Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI BẮC KỲ TRƯỚC NĂM 1919
2.2. CHUYỂN BIẾN VỀ SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT
2.2.1. Ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước và ruộng đất công làng xã
"Công điền công thổ không phải là ruộng đất của tƣ nhân hay thuộc quyền làng xã. Công điền cũng phải là ruộng đất của nhà nước do quan chức nhà nước trực tiếp quản lý như quan điền, dinh điền, đồn điền".
"Công điền là loại ruộng đất thuộc sở hữu hoặc coi nhƣ sở hữu của nhà nước, trao cho xã thôn để quản cấp và cho xã dân cùng cày cấy theo đúng định lệ chung".
- Diện tích công điền công thổ:
Diện tích công điền công thổ ở Bắc Kỳ là 233.745 ha (chiếm tỷ lệ 47,79% so với tổng diện tích công điền của Đông Dương). So với diện tích canh tác của cả kỳ, thì công điền công thổ ở Bắc Kỳ chiếm 1/5 diện tích.
- Sự phân bố công điền công thổ:
Hầu hết công điền tập trung ở các tỉnh đồng bằng, nhất là các tỉnh ven biển nhƣ Nam Định, Thái Bình... hoặc là các tỉnh trung du - nơi thực dân Pháp chú tâm khai thác mỏ nhƣ Quảng Yên, Thái Nguyên.
Bảng 2: Tỷ lệ công điền của một số tỉnh Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX
Tỉnh Tỷ lệ công điền (%)
Nam Định 39,0
Hà Nam 37,7
Thái Bình 35,8
Ninh Bình 27,8
Quảng Yên 32,5
Hà Đông 25,6
Thái Nguyên 23,5
(Nguồn trích: Vũ Huy Phúc (1996), “Chế độ công điền công thổ Bắc Kỳ dƣois thời Pháp thống trị”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, [17, tr.51] )
Nếu đem so công điền với diện tích canh tác của từng tỉnh, từng vùng cụ thể thì tỷ lệ công điền còn nhích lên rất nhiều.
Bảng 3: Tỷ lệ công điền so với diện tích canh tác trong một số phủ huyện của Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX.
Phủ/huyện Tỷ lệ ruộng công với diện tích canh tác (%)
Phủ Lý - Hà Nam 46,0
Huyện Kim Bảng - Hà Nam 54,0
Phủ Khoái Châu - Hƣng Yên 42,5
Huyện Tiên Lãng - Kiến An 46,0
Huyện Ý Yên - Nam Định 53,0
Huyện Trực Ninh - Nam Định 59
Phủ Tiên Hƣng - Thái Bình 52
Huyện Tiền Hải - Thái Bình 59
Huyện Thái Ninh - Thái Bình 49,1
(Nguồn: Vũ Huy Phúc “Chế độ công điền công thổ dưới thời Pháp thống trị”, [17. tr.51]. Nguyễn Đức Nghinh (1998), “Ruộng đất công ở miền Đông Thái
Bình cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, (2), [15, tr.20] ).
Ở Thái Bình, nhất là vùng Kiến Xương và Thái Ninh, 95,93% các làng xã đều có ruộng đất công (118/123 đơn vị). Có nơi, toàn bộ đất đai làng xã Hạ Phán (Quỳnh Côi), Phủ Xuân Trường (Nam Định), tỷ lệ công điền chiếm 77%
diện tích đất canh tác của cả Phủ. Thậm chí có những làng chỉ có công điền, không có tƣ điền nhƣ làng Lạc Nam (Kiên Trung - Hải Hậu).
Tuy nhiên, ngay cả trong những tỉnh có nhiều công điền công thổ thì giữa các làng, sự phân bộ công điền công thổ không đều nhau có làng có, có làng không.
Tỉnh Bắc Ninh, 319 làng (trong tổng số 617 làng), không có công điền (tỷ lệ 51,5%).
Tỉnh Hải Dương, 616 làng (trong tổng số 1004 làng) không có công điền.
Tỉnh Kiến An: 24% các làng không có công điền. Có những nơi không có 1 mảnh công điền nào nhƣ Bình Đà - Ƣớc Lễ - Tả Thanh Oai.
- Tình hình phát triển công điền công thổ.
Công điền công thổ ở Bắc Kỳ có xu hướng tăng dần từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX.
Trong các làng buôn Đan Loan, Đa Ngưu, Phù Lưu, Bảo Đáp ruộng công, ruộng của các tập thể nhỏ, các tổ chức tôn giáo, tăng lữ 4,8% (cuối thế kỷ XIX) lên tới 32,44% (đầu thế kỷ XX). Hai làng Đan Loan và Đa Ngưu đạt trên 50%.
Làng Mộ Trạch - Hải Dương ruộng công tăng từ 0,93% (thế kỷ XIX) lên 33,5% (đầu thế kỷ XX), (tức đầu thế kỷ XX, ruộng công của Mộ Trạch là 245 ha trên tổng số 730 ha đất canh tác của cả làng).
Sự gia tăng diện tích ruộng công là một hiện tƣợng phổ biến trong các làng xã Bắc Kỳ thời Pháp thuộc. Hiện tượng này "là 1 chủ trương đối phó của làng xã đối với chính quyền Trung ương. Do chính sách tăng cường thuế khóa của nhà nước thực dân, các làng xã đã tìm cách kê khai một số ruộng tư hoặc ruộng bán công bán tƣ thành ruộng công để giảm mức đóng thuế".
Song theo chúng tôi, một nguyên nhân quan trọng khác nữa để dẫn tới hiện tƣợng trên chính là chính sách duy trì, bảo vệ và phát triển chế độ công điền công thổ ở Bắc Kỳ của thực dân Pháp. "Đế quốc Pháp chủ trương duy trì chế độ công điền công thổ đồng thời duy trì kinh tế địa chủ ở Bắc - Trung bộ đã đem lại một lợi ích to lớn nhất cho chúng là bần cùng hóa nông dân Việt Nam và dùng đội quân nông dân bị bần cùng hóa ấy để bóc lột nhân công giá rẻ. Đó là một tác dụng đặc biệt của chính sách ruộng đất ở Bắc - Trung Bộ khác với Nam Bộ" [4, tr.16].
Việc chia công điền:
- Đối tƣợng đƣợc chia:
Theo quy định của nhà nước phong kiến, tất cả những người dân trong làng đều được chia công điền, kể cả đàn bà góa, trẻ mồ côi, những người tàn tật. Đến thời thuộc Pháp, đối tượng được hưởng công điền bị thu hẹp lại chỉ có những người được ghi trong sổ đinh hoàn toàn được chia công điền. Ngoài ra, ở một số nơi công điền còn được chia cho cả lính, mõ, những người đi phu, đi đồn điền Nam Kỳ. Có những nơi (nhƣ làng Đông Lạc - Ninh Giang - Hải Dương) một người chết lính đến lúc chưa hết tang, cũng vẫn được hưởng quân cấp quân điền. Cũng có những ngoại lệ nhƣ ở Kiến An vẫn chia công điền cho người thương tật, cho người già, trẻ mồ côi và đàn bà góa.
- Thời hạn chia công điền.
Điểm đầu tiên trong thời hạn chia công điền ở Bắc Kỳ ở giai đoạn này đó là sự không thống nhất giữa tất cả các làng.
Nhà Nguyễn ấn định cứ 3 năm chia công điền 1 lần. Thời hạn đó lại tiếp tục được áp dụng trong thời thuộc Pháp vì rằng nếu để thời hạn hưởng ruộng kéo dài từ 4-5 năm trở lên thì dễ có khuynh hướng "biến công vi tư" và các điều lạm dụng có điều kiện xảy ra do đó, thời hạn 3 năm đã trở thành lệ chung cho toàn Bắc Kỳ.
Nhƣng trên thực tế, việc thực hiện luật lệ ấy không hoàn toàn triệt để và đồng nhất giữa các làng. Có những làng chia 5 - 6 năm/lần, có những làng chia 1 năm/lần (52 làng trong tỉnh Bắc Ninh) có những làng chia 10 năm/lần hoặc vĩnh viễn suốt đời, nhƣ ở Phúc Thọ, Bất Bạt (Sơn Tây), Tân Kim - Hân Giang - Cẩm Giàng - Hải Dương hoặc chia công điền không theo thời hạn nhất định như làng Hàm Nghi - Tứ Kỳ - Hải Dương. Bao gồm những người chót đi hay lên lão, đồng thời có nhiều người thành đinh các bộ kỳ mục nghe dƣ luận thấy cần phải chia, lúc đó mới chịu chia lại.
Trong một tỉnh như Hải Dương thời hạn chia cũng có sự khác biệt giữa các làng. Có một làng chia 4 năm/lần, có làng chia 10/lần, có 3 làng chia hàng năm/lần, có 8 làng chia 5 năm/lần, có 37 làng chia 6 năm/lần, có 71 làng chia 3 năm/lần.
Nhìn vào số liệu trên ta thấy ở Hải Dương thời hạn chia 3 và 6 năm là phổ biến nhất. Việc kéo dài thời hạn chia ruộng do nhiều nguyên nhân khác nhau. Một là thời hạn 3 năm không đủ cho việc thu hoạch tối đa về sản lƣợng cho những ruộng đất xấu. Hai là có nhiều làng có nhiều công điền (nhất là những tỉnh đồng bằng)đủ để chia trong thời gian dài.
Thời gian chia từ 3 - 6 năm hoặc lâu hơn đã tiếp tay cho sự làm ruộng công của bọn hào lý trong làng. Chính quyền thực dân Pháp chỉ có thể gây sức ép đối với cường hào dân làng nhằm giảm sự hà lạm ruộng công chứ không thể thống nhất đƣợc thời hạn chia ruộng công. Bởi cho tới tận 1937, ở
nhiều tỉnh số làng chia công điền năm một lần không chiếm quá tỷ lệ 50%
là bao.
- Cách chia công điền.
Trong làng xã Bắc Kỳ thời Pháp thuộc phổ biến 5 cách chia công điền công thổ nhƣ sau:
Cách 1: chia công điền ra nhiều khu, kỳ hào nhận phần béo bở trước.
Còn thừa mới gạt cho từng nhà tùy theo thế lực hoặc ngôi thứ trong hương thôn, những người mới vào làng mới đóng góp chỉ được phần xương xẩu. Đó là cách chia ruộng đất bất công, nhƣng phổ biến ở Bắc Kỳ.
Cách 2: ruộng công chia nhiều mảnh ghép thành 2 dãy: 1 dãy mảnh tốt và 1 dãy mảnh xấu. Mỗi người được 1 mảnh tốt và 1 mảnh xấu. Cách chia này ỏ 1 chừng mực nào đó còn công bằng hơn cách 1.
Cách 3: đặt 1 số đinh theo ngôi thứ và già trẻ, ai có chức tước và nhiều tuổi ở trên, ai bạch đinh hoặc ít tuổi ở dưới. Ruộng cũng được chia thành từng mảnh đánh số theo thứ tự: vừa, xấu, tốt... lần này những người đứng trên đầu sổ bắt đƣợc phần ruộng tốt thì lần sau phải nhận phần ruộng xấu nghĩa là bắt ngược sổ đi. Theo cách chia này thì những người ở giữa luôn nhận phần ruộng trung bình.
Cách 4: người nào nhận được ruộng tốt thì nhận được ít ruộng, người nào nhận ruộng xấu thì nhận đƣợc nhiều ruộng. Cách chia này về lý thuyết là công bằng.
Cách 5: rút thăm, chia ruộng với số đinh thành những khẩu phần. Làng có 180 đinh và 36 mẫu ruộng, 1 khẩu phần là 2 sào, đặt con số cho mỗi khẩu phần theo số từ 1 đến 180. Rồi làm thẻ biến số các khẩu phần sau đó rút thăm, ai rút phần nào đƣợc phần ấy. Cách chia này chỉ hợp lý khi ruộng công sàn sàn nhau về chất lượng. Có những người liên tục rút phải phần ruộng xấu thì sẽ phản đối và với cách chia này bọn cường hào có thể gian trá khi làm thăm.
Theo các tác giả trên, trong 5 cách chia công điền thì cách chia 1 là bất công nhất, nhung lại phổ biến ở Bắc Kỳ. Bốn cách chia còn lại tuy có đỡ bất công hơn nhưng cũng chẳng đem lại sự công bằng cho người nông dân. Ví dụ nếu chia theo cách 2 thì phải có một điều kiện là số ruộng tốt và xấu gần bằng nhau, ngoài ra các vị trí các ruộng tốt, xấu ấy không thuận lợi cho việc ghép các mảnh thành một khẩu phần.
Nếu chia theo cách thứ 3 và thứ 4 khó phân biệt đƣợc đâu là ruộng tốt, xấu, trung bình. Còn nếu chia theo cách thứ 5 thì cũng chẳng bao giờ công bằng khi nó phụ thuộc vào sự may rủi và bọn hào lý rất dễ có cơ hội hà lạm của công. Sau một lần chia công điền, người dân cày chỉ được một phần rất ít công điền (nhiều lắm là tới 1 sào Bắc Bộ). Hơn nữa, đƣợc chia công điền là một vấn đề và được hưởng hoa lợi của phần ruộng ấy lại là một vấn đề khác.
Nhiều nông dân nghèo đi vay nặng lãi không trả đƣợc đến khi nhận ruộng công liền gán nợ - hay cố luôn cho chủ nợ gọi là "cô công điền". Ở ấp Thiện Thành (Tiền Hải - Thái Bình) cứ đến vụ cứ không có tiền người nông dân phải nộp thuế "cô công điền", mỗi mẫu lấy 400 đồng làm giấy nhận lại phần ruộng kia mà cày cấy đến mùa phải nộp lại cho địa chủ 20 thùng/mẫu, một năm nộp 40 thùng. Dân nghèo mà phải "cô công điền" thì công điền đó cũng nhƣ không.
Nhƣ vậy, việc chia công điền ở Bắc Kỳ là hoàn toàn không công bằng, dù với bất kỳ cách chia nào thì bọn hào lý vẫn đƣợc lợi. Chừng nào việc chia công điền còn nằm trong tay bọn hào lý thì chừng ấy sự bất công, thiệt thòi đối với những người nông dân vẫn còn tồn tại.