1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

FTU Tiểu luận Thanh toán quốc tế Thư tín dụng LC

31 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 768,64 KB

Cấu trúc

  • A. LỜI MỞ ĐẦU (2)
    • 1. Thư tín dụng xác nhận (Confirmed L/C) (2)
    • 2. Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C) (2)
    • 3. Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C) (2)
    • 4. Thư tín dụng thanh toán dần dần về sau (Deferred payment L/C) (2)
    • 5. Thư tín dụng điều khoản đỏ (Red Clause L/C) (2)
    • 6. Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C) (2)
  • B. NỘI DUNG (3)
    • I. TỔNG QUAN THƯ TÍN DỤNG (3)
      • 1. Khái niệm (3)
      • 2. Nội dung L/C (3)
      • 3. Phân loại (4)
      • 4. Ưu nhược điểm của thanh toán bằng thư tín dụng (5)
    • II. MỘT SỐ L/C ĐẶC BIỆT (6)
  • C. CASE STUDY (25)
    • 1. CASE 1 – Tranh chấp trong thư tín dụng trả chậm (25)
    • 2. CASE 2 – Rủi ro trong thư tín dụng trả chậm (26)
  • D. PHỤ LỤC – SO SÁNH L/C CHUYỂN NHƯỢNG - GIÁP LƯNG (29)
  • E. KẾT LUẬN (30)
  • F. TÀI LIỆU THAM KHẢO (31)

Nội dung

NỘI DUNG

TỔNG QUAN THƯ TÍN DỤNG

Theo UCP 600, thư tín dụng (L/C) là một thỏa thuận không thể hủy bỏ, cam kết chắc chắn của ngân hàng phát hành về việc thanh toán cho các chứng từ hợp lệ.

Thư tín dụng là một giao dịch độc lập với hợp đồng thương mại và không bị ràng buộc bởi các hợp đồng liên quan Ngân hàng không chịu trách nhiệm về các hợp đồng này, ngay cả khi thư tín dụng có đề cập đến chúng Cam kết của ngân hàng trong việc thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ không phụ thuộc vào khiếu nại của người yêu cầu phát hành thư tín dụng Người thụ hưởng không được lợi dụng các quan hệ hợp đồng giữa các ngân hàng hoặc giữa người yêu cầu và ngân hàng phát hành.

Số hiệu, địa điểm và ngày mở L/C là những yếu tố quan trọng trong quá trình thực hiện thư tín dụng Mỗi thư tín dụng đều có số hiệu riêng để thuận tiện cho việc trao đổi thông tin liên quan Địa điểm mở L/C xác định nơi ngân hàng cam kết trả tiền cho người xuất khẩu và ảnh hưởng đến việc chọn luật áp dụng trong trường hợp xảy ra tranh chấp Ngày mở L/C đánh dấu thời điểm bắt đầu cam kết của ngân hàng với người xuất khẩu, đồng thời là căn cứ để kiểm tra việc thực hiện mở L/C đúng hạn theo hợp đồng.

- Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến phương thức tín dụng chứng từ

Trong phương thức tín dụng chứng từ, có hai loại bên liên quan chính là thương nhân và ngân hàng Thương nhân bao gồm người nhập khẩu, người yêu cầu mở L/C, và người xuất khẩu, người hưởng lợi từ L/C Các ngân hàng tham gia bao gồm ngân hàng mở L/C, ngân hàng thông báo, ngân hàng trả tiền, và ngân hàng xác nhận Ngân hàng mở L/C thường được hai bên mua bán thỏa thuận và quy định trong hợp đồng; nếu không có quy định trước, người nhập khẩu có quyền lựa chọn ngân hàng.

Số tiền trong thư tín dụng phải được ghi bằng cả số và chữ, và hai cách ghi này phải thống nhất với nhau Thư tín dụng không được chấp nhận nếu số tiền ghi bằng số và chữ mâu thuẫn Tên đơn vị tiền tệ cần phải rõ ràng, vì có nhiều loại đôla khác nhau trên thế giới mặc dù chúng cùng tên gọi Việc ghi số tiền chính xác và nhất quán là rất quan trọng trong các giao dịch tài chính.

Khi ghi số tiền trong hợp đồng xuất khẩu, nên sử dụng cách ghi rõ ràng và cụ thể, ví dụ như "Một số tiền không quá X USD " để xác định giới hạn mà người xuất khẩu có thể đạt được, bất kể hàng hóa được giao dưới hình thức nguyên chiếc hay rời Điều này giúp đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ các quy định trong "Quy tắc & Thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ".

Các thuật ngữ như "khoảng chừng" và "độ khoảng" trong thư tín dụng chỉ mức độ cho phép biến động không quá 10% tổng số tiền Quy tắc cũng quy định rằng, trừ khi thư tín dụng chỉ rõ số lượng hàng giao không được thay đổi, sẽ có một khoản dung sai cho phép trong phạm vi 5% Tuy nhiên, tổng số tiền chi trả không được vượt quá số tiền ghi trong thư tín dụng Dung sai này không áp dụng khi số lượng hàng hóa được quy định bằng đơn vị bao, kiện hoặc chiếc.

Thời hạn hiệu lực của thư tín dụng (L/C) là khoảng thời gian mà ngân hàng cam kết trả tiền cho người xuất khẩu khi họ xuất trình chứng từ đúng quy định Thời hạn này bắt đầu từ ngày mở L/C và kết thúc vào ngày hết hiệu lực Ở một số quốc gia, nếu thời hạn hiệu lực dưới 3 tháng, phí thông báo L/C là 0,1%; từ 3 đến 6 tháng là 0,2% Việc xác định thời hạn hiệu lực hợp lý là cần thiết để tránh tình trạng đọng vốn cho người nhập khẩu và không gây khó khăn cho người xuất khẩu trong việc xuất trình chứng từ Ngày giao hàng phải nằm trong thời hạn hiệu lực và không trùng với ngày hết hạn, trong khi ngày mở L/C cần phải trước ngày giao hàng một khoảng thời gian hợp lý.

Thời gian tối thiểu để thực hiện một L/C được tính bằng tổng số ngày cần thiết để thông báo mở L/C, lưu giữ tại ngân hàng thông báo, và chuẩn bị hàng giao cho người nhập khẩu Đối với hàng xuất khẩu phức tạp, thời gian chuẩn bị có thể kéo dài, đặc biệt trong mùa ẩm ướt, trong khi hàng hóa công nghiệp thường không yêu cầu nhiều thời gian chuẩn bị Ngày hết hạn của L/C cần phải hợp lý, sau ngày giao hàng, và bao gồm thời gian chuyển chứng từ, lập bộ chứng từ, vận chuyển đến ngân hàng mở L/C, lưu giữ tại ngân hàng thông báo, cùng với 7 ngày làm việc để ngân hàng quyết định chấp nhận hoặc từ chối thanh toán.

Trong thanh toán quốc tế, có nhiều loại thư tín dụng (L/C) được sử dụng, và việc phân loại chúng dựa trên các tiêu chí nhất định Theo Ủy ban Kỹ thuật và Nghiệp vụ Ngân hàng thuộc ICC, tại ấn phẩm số 515, thư tín dụng được phân loại theo các tiêu chuẩn cụ thể.

3.1 Phân loại theo loại hình (types) :

 Thư tín dụng có thể hủy ngang ( Revocable L/C)

 Thư tín dụng không thể hủy ngang ( Irrevocable L/C)

3.2 Phân loại theo phương thức sử dụng : Có các loại thư tín dụng sau

 Thư tín dụng không thể hủy ngang có giá trị trực tiếp ( Straight L/C)

 Thư tín dụng không thể hủy ngang có giá trị chiết khấu ( Negotiable L/C)

 Thư tín dụng không thể hủy ngang và không có xác nhận (unconfirmed L/C)

 Thư tín dụng không thể hủy ngang và có xác nhận ( Confirmed L/C)

 Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C)

 Thư tín dụng có điều khoản đỏ (Red clause L/C)

 Thư tín dụng dự phòng (standby L/C)

 Thư tín dụng chuyển nhượng ( Transferable L/C)

 Thư tín dụng giáp lưng (back to back L/C)

3.3 Phân loại theo thời hạn thanh toán

 Thư tín dụng trả ngay ( L/C at sight)

 Thư tin dụng trả chậm

4 Ưu nhược điểm của thanh toán bằng thư tín dụng

Lợi ích đối với người xuất khẩu:

– Ngân hàng sẽ thực hiện thanh toán đúng như quy định trong thư tín dụng bất kể việc người mua có muốn trả tiền hay không

– Chậm trễ trong việc chuyển chứng từ được hạn chế tối đa

– Khi chứng từ được chuyển đến ngân hàng phát hành, việc thanh toán được tiến hành ngay hoặc vào một ngày xác định (nếu là L/C trả chậm)

– Khách hàng có thể đề nghị chiết khấu L/C để có trước tiền sử dụng cho việc chuẩn bị thực hiện hợp đồng

Lợi ích đối với người nhập khẩu:

– Chỉ khi hàng hóa thực sự được giao thì người nhập khẩu mới phải trả tiền

Người nhập khẩu có thể hoàn toàn yên tâm rằng người xuất khẩu sẽ tuân thủ tất cả các quy định trong thư tín dụng (L/C) để đảm bảo việc thanh toán Nếu không, người xuất khẩu sẽ phải chịu thiệt hại tài chính.

Lợi ích đối với Ngân hàng:

– Được thu phí dịch vụ (phí mở L/C, phí chuyển tiền, phí thanh toán hộ…)

– Mở rộng quan hệ thương mại quốc tế

Hình thức thanh toán này có nhược điểm lớn nhất là quy trình thanh toán rất tỷ mỷ và máy móc, yêu cầu các bên tham gia phải thận trọng trong việc lập và kiểm tra chứng từ Một sai sót nhỏ trong quá trình này có thể dẫn đến việc từ chối thanh toán Đối với ngân hàng phát hành, những sai sót trong kiểm tra chứng từ cũng có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng.

MỘT SỐ L/C ĐẶC BIỆT

1 Thư tín dụng xác nhận (Confirmed L/C)

Thư tín dụng xác nhận (Confirmed L/C) là một hình thức thư tín dụng không thể hủy bỏ, trong đó một ngân hàng khác cam kết thực hiện thanh toán theo yêu cầu của ngân hàng phát hành Điều này đảm bảo rằng việc thanh toán sẽ được thực hiện theo yêu cầu hoặc theo sự ủy nhiệm của ngân hàng phát hành, mang lại sự an tâm cho bên nhận thư tín dụng.

Theo UCP 600, Ngân hàng xác nhận có trách nhiệm tương tự như Ngân hàng phát hành, vì vậy Ngân hàng phát hành cần phải chi trả phí xác nhận và có thể phải đặt cọc lên tới 100% giá trị của thư tín dụng (L/C) tại Ngân hàng xác nhận.

Ngân hàng xác nhận là một ngân hàng khác, có thể là ngân hàng ở nước thứ ba hoặc ngân hàng tại nước của người hưởng lợi L/C Trong nhiều trường hợp, ngân hàng xác nhận cũng có thể là ngân hàng thông báo L/C Thông thường, ngân hàng xác nhận là các ngân hàng lớn và có uy tín trong thị trường tín dụng và tài chính quốc tế.

Ngân hàng xác nhận chỉ có trách nhiệm trong việc xác nhận một L/C ban đầu và không chịu trách nhiệm cho các tu chỉnh sau này, như tăng số tiền hay gia hạn hiệu lực, nếu có rủi ro trong thanh toán Do đó, mọi tu chỉnh cần được Ngân hàng xác nhận phê duyệt để có giá trị thực hiện.

L/C không thể hủy ngang là một loại thư tín dụng được xác nhận trả tiền bởi ngân hàng khác theo yêu cầu của ngân hàng phát hành Sự xác nhận này có thể được thể hiện trực tiếp trên L/C hoặc thông qua một văn thư riêng biệt.

- L/C xác nhận có độ an toàn trong thanh toán rất cao do đã được hai ngân hàng cam kết trả tiền cho người thụ hưởng

Ngân hàng cam kết có trách nhiệm thanh toán, chấp nhận hoặc chiết khấu không điều kiện khi người hưởng trình bày bộ chứng từ hợp lệ, bất kể khả năng thu hồi tiền từ ngân hàng phát hành.

- Phí xác nhận thường cao hơn phí mở L/C

Khi Ngân hàng xác nhận cũng là Ngân hàng thông báo, quy trình nghiệp vụ của L/C xác nhận sẽ tương tự như L/C thông thường Điểm nổi bật là Ngân hàng thông báo sẽ xác nhận việc thanh toán theo yêu cầu của Ngân hàng phát hành và gửi thư xác nhận, đồng thời thông báo cho nhà Xuất khẩu.

- Trường hợp ngân hàng phát hành không phải là Ngân hàng thông báo thì quy trình nghiệp vụ của L/C xác nhận sẽ như sau:

2a Phát hành L/C và gửi cho Ngân hàng thông báo

Khi gửi ngân hàng yêu cầu xác nhận L/C, nếu ngân hàng xác nhận và ngân hàng thông báo nằm ở hai quốc gia khác nhau, việc xác nhận L/C cần phải được thông báo qua ngân hàng xác nhận trước khi chuyển đến ngân hàng thông báo ở quốc gia của người hưởng lợi.

3a Ngân hàng thông báo gửi thư tín dụng cho nhà xuất khẩu

3b Ngân hàng xác nhận cũng xác nhận sự xác nhận L/C đối với nhà xất khẩu

4 L/C phù hợp, Nhà xuất khẩu tiến hành giao hàng

5 Nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ thanh toán gửi đến ngân hàng xác nhận xin thanh toán

Ngân hàng sẽ xác nhận và kiểm tra bộ chứng từ; nếu mọi thứ phù hợp, họ sẽ thực hiện thanh toán và gửi bộ chứng từ trở lại cho ngân hàng phát hành để yêu cầu thanh toán lại.

6b Nếu không phù hợp thì từ chối thanh toán và trả lại bộ chứng từ cho nhà xuất khẩu

7a Ngân hàng phát hành kiểm tra bộ chứng từ, thanh toán cho Ngân hàng xác nhận

7b Ngân hàng phát hành gửi bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu

8 Nhà Nhập khẩu nhận bộ chứng từ đi nhận hàng, đồng thời thanh toán lại cho Ngân hàng phát hành

Khi áp dụng hình thức L/C, ngân hàng xác nhận cũng đóng vai trò là ngân hàng thông báo, giúp họ kiểm soát L/C hiệu quả hơn và giảm thiểu nhiều khoản phí như phí thư tín và điện tính.

L/C xác nhận là một công cụ tài chính quan trọng được sử dụng khi người hưởng lợi không hoàn toàn tin tưởng vào khả năng tài chính của Ngân hàng phát hành hoặc khi họ lo ngại về các rủi ro chính trị hiện tại hoặc tiềm ẩn tại quốc gia của Ngân hàng phát hành.

1.5 Tình hình sử dụng L/C xác nhận tại Việt Nam:

Việt Nam là một quốc gia nhập siêu, tức là nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu, điều này khiến việc sử dụng L/C xác nhận trở thành một rủi ro cho các nhà nhập khẩu Khi áp dụng L/C xác nhận, người nhập khẩu phải chịu thêm phí xác nhận từ ngân hàng, thường cao hơn phí mở L/C nếu không được quy định rõ trong hợp đồng Điều này dẫn đến chi phí nhập khẩu gia tăng, gây thiệt hại cho nhà nhập khẩu Ngược lại, các nhà xuất khẩu Việt Nam lại hưởng lợi từ việc thanh toán an toàn nhờ vào cam kết của hai ngân hàng.

2 Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C)

L/C không hủy ngang cho phép người hưởng lợi đầu tiên yêu cầu ngân hàng phát hành chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần quyền thực hiện L/C cho một hoặc nhiều bên khác Lưu ý rằng L/C chuyển nhượng chỉ được thực hiện một lần và chi phí chuyển nhượng thường do người hưởng lợi đầu tiên chịu trách nhiệm.

- Người hưởng lợi thứ nhất ra lệnh cho Ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng chỉ định chuyển nhượng L/C bằng Đơn yêu cầu chuyển nhượng

 Ngân hàng chuyển nhượng phát hành một L/C chuyển nhượng mới trên cơ sở kết hợp với L/C chuyển nhượng gốc và đơn yêu cầu chuyển nhượng L/C

 Ngân hàng chuyển nguyên L/C chuyển nhượng gốc kèm với đơn yêu cầu chuyển nhượng cho người hưởng lợi kế tiếp

Người hưởng lợi thứ hai không được phép chuyển nhượng thư tín dụng (L/C) cho bên thứ ba, tuy nhiên, họ có quyền tái chuyển nhượng L/C cho người hưởng lợi thứ nhất nếu không thể thực hiện các điều khoản của L/C.

- Chuyển nhượng có cho phép tu chỉnh hay không, nếu có cần quy định rõ trong lệnh chuyển nhượng

- Quy định rõ ngân hàng nào được quyền chuyển nhượng L/C

Người hưởng lợi thứ nhất có trách nhiệm thay thế chứng từ để hoàn tất hồ sơ theo yêu cầu của L/C chuyển nhượng gốc, trong đó chứng từ thay thế bao gồm hóa đơn và hối phiếu.

- L/C chuyển nhượng gốc cần có những quy định sau thì mới có thể vận hành L/C chuyển nhượng thuận lợi:

 Cho phép giao hàng từng lần (Partial shipment allowed)

 Chấp nhận thanh toán các chứng từ do bên thứ ba cấp (Third party documents are acceptable)

 Chứng từ đến chậm cũng chấp nhận (Stale documents are acceptable)

- Số tiền bảo hiểm cho việc chuyển nhượng nên lập bằng với số tiền bảo hiểm trong L/C gốc

- Hai mô hình chuyển nhượng L/C thông dụng:

CASE STUDY

CASE 1 – Tranh chấp trong thư tín dụng trả chậm

1.1 Tình huống dẫn tới tranh chấp

Vào ngày 5 tháng 6 năm 1998, Banque Paribas đã phát hành thư tín dụng trả chậm trị giá khoảng 18,5 triệu USD cho Bayfern Limited, với điều kiện thanh toán tại ngân hàng xác nhận Banco Santander sau 180 ngày kể từ ngày vận đơn, tức là vào ngày 27 tháng 11 năm 1998.

Vào ngày 15/6/1998, Banco Santander đã nhận chứng từ từ người thụ hưởng với giá trị 20,3 triệu USD và sau khi xác minh, ngân hàng đã đồng ý chiết khấu bộ chứng từ, ghi có 19,6 triệu USD vào tài khoản của người thụ hưởng tại Royal Bank of Scotland vào ngày 16/6/1998 Tuy nhiên, Banque Paribas không nhận được thông báo nào về việc chuyển nhượng tiền hàng theo LC Đến ngày 24/6/1998, Banque Paribas đã thông báo cho Banco Santander rằng bộ chứng từ được chấp nhận là giả mạo.

Ngày 27/6/1998 cả hai ngân hàng đều nhận được thông báo về “tội lừa đảo được thành lập”

Banco Santander khởi kiện Banque Paribas ra Toà Thương mại Anh do không chấp nhận hoàn trả lại tiền cho họ

1.2 Phán quyết của tòa án

Toà Phúc thẩm Anh và kết quả như đã nêu với lập luận như sau:

Ngân hàng Paribas ủy quyền cho Banco Santander cam kết thanh toán bộ chứng từ vào ngày 27/11/1998 và hứa sẽ hoàn trả Banco Santander khi thực hiện thanh toán chậm Banque Paribas không yêu cầu Banco Santander chiết khấu chứng từ trước ngày đáo hạn Nếu Banco Santander không chiết khấu bộ chứng từ, họ không có nghĩa vụ thanh toán vào ngày đáo hạn do tội lừa đảo đã được xác lập trước thời điểm này, và ngân hàng phát hành cũng không phải hoàn trả.

Khi ngân hàng phát hành thư tín dụng trả chậm theo phương thức chấp nhận, ngân hàng đó có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân hàng xác nhận đã chiết khấu hối phiếu hoặc thanh toán cho người nắm giữ hối phiếu hợp lệ Điều này đồng nghĩa với việc nhà nhập khẩu sẽ phải đối mặt với rủi ro trong trường hợp xảy ra lừa đảo.

Với một thư tín dụng trả chậm không có hối phiếu, người thụ hưởng sẽ không nhận được thanh toán ngay khi xuất trình chứng từ, mà sẽ phải chờ đến một ngày cụ thể để được thanh toán.

Trong tương lai, thư tín dụng sẽ quy định rõ ràng các điều kiện cần thiết Khi người thụ hưởng trình bày chứng từ phù hợp với các điều khoản trong thư tín dụng, họ sẽ nhận được cam kết từ ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng được chỉ định Tuy nhiên, do không có hối phiếu, người thụ hưởng không thể chiết khấu để nhận tiền ngay lập tức Việc phát hành thư tín dụng trả chậm không kèm hối phiếu giúp Banque Paribas bảo vệ mình và nhà nhập khẩu khỏi rủi ro lừa đảo.

CASE 2 – Rủi ro trong thư tín dụng trả chậm

2.1 Tình huống dẫn tới rủi ro

Vào năm 1996, một số ngân hàng đã phát hành thư tín dụng (LC) và các nhà nhập khẩu Việt Nam phải chịu chi phí cho việc mở LC trả chậm theo hình thức thư tín dụng chấp nhận Các doanh nghiệp gia công hàng may mặc Việt Nam ký hợp đồng với Shinbang Co Ltd (Hàn Quốc) với điều khoản thanh toán đối ứng, trong đó doanh nghiệp Việt Nam mở LC nhập nguyên liệu trả chậm từ 90 đến 180 ngày, trong khi Shinbang mở LC trả ngay cho hàng thành phẩm Sau khi nhận được bộ chứng từ, chấp nhận hối phiếu trả chậm và nhận nguyên liệu, các doanh nghiệp Việt Nam tích cực gia công để kịp giao hàng cho nước ngoài Tuy nhiên, khi gần đến ngày giao hàng, họ nhận được thông tin từ văn phòng môi giới rằng Shinbang đã phá sản.

2.2 Rủi ro xảy ra đối với doanh nghiệp Việt Nam và nguyên nhân dẫn tới rủi ro a Rủi ro tài chính đối với doanh nghiệp Việt Nam: Ở vai trò của người nhập khẩu nguyên vật liệu: Với một thư tín dụng chấp nhận, việc thanh toán được thực hiện dưới hình thức hối phiếu có kỳ hạn ký phát cho ngân hàng phát hành hay ngân hàng đại lý được chỉ định (thường là ngân hàng xác nhận) Hối phiếu là một lệnh chi vô điều kiện, là bằng chứng của nghĩa vụ thanh toán trừu tượng

Nghĩa vụ thanh toán trong giao dịch tín dụng chứng từ hoàn toàn tách rời khỏi hợp đồng mua bán Nhà nhập khẩu Việt Nam, khi mở thư tín dụng trả chậm theo hình thức LC chấp nhận, phải thanh toán hối phiếu vào ngày đáo hạn Tuy nhiên, trong trường hợp Shingbang, nhà xuất khẩu đã phá sản và không đủ khả năng thanh toán theo hợp đồng Mặc dù doanh nghiệp Việt Nam vẫn có thể xuất hàng theo LC, ngân hàng phát hành LC vẫn phải có trách nhiệm trả tiền nếu các chứng từ xuất trình phù hợp, nhưng thực tế, việc này không thể thực hiện do yêu cầu về chứng từ từ đại diện của Shingbang Do đó, doanh nghiệp Việt Nam không nhận được thanh toán từ ngân hàng phát hành LC.

Doanh nghiệp Việt Nam không chỉ không nhận được tiền mà còn phải thanh toán hối phiếu đáo hạn cho ngân hàng nước ngoài Họ cũng phải đối mặt với việc giữ nguyên liệu, thành phẩm và sản phẩm dở dang mà không biết cách xử lý.

Vụ Shingbang đã ảnh hưởng đến nhiều doanh nghiệp và ngân hàng tại Việt Nam Một số ngân hàng có kinh nghiệm trong thanh toán quốc tế đã giúp khách hàng tránh được rủi ro bằng cách áp dụng điều kiện thanh toán đối ứng vào LC trả chậm Ngược lại, những ngân hàng ít kinh nghiệm không thể bảo vệ khách hàng của mình, dẫn đến việc cả hai bên đều phải học hỏi từ sự cố này Cuối cùng, nhà nhập khẩu Việt Nam phải chịu rủi ro tài chính, trong khi nguyên nhân chủ yếu lại xuất phát từ ngân hàng phát hành LC trả chậm.

Ngân hàng Việt Nam đã quá tin tưởng vào LC trả ngay cho nhập thành phẩm do ngân hàng nước ngoài phát hành theo yêu cầu của Shingbang, dẫn đến việc không tư vấn cho khách hàng mở LC với điều khoản thanh toán đối ứng theo hợp đồng gia công Điều này có nghĩa là việc thanh toán LC trả chậm hoặc hối phiếu chỉ được chấp nhận sau khi nhận được tiền hàng theo LC trả ngay.

Mẫu yêu cầu mở thư tín dụng của các ngân hàng Việt Nam thường chỉ có một điều khoản thanh toán duy nhất, đó là thanh toán bằng hối phiếu có sẵn theo quy định Điều này khiến cho khách hàng muốn mở thư tín dụng trả chậm chỉ có lựa chọn mở thư tín dụng chấp nhận, tức là có hối phiếu, thay vì thư tín dụng trả chậm, nơi mà việc thanh toán được cam kết thực hiện vào ngày đáo hạn theo quy định của L/C.

Nếu LC nhập hàng trả chậm không có hối phiếu và Shingbang phá sản trước ngày đáo hạn, phía Việt Nam có quyền từ chối thanh toán do Shingbang vi phạm hợp đồng không thực hiện nghĩa vụ bao tiêu sản phẩm Thêm vào đó, ngân hàng nước ngoài không thể chiết khấu chứng từ cho thư tín dụng thanh toán chậm không có hối phiếu như đối với thư tín dụng chấp nhận Rủi ro sẽ thuộc về Shingbang và có thể ảnh hưởng đến ngân hàng nước ngoài nếu họ đã thực hiện chiết khấu hoặc cho vay dựa trên bộ chứng từ đã được chấp nhận.

Khi ký hợp đồng mua bán ngoại thương với phương thức thanh toán bằng thư tín dụng trả chậm, doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam thường chú ý đến các yếu tố như chất lượng hàng hóa, giá cả và thời hạn trả chậm Tuy nhiên, họ thường bỏ qua yếu tố kỹ thuật nghiệp vụ mở thư tín dụng trả chậm, điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng tối đa hóa cơ hội tài chính và giảm thiểu rủi ro cho cả doanh nghiệp và ngân hàng.

Trong hai tình huống nêu trên, việc áp dụng kỹ thuật mở thư tín dụng nhập hàng trả chậm có thể mang lại lợi ích tài chính cho doanh nghiệp, tùy thuộc vào vai trò của họ là nhà xuất khẩu hay nhập khẩu Nhà xuất khẩu, với vai trò là nhà cấp tín dụng thương mại cho nhà nhập khẩu, nên cân nhắc kỹ lưỡng để hạn chế rủi ro và tận dụng cơ hội tài chính.

Nhà nhập khẩu nên mở LC chấp nhận với hối phiếu trả chậm để có thể chiết khấu hối phiếu trong trường hợp cần vốn Điều này cũng giúp bảo vệ nhà nhập khẩu khỏi các tranh chấp liên quan đến chất lượng hàng hóa, vì bên nước ngoài không thể giữ lại tiền hàng chờ giải quyết tranh chấp khi hối phiếu đã được chiết khấu Nếu không có yêu cầu bắt buộc từ nhà xuất khẩu về việc phải là LC chấp nhận, nhà nhập khẩu và ngân hàng phát hành nên ưu tiên mở LC trả chậm để giảm thiểu rủi ro, như trong trường hợp vụ Shingbang.

Ngày đăng: 08/01/2022, 21:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tổng hợp số liệu thanh toán L/C nhập khẩu tại SGD Vietcombank - FTU Tiểu luận Thanh toán quốc tế  Thư tín dụng LC
Bảng t ổng hợp số liệu thanh toán L/C nhập khẩu tại SGD Vietcombank (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w