Minh họa hình ảnh tắc nhánh bên cổ TP

Một phần của tài liệu (LUẬN án TIẾN sĩ) nghiên cứu điều trị phình động mạch não cổ rộng bằng phương pháp can thiệp nội mạch (Trang 116 - 117)

BN Trần Thị O., nữ, 67 tuổi, mã lưu trữ: I67/31.TP vị trí thơng sau 3,5x3,9 mm, cổ rộng 3,5 mm, có nhánh thơng sau đi ra từ cổ túi (a), tuy nhiên khơng có thiểu sản nhánh P1 cùng bên (b) nên khi nút tắc túi phình khơng cần bảo tồn nhánh TS. Một vịng của VXKL lồi vào ĐM thông sau làm tắc nhánh bên này (c,d).

Vấn đề tắc nhánh bên không phải ở cổ TP cũng được bàn luận nhiều trong phương pháp điều trị đặt GĐNM bởi GĐNM khi phủ TP thường phải phủ luôn cả các nhánh bên lân cận túi. Các nhánh bên hay bị phủ nhất là ĐM mắt, sau đó là các ĐM thông sau, ĐM mạch mạc trước, các nhánh màng não tuyến yên [67]. Sẽ rất nguy hiểm nếu tắc nhánh bên ở hệ thân nền, như trong

nghiên cứu của Zsol Kulcsar, tỷ lệ tắc nhánh xiên của ĐM thân nền gặp ở 3/12 trường hợp và để lại di chứng về thần kinh sau này [101]. Do vậy phương pháp này khuyến cáo không nên sử dụng cho phình ĐM thân nền [67]. Nghiên cứu của chúng tơi khơng có trường hợp nào tắc nhánh bên do bị GĐNM che phủ và kỹ thuật này chỉ được áp dụng ở ĐM cảnh trong và ĐM đốt sống đoạn V4.

Nghiên cứu của Szikozar khi điều trị GĐNM đổi hướng dòng chảy cho các TP cổ rộng thấy tắc nhánh bên khi theo dõi là 2 trường hợp. Các trường hợp này do tắc nhánh bên từ từ nên có bàng hệ bù trừ, do vậy cũng khơng có biểu hiện đặc biệt về mặt lâm sàng [70].

4.5. DẪN LƯU NÃO THẤT

Dẫn lưu NT là một chỉ định cần thiết trong trường hợp BN có tràn máu não thất, giãn não thất và/hoặc tăng áp lực nội sọ. Trong số các TP vỡ có 19 BN (19,8%) phải dẫn lưu NT trước can thiệp và 2BN (2,1%) sau can thiệp. Nghiên cứu của Olli T. Tahtinen, có tới 22/61 (36%) BN phải đặt dẫn lưu não thất [11]. Tuy nhiên khi có chỉ định đặt DLNT đồng nghĩa với tiên lượng của BN sẽ kém do chảy máu thường nhiều (Fisher 4). Dẫn lưu sau điều trị thường do tắc nghẽn mạn tính, có thể phải đặt dẫn lưu não thất - ổ bụng (7,9% sau phẫu thuật trong nghiên cứu của Nguyễn Thế Hào).

a b

Một phần của tài liệu (LUẬN án TIẾN sĩ) nghiên cứu điều trị phình động mạch não cổ rộng bằng phương pháp can thiệp nội mạch (Trang 116 - 117)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(175 trang)