và tưởng tượng trong sáng tạo là rất quan trọng. Khi nói về đặc điểm của trực giác thì phần lớn các nhà khoa học cho rằng nó cho ta một kết quả mới về nguyên tắc trong nháy mắt, không cần có sự tuần tự”. [14], [22]

1.2.3.2. Một số biện pháp phát huy tính sáng tạo của học sinh trong dạy học Vật lí Trong quá trình dạy học Vật lí, để phát huy được tính sáng tạo của học sinh, giáo viên có thể dùng các biện pháp sau:

- Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức mới: Tổ chức quá trình nhận thức Vật lí theo chu trình sáng tạo sẽ giúp cho học sinh trên con đường hoạt động nhận thức biết được: kiến thức nào có thể suy nghĩ dựa trên những hiểu biết đã có, khi nào phải đưa ra kiến thức mới, giải pháp mới. Việc tập trung trí lực vào kiến thức mới đó sẽ giúp cho hoạt động sáng tạo có hiệu quả, rèn luyện tư duy trực giác biện chứng nhạy bén phong phú.

- Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết: Dự đoán có vai trò rất quan trọng trên con đường sáng tạo khoa học. Dự đoán chủ yếu dựa vào trực giác, kết hợp với kinh nghiệm phong phú và kiến thức sâu sắc về mỗi lĩnh vực. Việc xây dựng giả thuyết dựa trên sự khái quát hóa những sự kiện thức nghiệm, những kinh nghiệm cảm tính.

Trong giai đoạn đầu của hoạt động nhận thức Vật lí của học sinh, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh các cách dự đoán sau:

+ Dựa vào liên tưởng tới một kinh nghiệm đã có.

+ Dựa trên sự tương tự.

+ Dựa trên sự xuất hiện đồng thời giữa hai hiện tượng mà dự đoán giữa chúng có mối quan hệ nhân quả.

+ Dựa trên nhận xét thấy hai hiện tượng luôn luôn biến đổi đồng thời, cùng tăng

hoặc cùng giảm mà dự đoán về quan hệ nhân quả giữa chúng.

+ Dựa trên sự thuận nghịch thường thấy của nhiều quá trình.

+ Dựa trên sự mở rộng phạm vi ứng dụng của một kiến thức đã biết sang một lĩnh vực khác.

- Lập luận đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra dự đoán: Từ một dự đoán mô hình giả thuyết, ta phải suy ra được một hệ quả có thể quan sát được trong thực tế, sau đó tiến hành thí nghiệm để xem hệ quả rút ra bằng suy luận có phù hợp với thí nghiệm không.

Đòi hỏi sự sáng tạo ở đây là đề xuất được phương án kiểm chứng hệ quả rút ra được. Để có thể đề ra được một phương án thí nghiệm kiểm chứng không những phải huy động những kiến thức Vật lí đã có mà còn cả những kinh nghiệm đã có trong đời sống hàng ngày hay từ những môn học, bài học khác.

Một phần của tài liệu Lí luận và phương pháp dạy học Vật lí (Trang 27 - 30)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(162 trang)