Phân bố diện tích đất sử dụng ở xã Tân Tiến

Một phần của tài liệu (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá thực trạng thu gom xử lý và xây dựng mô hình thực nghiệm xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật quy mô phòng thí nghiệm (Trang 40 - 42)

Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)

Tổng diện tích đất tự nhiên 992,58 100

1. Đất nông nghiệp 659,58 66,45

- Đất trồng cây hàng năm + Đất chuyên lúa

+ Đất trồng cây hàng năm khác - Đất trồng cây lâu năm

- Đất nuôi trồng thuỷ sản 309,68 296,55 13,13 322,29 27,61 31,02 29,88 1,32 32,47 2,78

2. Đất phi nông nghiệp 333 33,55

- Đất ở - Đất khác 99,83 233,17 10,06 23,49 3. Đất chưa sử dụng

(Nguồn: Phịng Địa chính xã Tân Tiến, 2011 [13])

Tân Tiến có diện tích sản xuất nơng nghiệp rất lớn, lên đến 659,58 ha chiếm 66,45% tổng diện tích tự nhiên. Đây là vùng giáp ranh thủ đô hàng năm cung cấp cho thị trường Hà Nội một lượng lớn nơng sản trong đó có rau xanh và một số loại trái cây.

Kết quả điều tra về lượng thuốc sử dụng/1 đơn vị diện tích cho thấy lượng thuốc dùng trung bình từ 550g - 650g thuốc/lần phun/ha. Trung bình mỗi vụ lúa nông dân thường phun khoảng 4 lần, mỗi vụ rau thường phun khoảng 7 lần thuốc trừ sâu bệnh, cây ăn quả, cây cảnh thường phun khoảng 10 - 20 lần/năm (Đặng Phương Lanvà cs, 2010 [4]). Như vậy, với diện tích đất nơng nghiệp tại Đặng Xá là

Khoa mơi tr-ờng-Tr-ờng ĐHKHTN Luận văn Th¹c sÜ

321,06 ha mỗi năm sử dụng khoảng 6000kg thuốc BVTV. Tân Tiến với diện tích sản xuất nơng nghiệp là 659,58 ha mỗi năm sử dụng trên 12000kg thuốc BVTV. Tổng lượng thuốc sử dụng của hai xã mỗi năm theo ước tính là trên 18000kg, tương ứng với lượng bao bì khoảng gần 3000kg.

3.1.2. Kết quả khảo sát tình hình thải bỏ bao bì thuốc BVTV tại các vùng nghiên cứu

Tại Đặng Xá, cùng với việc đầu tư phát triển sản xuất nơng nghiệp thì vấn đề sử dụng thuốc BVTV và các chất thải từ quá trình sản xuất cũng rất được quan tâm. Đặc biệt trong năm 2008 qua được sự hỗ trợ của FAO và chi cục BVTV Hà Nội đã xây 13 bể chứa thuốc bảo vệ thực vật cho nơng dân có nơi để bao bì, vỏ thuốc tập trung nhằm hạn chế ô nhiễm nguồn nước và môi trường sinh thái, nhưng chúng chưa có nắp đậy, chưa tuân thủ các yêu cầu về cách ly an toàn. Một vấn đề đặt ra là chưa có hướng xử lý hiệu quả nào cho loại rác thải này (hình 1.1).

Tại Tân Tiến, mặc dù đang được đầu tư mạnh mẽ song nền sản xuất nông nghiệp tại đây chưa được quy hoạch chi tiết, sản xuất vẫn theo hướng tự phát nhỏ lẻ và chưa được đầu tư đồng bộ. Việc sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất cũng tuân theo quy luật của sản xuất mà chưa có biện pháp quản lý nào do vậy các chất thải từ quá trình sản xuất cũng như bao bì thuốc BVTV chưa được thu gom đúng quy cách mà chủ yếu thải bỏ trực tiếp tại đầu thửa ruộng hoặc mương nước tưới (hình 1.2).

3.1.3. Kết quả khảo sát tồn dư thuốc BVTV trong bao bì tại vùng nghiên cứu

Tiến hành thu thập mẫu tại các vùng điều tra và đưa về phân tích tại Trung tâm phân tích và chuyển giao công nghệ môi trường – Viện Mơi trường nơng nghiệp (hình 1.3). Kết quả cho thấy dư lượng các hoạt chất thuốc BVTV cịn bám dính trên bao bì rất đa dạng, thay đổi theo từng vùng canh tác các đối tượng canh tác khác nhau Tại Đặng Xá, cùng với việc đầu tư phát triển sản xuất nơng nghiệp thì vấn đề sử dụng thuốc BVTV và các chất thải từ quá trình sản xuất cũng rất được quan tâm. Đặc biệt trong năm 2008 qua được sự hỗ trợ của FAO và chi cục BVTV Hà Nội đã xây 13 bể chứa thuốc bảo vệ thực vật cho nơng dân có nơi để bao bì, vỏ

Khoa mơi tr-ờng-Tr-ờng ĐHKHTN Luận văn Thạc sĩ

thuốc tập trung nhằm hạn chế ô nhiễm nguồn nước và môi trường sinh thái, nhưng chúng chưa có nắp đậy, chưa tuân thủ các yêu cầu về cách ly an toàn. Một vấn đề đặt ra là chưa có hướng xử lý hiệu quả nào cho loại rác thải này (hình 1.1).

Tại Tân Tiến, mặc dù đang được đầu tư mạnh mẽ song nền sản xuất nông nghiệp tại đây chưa được quy hoạch chi tiết, sản xuất vẫn theo hướng tự phát nhỏ lẻ và chưa được đầu tư đồng bộ. Việc sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất cũng tuân theo quy luật của sản xuất mà chưa có biện pháp quản lý nào do vậy các chất thải từ quá trình sản xuất cũng như bao bì thuốc BVTV chưa được thu gom đúng quy cách mà chủ yếu thải bỏ trực tiếp tại đầu thửa ruộng hoặc mương nước tưới, nó giao động từ 0,2 cho tới 0,5% trọng lượng bao bì (bảng 3.4).

Một phần của tài liệu (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá thực trạng thu gom xử lý và xây dựng mô hình thực nghiệm xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật quy mô phòng thí nghiệm (Trang 40 - 42)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(86 trang)