MÔ TẢ CHỦ ĐỀ
Chủ đề này cung cấp cái nhìn tổng quát về các giai đoạn phát triển của con người từ khi còn trong bụng mẹ đến tuổi già, phân tích các đặc điểm phát triển thể chất, tâm lý và xã hội ở từng giai đoạn Sự phát triển này được liên kết chặt chẽ với tác động của môi trường xung quanh, giúp những người làm công tác xã hội có cái nhìn xuyên suốt và thuận lợi hơn trong quá trình hỗ trợ thân chủ.
MỤC TIÊU GIẢNG DẠY
Sau khi tham dự khóa học này, người học có thể :
Liệt kê được các giai đoạn phát triển chính yếu của con người
Nêu được các điểm quan trọng về sự phát triển thể chất, tâm lý, xã hội… ở mỗi giai đoạn
Chỉ ra được một số tác động của môi trường xung quanh đối với sự phát triển của con người
Phân tích vấn đề của thân chủ dựa trên những kiến thức cơ bản về đặc điểm các giai đoạn phát triển của con người
Phát hiện những dấu hiệu bất thường trong các giai đoạn phát triển của thân chủ nếu có Đề xuất các kế hoạch can thiệp phù hợp
Thấu cảm với những mức độ phát triển của thân chủ trong các hoàn cảnh riêng
Chuyên nghiệp hơn trong cách nhìn nhận vấn đề
NỘI DUNG CHỦ ĐỀ
Bài 1: GIAI ĐOẠN THAI NHI
- Quá trình hình thành và phát triển của thai nhi
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ trước khi sinh và sau này
Sức khỏe thể chất, cảm xúc, tâm lý của cha mẹ
Những hiểm nguy đối với sự phát triển của bào thai
Các biến chứng khi sinh
Bài 2: GIAI ĐOẠN TỪ 0 ĐẾN 6 TUỔI
- Thời kỳ sơ sinh (0 - 2 tháng tuổi)
Sự phát triển các giác quan
Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sởở Tp.HCM” - tháng 7/2012 Trang5
Các phản xạ cơ bản
Các trạng thái cơ bản
Sự phát triển tâm lý
Khủng hoảng tuổi sơ sinh
- Thời kỳ hài nhi (3 – 12/15 tháng)
Sự phát triển vận động
Sự phát triển hoạt động giao tiếp
Cấu trúc tâm lý mới
- Thời kỳ ấu nhi (1 – 3 tuổi)
Phát triển sinh lý và hình thái
Khủng hoảng tuổi lên ba
Sự phát triển thể chất
Sự phát triển tâm lý
Sự phát triển về mặt tương tác môi trường xã hội
Sự hình thành nhân cách
Hoạt động học tập và lao động
Bài 3: GIAI ĐOẠN NHI ĐỒNG (TUỔI HỌC SINH CẤP 1)
- Sự phát triển thể chất
- Sự phát triển tâm lý
- Những yếu tố tác động đến sự phát triển của nhi đồng
Nhóm bạn cùng trang lứa
Hình thức kỷ luật của cha mẹ
Các phương tiện truyền thông đại chúng
Bài 4: GIAI ĐOẠN THIẾU NIÊN (TUỔI HỌC SINH CẤP 2)
- Sự phát triển sinh lý và thể chất
- Đời sống cảm xúc – ý chí
- Sự phát triển nhân cách
- Những điểm khác cần lưu ý ở tuổi thiếu niên
Dậy thì sớm và trễ
Rối loạn chuyện ăn uống
Việc sử dụng các chất gây nghiện
Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sởở Tp.HCM” - tháng 7/2012 Trang6
Bài 5: GIAI ĐOẠN THANH NIÊN - THỜI KỲ ĐẦU CỦA GIAI ĐOẠN
- Hoàn cảnh xã hội của sự phát triển
- Sự phát triển thể chất
- Sự phát triển nhận thức
- Các hoạt động chủ đạo
Bài 6: GIAI ĐOẠN TRƯỞNG THÀNH
- Sự phát triển thể chất
- Đặc điểm phát triển tâm lý
- Một số vấn đề cần lưu ý ở tuổi trưởng thành
Bài 7: GIAI ĐOẠN TRUNG NIÊN
- Sự phát triển thể chất ở tuổi trung niên
Khủng hoảng nghiêm trọng ở nam giới
- Sự phát triển nhận thức ở tuổi trung niên
- Một số điểm khác cần lưu ý ở tuổi trung niên
Hội chứng trống vắng ở tuổi trung niên
Chuẩn bị về hưu tuổi trung niên
Bài 8: GIAI ĐOẠN CAO NIÊN
- Những thay đổi thể chất và nhận thức
- Đặc điểm tâm lý tuổi già
Tuổi già và khía cạnh tâm linh
Tuổi già và buồn sầu, mất mát
- Tuổi già và môi trường xã hội
PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
- Thuyết giảng có sử dụng hình ảnh minh họa, video clip
- Thảo luận nhóm - Động não
YÊU CẦU HỌC TẬP
- Tham dự lớp đầy đủ
- Tham gia thảo luận nhóm tích cực
- Tham gia phân tích các trường hợp điển cứu
Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sởở Tp.HCM” - tháng 7/2012 Trang7
GIAI ĐOẠN THAI NHI
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THAI NHI
Sự phát triển trước khi sinh khởi đầu từ quá trình thụ tinh giữa tinh trùng và trứng, tạo ra một sinh vật mới mang những đặc điểm kết hợp từ cả bố và mẹ.
(2010), thai nhi phát triển qua ba giai đoạn:
1 Quý Thứ Nhất (Ba tháng đầu)
Từ tuần lễ 0 đến 13 được xem là quan trọng nhất trong việc chăm sóc thai nhi và lây nhiễm những độc tố từ mẹ và môi trường
Cấu trúc não bộ căn bản, tim, phổi, hệ tiêu hóa và hệ thần kinh phát triển vào cuối tháng thứ nhất
Bắt đầu có tay chân
Cơ quan bên trong trở nên phức tạp hơn
Mắt, mũi, miệng được thành hình
Có thể dò được tim thai (nhịp tim) Trước đó bé được gọi là phôi thai, giờ thì cho đến 8 tuần, bé được gọi là bào thai
Hình thành cánh tay, bàn tay, chân, bàn chân, móng, tóc và mí mắt
Giới tính bắt đầu rõ ràng (mặc dù tuần thứ 14 mới thấy qua siêu âm được)
Có thể cười, cau mày, bú và nuốt Cuối quý thứ nhất, bé dài khoảng 7.5cm và cân nặng 28 gram
Tuần thứ 14 đến tuần 27 đánh dấu sự tiếp tục tăng trưởng và phát triển
Tất cả các bộ phận đều tiếp tục phát triển, cơ quan và các hệ thống rõ ràng và hoàn chỉnh hơn
- Ngón chân và ngón tay tách rời nhau
- Móng tay và móng chân hoàn thiện
- Có sự chuyển động phối hợp
- Tóc, lông mi, lông mày xuất hiện
- Chu kỳ thức - ngủ được thiết lập
Cuối quý thứ hai, bé dài 28 đến 35cm và cân nặng từ 1 đến 700gr
Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sởở Tp.HCM” - tháng 7/2012 Trang10
Tuần 18 đến 40 hay 38 đánh dấu những giai đoạn phát triển sau cùng
- Phát triển toàn diện, các cơ quan hoạt động
- Mô mỡ xuất hiện dưới da
- Bào thai ngọ ngoạy nhiều cho đến khi được sinh ra
- Phản ứng lại với âm thanh
Cuối quý thứ 3, bé dài khoảng 40cm và cân nặng trên dưới 2,7 kg
Sự phát triển quan trọng nhất của bào thai diễn ra trong ba tháng đầu, do đó, việc chăm sóc thai nhi cẩn thận trong giai đoạn này là rất cần thiết Các cơ quan và hệ thống quan trọng như tim, mắt, tứ chi, tai, răng và hệ thần kinh trung ương phát triển trong 9 tuần đầu, khiến cho bất kỳ tổn thương thể lý nào có thể xảy ra trong thời gian này Mặc dù sau 9 tuần, tổn thương vẫn có thể xuất hiện nhưng mức độ nghiêm trọng thường giảm hơn.
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ TRƯỚC
1 Sức khỏe thể chất, cảm xúc, tâm lý của cha mẹ
Nhân viên công tác xã hội đối mặt với nhiều vấn đề tâm sinh xã hội khi làm việc với phụ nữ mang thai, đặc biệt là trong việc hỗ trợ họ quyết định tiếp tục hay ngưng mang thai Để giúp thân chủ đưa ra quyết định, nhân viên công tác xã hội cần khám phá niềm tin tôn giáo và tâm linh của họ, cũng như các trạng thái cảm xúc có thể ảnh hưởng đến lựa chọn của họ Ngoài ra, nhân viên cũng hỗ trợ thân chủ trong việc chuẩn bị cho vai trò làm cha mẹ, nhận con nuôi hoặc quyết định phá thai.
Nếu thân chủ quyết định tiếp tục mang thai, nhân viên công tác xã hội cần đánh giá sức khỏe thể chất của cả cha và mẹ Điều này giúp đảm bảo sức khỏe tốt cho người mẹ và thai nhi, đồng thời giảm thiểu nguy cơ hậu sản Quá trình này bao gồm việc xem xét các yếu tố như tuổi tác, chế độ dinh dưỡng, bệnh tật, mức độ stress, thói quen thể dục, và việc sử dụng hóa chất của thân chủ.
Độ tuổi sinh con lý tưởng của phụ nữ là từ 20 đến đầu 30 tuổi, trong khi các bà mẹ vị thành niên và trung niên có nguy cơ cao hơn về việc sinh con khuyết tật Đối với nam giới, độ tuổi từ 30 đến 40 có thể làm tăng khả năng tinh trùng thụ tinh Đặc biệt, nam giới lớn tuổi có nguy cơ cao hơn trong việc sinh con thừa một nhiễm sắc thể 21, dẫn đến hội chứng Down.
Chế độ dinh dưỡng kém, làm việc và nghỉ ngơi không hợp lý, hoặc tình trạng ốm đau, căng thẳng của người mẹ có thể dẫn đến suy dinh dưỡng cho thai nhi, tăng nguy cơ sinh non và ảnh hưởng đến sự phát triển hệ thần kinh trung ương của trẻ Các bà mẹ có mức tăng cân dưới 6kg ở cuối thai kỳ thường có bào thai bị suy dinh dưỡng, dẫn đến trẻ sinh ra có cân nặng thấp Lý tưởng, mẹ nên tăng ít nhất 12kg trong suốt thai kỳ (tức sau 9 tháng 10 ngày) để đảm bảo sự phát triển khỏe mạnh cho trẻ.
Trong quá trình mang thai, trong 3 tháng đầu, mẹ chỉ tăng 1kg, trong 3 tháng thứ hai tăng 5kg, và trong 3 tháng cuối, mỗi tháng tăng 2kg Tổng cộng, mẹ tăng 7,5kg cho bào thai, rau thai, nước ối và máu, trong khi 5kg còn lại được chuyển vào mô mỡ dự trữ để sản xuất sữa nuôi con.
Suy dinh dưỡng trong 3 tháng cuối thai kỳ có thể dẫn đến sự phát triển chậm của bộ não trẻ, ảnh hưởng đến trí thông minh sau này Trẻ em bị suy dinh dưỡng bào thai khi chào đời thường gặp khó khăn trong việc phát triển nhận thức và kỹ năng.
Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nuôi dưỡng đúng cách cho trẻ dễ bị hạ thân nhiệt và hạ đường máu, điều này có thể gây ra rối loạn nhịp thở và co giật Nếu được chăm sóc đúng, trẻ sẽ phát triển bình thường và đạt mức cân nặng tương đương với trẻ khác sau 2-3 tháng Ngược lại, nếu nuôi dưỡng không tốt, trẻ sẽ tiếp tục bị suy dinh dưỡng, dẫn đến sức khỏe yếu, còi cọc và chậm phát triển trí tuệ.
Một số thân chủ có lịch sử gia đình về bệnh tật hoặc vấn đề di truyền cần được kiểm tra tính di truyền Nhân viên công tác xã hội sẽ hỗ trợ thân chủ bằng cách giáo dục họ về quá trình phát triển của thai nhi và những hành vi cần thiết để bảo vệ sức khỏe của mẹ và trẻ.
Khi xem xét việc trở thành cha mẹ, cần chú ý đến nhiều yếu tố quan trọng như mức độ phát triển cá nhân, cảm xúc, chức năng nhận thức và tâm lý sẵn sàng làm cha mẹ Niềm tin tôn giáo, hoàn cảnh kinh tế, và các vấn đề trong mối quan hệ gia đình, đặc biệt là bạo lực gia đình, cũng cần được xem xét kỹ lưỡng Bên cạnh đó, việc tiếp cận các nguồn hỗ trợ và tài nguyên khác, cùng với sự chuẩn bị cho vai trò làm cha mẹ, là những yếu tố không thể thiếu trong quá trình này.
2 Những hiểm nguy đối với sự phát triển của bào thai
Chăm sóc sức khỏe bà mẹ và tiền sinh sản là rất quan trọng để ngăn ngừa các vấn đề có thể xảy ra với bào thai Nhân viên công tác xã hội có thể hỗ trợ thân chủ trong việc đối phó với những hiểm nguy và giúp họ vượt qua các khó khăn trong quá trình mang thai.
Một số hiểm nguy đối với sự phát triển của bào thai gồm có:
Các chất bất hợp pháp như cocaine, thuốc phiện, heroin
- CHẤT ĐỘC HẠI TRONG MÔI TRƯỜNG
Hóa chất như chì, thủy ngân, pcb (polycholorinated biphenyls) có trong máy biến thế và hội hoạ
- CÁC YẾU TÔ LIÊN QUAN ĐẾN CHA MẸ
Bệnh tật ví dụ như rubella, giang mai, mồng gà, AIDS, vi rút cự bào
Chế độ dinh dưỡng kém
Tuổi tác (quá trẻ hoặc quá lớn tuổi)
3 Các biến chứng khi sinh
Thời kỳ mang thai đầy đủ kéo dài từ 38 đến 40 tuần, trong khi trẻ sinh trước 36 tuần được gọi là sinh non Mặc dù trẻ được 21 tuần trở xuống có thể sống sót, nhưng trẻ sinh sớm thường gặp nhiều vấn đề sức khỏe lâu dài Trẻ sinh non thường có trọng lượng thấp, dưới 2.500gr, và trong năm đầu đời, chúng phát triển chậm hơn so với trẻ sinh đủ tháng Tuy nhiên, khi trẻ đạt 2-3 tuổi, sự khác biệt về phát triển sẽ giảm dần nếu được chăm sóc y tế và điều kiện gia đình hỗ trợ tốt.
Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sởở Tp.HCM” - tháng 7/2012 Trang12
Trẻ sinh thiếu cân hoặc sinh non thường do nhiều yếu tố như mẹ hút thuốc, mắc bệnh, mang thai ở độ tuổi quá trẻ hoặc quá lớn, lạm dụng ma túy, suy dinh dưỡng và stress nghiêm trọng Những trẻ này có nguy cơ gặp phải các vấn đề nghiêm trọng như tổn thương não bộ và bại não Hậu quả lâu dài của tình trạng thiếu cân có thể bao gồm nguy cơ tử vong cao, hen suyễn, tiểu đường, suy dinh dưỡng, đau tim, khó khăn trong học tập, khuyết tật, rối loạn và nhược cơ.
Khi trẻ sơ sinh chào đời, việc thở và lấy oxy từ phổi là vô cùng quan trọng Nếu trẻ không nhận đủ oxy do các vấn đề như rối loạn nhau thai, dây rốn bị kẹp hoặc phổi không hoạt động hiệu quả, các tế bào trong cơ thể, đặc biệt là tế bào não, sẽ bắt đầu chết Điều này có thể dẫn đến giảm trí năng và nguy cơ liệt não ở trẻ.
Nhân viên công tác xã hội cần nắm vững kiến thức về bào thai, sinh con và hậu sản, vì thân chủ thường dựa vào sự hiểu biết của họ để đưa ra quyết định Họ có thể hỗ trợ và giáo dục thân chủ trong giai đoạn mang thai, giúp hiểu rõ hơn về sự phát triển của thai nhi Mặc dù kiến thức chủ yếu dựa trên mô hình y tế và tâm sinh xã hội, nhân viên công tác xã hội có thể kết hợp thông tin từ nhiều lý thuyết khác để nâng cao hiệu quả can thiệp, từ đó làm rõ ảnh hưởng của thai kỳ và sự phát triển của bào thai đến thân chủ cùng các mối quan hệ xã hội của họ.
GIAI ĐOẠN TỪ 0 ĐẾN 6 TUỔI
THỜI KỲ SƠ SINH (0-2 THÁNG TUỔI)
Từ 0 - 2 tháng, trẻ rất yếu ớt, nếu tách khỏi người lớn thì không thể tồn tại được Não bộ của trẻ nặng khoảng 400gram, lượng tế bào thần kinh khá đầy đủ nhưng các sợi dây thần kinh hoạt động còn rất hạn chế Trong thời gian này, trẻ có một số đặc điểm sau:
1 Sự phát triển các giác quan
Bộ máy thị giác và thính giác của trẻ sơ sinh trong giai đoạn đầu chưa hoàn thiện, chỉ phản ứng với vật thể ở khoảng cách gần và âm thanh chói tai Tuy nhiên, hai bộ máy này sẽ phát triển nhanh chóng trong những tuần và tháng đầu tiên nhờ vào sự trưởng thành của hệ thần kinh Trọng lượng não tăng nhanh, các dây thần kinh phát triển và hoàn thiện, giúp các giác quan và khả năng vận động của trẻ phát triển mạnh mẽ.
Sự phát triển của trẻ nhỏ chịu ảnh hưởng lớn từ những ấn tượng bên ngoài mà trẻ tiếp nhận Để não bộ phát triển trong giai đoạn sơ sinh, cần thiết phải luyện tập các giác quan cho trẻ bằng cách tạo ra nhiều cơ hội tiếp xúc với các tín hiệu phong phú từ môi trường Nếu trẻ rơi vào tình trạng "biệt lập cảm tính" do thiếu hụt kích thích bên ngoài, sự phát triển của trẻ sẽ bị chậm lại một cách rõ rệt.
2 Các phản xạ cơ bản
Hầu hết trẻ sơ sinh được trang bị sẵn sàng để tương tác với thế giới xung quanh thông qua các phản xạ không điều kiện đa dạng Những phản xạ này giúp trẻ khám phá và kết nối với môi trường, tạo nền tảng cho sự phát triển nhận thức và xã hội sau này.
Phản xạ Babinski Ngón chân xòe ra khi bàn chân bị cù từ gót đến ngón chân (Trẻ bị tổn thương cột sống không có phản xạ này)
Có thể là tàn dư của sự tiến hóa Chớp mắt Mắt bé nhắm khi quá sáng hoặc quá ồn Bảo vệ mắt
Phản xạ Moro là phản ứng tự nhiên của bé, trong đó bé duỗi thẳng cánh tay ra ngoài rồi sau đó co lại như ôm vào cơ thể khi nghe tiếng ồn Phản xạ này giúp bé cảm thấy an toàn và bám chặt vào mẹ.
Lòng bàn tay Bé nắm chặt đồ vật khi người khác đặt vào lòng bàn tay Dấu hiệu nắm bắt tự ý
Khi khều má bé, bé ngoảnh mặt sang bên má bị khều rồi há miệng Giúp bé tìm núm vú
Phản xạ bú Bé bú khi người khác đưa đồ vật vào miệng Cho phép nuôi ăn Phản xạ rút chân
Bé rút bàn chân khi lòng bàn chân bị người khác dùng kim gút cù nhẹ (Trẻ bị tổn thương dây thần kinh hông không có phản xạ này)
Bảo vệ bé tránh kích thích khó chịu
Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sởở Tp.HCM” - tháng 7/2012 Trang14
Nếu trẻ không phát triển những phản xạ cơ bản, người chăm sóc cần chú ý và tìm hiểu nguyên nhân để có biện pháp can thiệp kịp thời.
3 Các trạng thái cơ bản
Trong tháng đầu tiên, trẻ sơ sinh dành khoảng 80% thời gian để ngủ, với giấc ngủ từ 18 đến 20 giờ mỗi ngày Chu kỳ thức và ngủ của trẻ kéo dài khoảng 4 tiếng, trong đó trẻ ngủ 3 tiếng và thức 1 tiếng trước khi bắt đầu một chu kỳ mới Giai đoạn này trẻ có 6 trạng thái cần được chú ý để đảm bảo sự phát triển khỏe mạnh.
- Ngủ ngon, say, hơi thở đều, mắt nhắm nghiền tốt
- Ngủ không sâu, người co giật, hơi thở mạnh không đều cần dỗ dành
- Ngủ lơ mơ, chập chờn không tốt, cần để ý nguyên nhân
- Thức tỉnh táo, nằm yên không ngọ nguậy nhiều tốt
- Thức và cử động nhiều, ngọ nguậy khó chịu có thể chậm tăng cân và ảnh hưởng đến tâm lý
- Kêu khóc, gào thét cao độ, gồng người trẻ gặp vấn đề bất an, khó chịu
Tiếng khóc là biểu hiện sự giao tiếp đầu tiên của trẻ với người lớn Có ba loại tiếng khóc dễ phân biệt (Holden, 1988):
- Tiếng khóc cơ bản bắt đầu thật khẽ sau đó dần dần mãnh liệt hơn diễn ra khi trẻ đói hoặc mệt
- Tiếng khóc bực bội mãnh liệt hơn tiếng khóc cơ bản
- Tiếng khóc đau đớn bắt đầu bằng một loạt tiếng khóc đột ngột, kéo dài, tiếp theo là sự tạm ngưng và thở hổn hển
Qua tiếng khóc, trẻ cho người lớn biết nó đói hoặc mệt, giận dữ hoặc đau
4 Sự phát triển tâm lý
Trẻ em thường chú ý đến gương mặt của người lớn xung quanh, hình thành phức cảm hớn hở, một phản xạ xúc cảm kết hợp với vận động và âm thanh Khi nhận diện người lớn, trẻ sử dụng phản xạ này để tương tác, đặc biệt là với mẹ, thể hiện nhu cầu gắn bó sâu sắc Ngay từ khi mới sinh, trẻ đã cảm nhận được sự gắn bó qua xúc giác, thể hiện qua các hành động như mút, bám, khóc, mỉm cười, và tìm vú, đồng thời mong muốn được ôm ấp và vỗ về.
Thông qua những tín hiệu phát ra từ mẹ và con, nhiều công trình đã tổng kết được 4 kiểu quan hệ mẹ con:
Kiểu thứ nhất thể hiện sự phát ra tín hiệu mạnh mẽ từ cả mẹ và con, cho thấy nhu cầu gắn bó giữa mẹ và con là rất thiết yếu Mối quan hệ gắn bó này được hình thành dễ dàng, thường thấy ở những cặp mẹ con có sinh nở bình thường, xuất phát từ sự mong đợi của người mẹ cho sự ra đời của đứa con Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tâm lý của trẻ trong tương lai.
Trẻ sinh non hoặc có khuyết tật bẩm sinh thường phát ra tín hiệu yếu hơn so với mẹ Vì vậy, người mẹ không nên giao tiếp quá mạnh mẽ hay vội vàng, mà nên lựa chọn cách trò chuyện nhẹ nhàng và từ tốn Việc thường xuyên trò chuyện và kiên nhẫn chờ đợi phản hồi từ trẻ là rất quan trọng để xây dựng mối liên kết tốt.
Kiểu thứ ba: Tín hiệu của con mạnh, nhưng của mẹ lại yếu Kiểu này thường xẩy ra ở những người mẹ mang tâm trạng riêng tư, phiền muộn
Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” tháng 7/2012 cho thấy sự chán chường của cha mẹ dẫn đến thái độ thờ ơ với con cái, khiến họ không còn muốn âu yếm hay vỗ về Hệ quả là tín hiệu từ trẻ em cũng trở nên yếu dần, thậm chí có thể mất hẳn, khiến trẻ rơi vào trạng thái ủ ê, mệt mỏi và thu mình lại.
Kiểu thứ tư là khi tín hiệu phát ra đều yếu ở cả mẹ và con, điều này thực sự gây ra tai họa Cần có sự can thiệp kịp thời từ thầy thuốc và sự hỗ trợ từ những người xung quanh để giải quyết tình huống này.
Việc tạo sự gắn bó giữa mẹ và con ngay từ những ngày đầu sau khi trẻ ra đời là phương pháp phòng ngừa hiệu quả nhất để tránh nguy cơ chậm phát triển và các vấn đề về sinh lý cũng như tâm lý sau này Nhu cầu gắn bó này không chỉ hỗ trợ sự phát triển giao tiếp của trẻ với những người xung quanh mà còn giúp hình thành ấn tượng ban đầu cần thiết cho sự phát triển thần kinh và các giác quan tâm lý Nghiên cứu cho thấy, trẻ em thiếu tình yêu thương từ mẹ thường phải đối mặt với cảm giác cô đơn, lo lắng và sợ hãi, dẫn đến mặc cảm trong giao tiếp xã hội.
- Nhu c ầ u ti ế p nh ậ n ấ n t ượ ng th ế gi ớ i bên ngoài
Nhu cầu tiếp thu ấn tượng từ thế giới bên ngoài là nền tảng cho các nhu cầu xã hội khác của trẻ, như giao tiếp và nhận thức Phản xạ định hướng giúp trẻ chú ý đến các vật sáng di động và âm thanh, đặc biệt là giọng nói của mẹ Trẻ có thể ngừng khóc để lắng nghe tiếng hát ru và giọng nói dịu dàng của người lớn, đồng thời tập trung vào âm thanh, ánh sáng và màu sắc Từ tháng thứ hai, trẻ đã bắt đầu chú ý đến khuôn mặt người lớn và thường mỉm cười khi được trò chuyện Việc người lớn cung cấp các ấn tượng bên ngoài là rất cần thiết; nếu trẻ không nhận đủ ấn tượng, sự phát triển của trẻ có thể bị chậm lại nghiêm trọng, dẫn đến hội chứng "nằm viện".
5 Khủng hoảng tuổi sơ sinh
Khủng hoảng tuổi sơ sinh đánh dấu sự chuyển tiếp quan trọng từ môi trường ổn định trong bụng mẹ sang thế giới bên ngoài đầy kích thích Đối với trẻ, việc ra đời là một cú sốc lớn, mặc dù chúng không ý thức được điều này Các nhà phân tâm học coi đây là tổn thương đầu tiên mà trẻ phải trải qua, ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống sau này Sự chuyển đổi này không chỉ làm mất cân bằng mà còn gây ra những biến đổi sâu sắc Trẻ phải đối mặt với áp lực và cơn co thắt, cùng với sự thay đổi đột ngột từ môi trường chất lỏng sang không khí, cũng như cảm giác lạnh giá Nhu cầu oxy khởi động hoạt động hô hấp, và việc hít thở lần đầu có thể gây ra cảm giác đau đớn, đi kèm với tiếng khóc đầu tiên.
THỜI KỲ HÀI NHI (3 – 12/15 THÁNG)
1 Sự phát triển vận động
- Sự phát triển vận động thô
Sự vận động thô ở trẻ được diễn tiến như sau:
Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sởở Tp.HCM” - tháng 7/2012 Trang16
Thời điểm xuất hiện các vận động Phát triển vận động
3 tháng tuổi Với tay về phía đồ vật như là vẫy
4 tháng tuổi Ngồi có người đỡ
5 tháng tuổi Nắm đồ vật trong tay
7 tháng tuổi Ngồi không cần đỡ
8 tháng tuổi Tự ngồi, không cần sự trợ giúp
9 tháng tuổi Bò úp bụng, đứng bám tay
10 tháng tuổi Bò bằng bàn tay và đầu gối, đi được nhờ người lớn giữ hai tay
12 tháng tuổi Đi được nhờ người lớn giữ một tay
- Sự phát triển vận động tinh
Trẻ ba tháng tuổi bắt đầu cầm đồ chơi lắc, và đến tháng thứ tư, trẻ sử dụng cả hai tay nhưng chưa phối hợp Khi đạt khoảng năm tháng, trẻ có khả năng kết hợp cử động của hai tay, với tay phải cầm đồ chơi và tay trái vuốt ve Hành động cầm nắm là bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của trẻ trong năm đầu đời, đóng vai trò thiết yếu trong sự phát triển tâm lý Bàn tay trở thành cơ quan xúc giác, giúp trẻ khám phá thế giới xung quanh Sự cầm nắm diễn ra dưới sự kiểm soát của mắt, khi trẻ theo dõi tay di chuyển về phía đồ vật Hình ảnh chỉ xuất hiện khi có sự tiếp xúc giữa tay và đồ vật, cho thấy sự phối hợp giữa tay và mắt Nhờ vào động tác cầm nắm, đôi tay phát triển và bắt đầu có sự đối diện của ngón cái với các ngón còn lại.
Trẻ 4 - 7 tháng, xuất hiện hành động dịch chuyển, lay động đồ vật, gõ lắc tạo ra âm thanh Khoảng 7 - 10 tháng, hình thành các động tác phối hợp: cầm nắm hai vật cùng một lúc, đẩy chúng ra xa Cuối thời kỳ hài nhi (10 -
Từ 11 đến 14 tháng tuổi, trẻ bắt đầu xuất hiện các hành động chức năng như đặt cạnh, xếp chồng, lồng hộp, xâu chuỗi và xỏ các vật Những hành động này kích thích tư thế ngồi của trẻ, giúp trẻ tiếp cận với nhiều đồ vật xung quanh Khi trẻ ngồi vững, chúng có xu hướng với tới các đồ vật, nhưng thường cần sự hỗ trợ từ người lớn để chạm đến chúng Qua đó, giao tiếp giữa trẻ và người lớn trở nên có chủ đích hơn, tập trung vào các đồ vật mà trẻ quan tâm.
2 Sự phát triển hoạt động giao tiếp
Trong giai đoạn từ 2 đến 6 tháng, trẻ em thể hiện nhu cầu giao tiếp xúc cảm trực tiếp bằng cách tìm kiếm sự quan tâm và âu yếm từ người lớn Trẻ thường nhìn chằm chằm vào người lớn, cử động chân tay và phát ra những âm thanh vui vẻ khi có người lớn đến gần trò chuyện Do đó, người lớn cần tích cực trò chuyện và tương tác với trẻ để đáp ứng nhu cầu giao tiếp của trẻ.
Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” khuyến khích việc mỉm cười và kể chuyện cho trẻ em, nhấn mạnh rằng không cần quá lo lắng về việc trẻ không hiểu hoàn toàn những gì người lớn nói.
Bắt đầu từ nửa sau của năm thứ nhất, trẻ em không chỉ hài lòng với việc giao tiếp qua những cái vuốt ve mà còn cần sự hợp tác từ người lớn trong các hoạt động Trẻ tìm kiếm sự quan tâm từ người lớn, mong đợi họ thể hiện thái độ đối với những gì trẻ đang làm và chủ động tham gia vào công việc hoặc trò chơi của trẻ.
Trong thời kỳ hài nhi, giao tiếp cảm xúc với người lớn là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của trẻ Hoạt động này giúp trẻ có cảm xúc tích cực và tâm lý ổn định, đồng thời thúc đẩy sự phát triển ngôn ngữ Qua giao tiếp, người lớn hướng dẫn và đánh giá hành vi của trẻ, giúp trẻ nhận thức đúng sai, từ đó hình thành thói quen tốt và cách ứng xử phù hợp.
3 Cấu trúc tâm lý mới của tuổi hài nhi
Các hành động ở tuổi hài nhi đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển tâm lý của trẻ Việc cầm nắm đồ vật giúp trẻ làm chủ thế giới xung quanh, đồng thời mang lại những trải nghiệm vận động cho bàn tay và ý muốn khám phá Thông qua việc tương tác với đồ vật mới, trẻ tìm hiểu các thuộc tính và có được ấn tượng mới Các hoạt động như ngồi, đứng, bò và đi giúp trẻ phá vỡ những giai đoạn phát triển trước đó Khi trẻ biết đi, điều quan trọng không chỉ là mở rộng không gian mà còn là sự độc lập trong di chuyển, nơi trẻ dẫn dắt mẹ đến những nơi mà trẻ muốn khám phá Hoạt động này không chỉ mở rộng tầm nhìn mà còn gia tăng khả năng hành động và trải nghiệm của trẻ Tuy nhiên, cần chú ý giữ an toàn bằng cách loại bỏ những vật nguy hiểm khỏi tầm tay của trẻ.
Việc phát ra những từ vựng đầu tiên mang ý nghĩa đặc biệt, phản ánh ngôn ngữ tự cảm mà chỉ những người thân thiết mới hiểu Ngôn ngữ này có cấu trúc đặc thù, hình thành từ âm thanh của từ Các nhà tâm lý học gọi nó là "tiếng vú em", và đây là tiêu chí chứng tỏ sự thay đổi trong tình huống xã hội của sự phát triển trước đó.
THỜI KỲ ẤU NHI (1 – 3 TUỔI)
- Khi trẻ em 3 tuổi, não của nó cân nặng 1.200 gram, gần bằng não người lớn
Trẻ 3 tuổi nặng khoảng 1300 - 1400 gram, đã có thể đứng thẳng và bước đi vững chãi hơn so với những bước đi đầu tiên Khả năng di chuyển của trẻ không chỉ giúp trẻ đi lại mà còn chạy nhảy trong không gian rộng lớn hơn, góp phần quan trọng vào sự phát triển tâm lý Điều này dẫn đến khả năng giao tiếp tốt hơn với thế giới xung quanh, giúp trẻ trở nên độc lập và tự chủ hơn Ngoài ra, trẻ cũng bắt đầu có khả năng tự phục vụ và tham gia vào các mối quan hệ tương tác với người lớn xung quanh.
- Sự phát triển ngôn ngữ
Giai đoạn ấu nhi là thời kỳ quan trọng trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ, diễn ra nhanh chóng với việc mở rộng vốn từ và hiểu biết về cấu trúc ngữ pháp Trẻ em học hỏi thông qua giao tiếp với người lớn và tương tác với các đồ vật, giúp từ vựng của trẻ không chỉ mang ý nghĩa chỉ đối tượng cụ thể mà còn phát triển khả năng diễn đạt.
Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” vào tháng 7/2012 nhấn mạnh tầm quan trọng của tạo hình và đồ chơi trong sự phát triển của trẻ Qua việc tạo hình, trẻ có thể sử dụng hình vẽ thay thế cho đồ vật thật, và trong quá trình vui chơi, trẻ có thể gọi ghế là ngựa, điều này cho thấy ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển trí tuệ Ngôn ngữ không chỉ giúp trẻ thoát khỏi sự phụ thuộc vào tri giác mà còn tham gia vào các quá trình trí nhớ, tư duy và tưởng tượng của trẻ.
Sự phát triển tư duy ở trẻ ấu nhi chủ yếu dựa vào tư duy trực quan hành động, với các biểu hiện tư duy gắn liền với hành động trong những tình huống cụ thể Trẻ em biết sử dụng mối liên hệ giữa các đối tượng để đạt được mục đích, như kéo rổ để lấy cam hay kéo khăn trải bàn để lấy ly Đồng thời, trẻ cũng khám phá ra rằng những đối tượng khác nhau có thể được sử dụng theo cách tương tự, ví dụ như dùng gậy để khều cam dưới giường hoặc chọc chuối trên cao Tính khái quát ban đầu của công cụ và kinh nghiệm hành động từ những trải nghiệm này là nền tảng quan trọng cho sự phát triển tư duy sau này.
- Quá trình xuất hiện "Cái tôi" và tiền đề của sự hình thành nhân cách của trẻ ấu nhi
Theo Lewis (1987) sự phát triển cái tôi xuất hiện khi trẻ 20 - 24 tháng Chúng bắt đầu nhận ra ảnh của mình trong ảnh đám trẻ con cùng tuổi Trẻ
Từ 28 tháng tuổi, trẻ bắt đầu xác lập quyền sở hữu khi chơi chung với bạn bè, thể hiện qua hành động như giằng lấy đồ chơi và khẳng định "Cái này của tôi mà." Cuối giai đoạn ấu nhi, trẻ nhận thức rõ về bản thân với ngôi thứ nhất và có thể giao tiếp đúng cách trong các tình huống đa ngôi Sự xuất hiện của cái tôi cũng thể hiện qua thái độ bướng bỉnh của trẻ, khi chúng đòi hỏi theo ý mình và có xu hướng chống đối với người lớn Tuy nhiên, tính chống đối này thường chỉ xảy ra với những người lớn độc đoán, hạn chế tự do và độc lập của trẻ Việc khuyến khích tính độc lập một cách hợp lý sẽ giúp cải thiện mối quan hệ giữa trẻ và người lớn, giúp vượt qua những khủng hoảng trong giai đoạn này.
Trong giai đoạn hình thành "cái tôi", trẻ bắt đầu có tính tự ý thức và thường cố gắng hành động để nhận được sự khen thưởng từ người lớn Sự công nhận và lời khen từ người xung quanh đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng lòng tự hào và sự tự khẳng định của trẻ Những lời khen này không chỉ khuyến khích trẻ mà còn giúp trẻ điều chỉnh hành vi theo các chuẩn mực do người lớn đặt ra Qua đó, trẻ phát triển nhận thức về cái tốt, cái đúng và hạn chế cái xấu, cái sai, góp phần hình thành nhân cách trong tương lai.
3 Hoạt động chủ đạo Ở độ tuổi này, hoạt động chủ đạo của trẻ là hoạt động với đồ vật Hoạt động này giúp trẻ học biết được đặc điểm và phương thức sử dụng đồ vật Hoạt động với đồ vật gồm hai loại hành động:
Hành động thiết lập mối tương quan trong không gian là việc đưa hai hoặc nhiều đối tượng vào một mối quan hệ nhất định Chẳng hạn, khi trẻ xếp chồng các khối gỗ thành hình tháp, trẻ cần phải xem xét các thuộc tính của từng khối và thiết lập mối tương quan phù hợp giữa chúng.
Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” vào tháng 7/2012 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sắp xếp khối gỗ từ lớn đến nhỏ và xâu chuỗi hạt theo thứ tự màu sắc Những hoạt động này tuy phức tạp, nhưng giúp trẻ phát triển các chức năng tâm lý như trí nhớ, tư duy và trí tưởng tượng Ban đầu, trẻ có thể gặp khó khăn và cần sự hỗ trợ từ người lớn, nhưng qua quá trình thử nghiệm và sai sót, trẻ sẽ dần tự tin hơn trong việc thực hiện.
Hành động sử dụng công cụ là quá trình mà một đồ vật được dùng để tác động lên đồ vật khác, như khi trẻ em dùng muỗng để xúc cơm hoặc que để khều banh Việc này không chỉ yêu cầu sự khéo léo trong thao tác mà còn giúp trẻ nhận thức được mục đích và chức năng của công cụ Chẳng hạn, sau khi trẻ uống nước trong ly, trẻ sẽ hiểu rằng ly được sử dụng để uống nước.
Trong quá trình học cách sử dụng đồ vật hàng ngày, trẻ em cũng tiếp thu các quy tắc hành vi xã hội Khi tức giận, trẻ có thể ném ly nước xuống sàn, nhưng qua kinh nghiệm và phản ứng của người lớn, trẻ dần nhận ra hành vi này là không đúng Điều này dẫn đến việc trẻ cảm thấy sợ hãi khi nhìn vào mặt người lớn nếu lỡ làm như vậy Như vậy, các quy tắc ứng xử xã hội sẽ được hình thành một cách tự nhiên theo thời gian.
Khủng hoảng 3 tuổi là giai đoạn quan trọng trong sự phát triển xã hội của trẻ, nơi "cái tôi" của trẻ được thể hiện mạnh mẽ Theo V.Keler trong tác phẩm "Về nhân cách trẻ 3 tuổi", khủng hoảng này đi kèm với những hiện tượng cơ bản như sự khẳng định bản thân, nhu cầu độc lập và khả năng giao tiếp xã hội đang hình thành Những biểu hiện này không chỉ phản ánh sự phát triển tâm lý mà còn là bước ngoặt trong việc xây dựng mối quan hệ với người xung quanh.
- B ướ ng b ỉ nh: trẻ kiên quyết tìm cách thỏa mãn đòi hỏi của bản thân, khăng khăng giữ quyết định của mình
Ngang ngạnh là một hành vi tương tự như sự bướng bỉnh, nhưng nổi bật với tính công khai và thiếu cá tính Trẻ em thể hiện sự phản kháng đối với trật tự gia đình bằng cách ăn vạ, đập đầu, và đạp lung tung để đạt được mong muốn của mình.
Tự ti ệ n là xu hướng của trẻ em muốn thoát khỏi sự giám sát của người lớn, thể hiện qua việc trẻ muốn tự mình thực hiện mọi việc như người lớn Trong khi trẻ tỏ ra ngoan ngoãn trước mặt người lớn, thì thực tế chúng thường lén lút làm những điều mình thích khi không có sự giám sát.
- Vô l ễ v ớ i ng ườ i l ớ n: Trẻ có thể nói người lớn “Đồ ngu” hay xưng “mày, tao” với người lớn
Trẻ em thường có hành vi chống đối, thể hiện sự xung đột với người lớn và môi trường xung quanh Chúng có thể phản kháng mạnh mẽ, thậm chí cắn lại người lớn để tránh tuân theo mệnh lệnh Tình trạng này cho thấy trẻ luôn trong trạng thái chiến tranh với những người xung quanh.
GIAI ĐOẠN NHI ĐỒNG (TUỔI HỌC SINH CẤP I)
SỰ PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT
Trẻ cấp 1 trải qua giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ về chiều cao, trọng lượng và cơ bắp, cùng với sự phát triển của các kỹ năng phối hợp Bộ xương, đặc biệt là cột sống, tiếp tục phát triển với các độ cong ở cổ, ngực và thắt lưng, giúp trẻ linh hoạt hơn trong cử động Dây chằng và cơ bắp được củng cố, trong khi các đốt ngón tay hoàn thiện Cơ tim phát triển mạnh mẽ, được cung cấp đủ máu, giúp não trẻ hoạt động hiệu quả hơn so với giai đoạn mẫu giáo Trọng lượng não gần đạt mức người lớn với cấu trúc hoàn thiện, đặc biệt là thùy trán, tạo điều kiện cho sự hình thành các chức năng tâm lý cao Răng cố định và xương trở nên chắc chắn hơn, do đó, việc chú ý đến vệ sinh răng miệng và thói quen dinh dưỡng trong giai đoạn này sẽ ảnh hưởng lớn đến cuộc sống sau này của trẻ.
Trẻ em cần phát triển kỹ năng vận động thông qua các hoạt động như chạy, nhảy và leo trèo, bên cạnh việc tham gia các công việc khác Mặc dù trẻ có thể ngồi yên, nhưng hoạt động thể chất là cần thiết để phát triển kỹ năng vận động Việc sử dụng máy tính, ti vi và các thiết bị điện tử có thể cản trở sự phát triển kỹ năng tinh xảo và dẫn đến tình trạng béo phì cùng các vấn đề sức khỏe khác Do đó, việc duy trì sự cân bằng giữa hoạt động thể chất và trí tuệ, kết hợp với chế độ dinh dưỡng hợp lý và thói quen tích cực là rất quan trọng để nâng cao sức khỏe lâu dài cho trẻ.
SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ
Trong giai đoạn phát triển nhận thức, trẻ em cải thiện khả năng phản hồi và tư duy linh hoạt, cho phép chúng ghi nhớ lâu hơn và tập trung tốt hơn vào nhiệm vụ Trẻ có khả năng suy luận chi tiết từ công việc được giao và kết nối thông tin mới với kiến thức hiện có Đồng thời, khả năng hiểu biết và so sánh thông tin ở nhiều khía cạnh cũng gia tăng Tuy nhiên, trẻ vẫn gặp khó khăn trong việc duy trì sự chú ý, dễ bị phân tâm bởi những điều mới lạ và thường xuyên chuyển hướng câu hỏi trong quá trình học tập.
Đời sống cảm xúc của học sinh nhỏ rất phong phú và tích cực, với sự hồn nhiên và hướng thiện Trẻ em cảm thấy vui mừng khi có bạn bè, tự hào khi gia nhập Đội và hãnh diện khi được giao nhiệm vụ từ giáo viên Qua thời gian, trẻ phát triển khả năng tự đánh giá bản thân, chuyển từ việc nhìn nhận các đặc điểm bên ngoài như tuổi tác, màu mắt sang những đặc điểm bên trong như sự tử tế, thông minh và được yêu mến Khả năng hiểu và bày tỏ các cảm xúc phức tạp như tự hào, tội lỗi và ganh tị ngày càng tăng, và những trạng thái cảm xúc này dần trở thành một phần của bản thân trẻ Trẻ cũng nhận thức rõ hơn về trách nhiệm trong việc tạo ra và kiểm soát cảm xúc, cũng như hiểu rằng cảm xúc liên quan mật thiết đến các sự kiện trong cuộc sống.
Dự án “Nâng cao năng lực cho nhân viên công tác xã hội cơ sở tại Tp.HCM” được triển khai vào tháng 7/2012 nhằm cải thiện kỹ năng và năng lực cho nhân viên trong việc quản lý cảm xúc, bao gồm cả việc che giấu hoặc thể hiện cảm xúc theo cách được xã hội chấp nhận.
Sự phát triển nhân cách của học sinh nhỏ chủ yếu diễn ra qua hoạt động học tập, nơi trẻ học cách tự điều khiển và tuân theo quy định trường lớp Tuy nhiên, trẻ em thường thiếu tính độc lập và dễ bị ảnh hưởng bởi người khác, dẫn đến khả năng tự chủ kém và dễ mắc lỗi Chúng thường nhận thức bản thân thông qua ý kiến của người khác, đặc biệt là từ người lớn và giáo viên, điều này khiến trẻ cảm thấy hoang mang khi đối diện với những ý kiến khác biệt về chính mình.
HOẠT ĐỘNG CHỦ ĐẠO
Học tập là hoạt động chính của học sinh nhỏ, yêu cầu không chỉ trí tuệ để tiếp thu tri thức, kỹ năng mà còn đòi hỏi năng lực và ý chí tự kiềm chế So với giai đoạn mẫu giáo, trẻ em không còn tự do làm theo sở thích mà phải thích ứng với những mục tiêu giáo dục cụ thể Điều này giúp trẻ phát triển khả năng giao tiếp và tương tác trong môi trường lớp học với thầy cô và bạn bè.
Trong quá trình học tập, trí tuệ của trẻ phát triển, giúp trẻ cải thiện khả năng quan sát, trí nhớ, tư duy và tưởng tượng Tuy nhiên, trong năm đầu, khả năng trí tuệ của trẻ vẫn chưa thật sự tinh tế, dẫn đến việc trẻ có thể viết thiếu nét, đọc nhầm chữ và nhầm lẫn các chi tiết tương tự như oa - ao Cấu trúc lớp học và mối quan hệ với thầy cô cũng có nhiều thay đổi, vì vậy trẻ cần sự hỗ trợ từ cha mẹ trong khoảng thời gian từ một học kỳ đến 1-5 năm để có thể thích nghi và hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập.
NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NHI ĐỒNG
1 Nhóm bạn cùng trang lứa Đây là một phần của môi trường gần gũi với trẻ có những ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển của trẻ Qua những tương quan đồng đẳng tích cực, trẻ phát triển những tương quan thân thiết và nảy sinh sự đồng cảm và thuận thảo Trái lại, những tương quan bạn cùng lứa có thể để lại những hậu quả tiêu cực trên sự phát triển của trẻ Cảm giác bị gạt bỏ, thù địch, đơn độc và trầm uất là kết quả của những tương quan xấu với bạn bè có thể ảnh hưởng đến quan hệ sau này của trẻ với người khác
2 Hình thức kỷ luật của cha mẹ
Khi trẻ lớn lên, cha mẹ phải đối mặt với những thách thức mới trong việc kỷ luật và nuôi dạy Trẻ em phát triển khả năng thể chất, nhận thức và cảm xúc, giúp chúng thực hiện các nhiệm vụ mới và đối mặt với những thử thách Theo Piaget, trẻ em bắt đầu hiểu lý lẽ và suy nghĩ về hành động của bản thân cũng như của người khác Erikson cho rằng trẻ từ 5-6 tuổi trở lên rất tò mò và nhiệt tình khám phá môi trường xung quanh Trong giai đoạn này, kỷ luật trở nên dễ dàng hơn vì trẻ có khả năng nhận thức tốt hơn, giúp chúng hiểu quy định và hậu quả Nhiệm vụ của cha mẹ là hỗ trợ trẻ phát triển kỹ năng cư xử có trách nhiệm và độc lập, đồng thời hướng dẫn trẻ đối phó với những tình huống khó khăn.
Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” tháng 7/2012 nhấn mạnh rằng việc đánh đập trẻ em và áp dụng hình phạt thể chất có thể để lại hậu quả nghiêm trọng Những hành vi này không chỉ gây tổn thương về mặt tâm lý mà còn dẫn đến việc trẻ em có xu hướng hành xử một cách gây hấn và bạo lực, do chúng học hỏi từ hành vi của những người xung quanh.
3 Các phương tiện truyền thông đại chúng
Nội dung bạo lực trên tivi, video games và internet có ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi trẻ em Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ em thường xuyên tiếp xúc với cảnh bạo lực dễ có hành vi gây hấn, chống đối xã hội và cảm thấy sợ hãi Chúng có xu hướng xem bạo lực như một vấn đề không nghiêm trọng và chưa đủ khả năng phân biệt giữa thực tế và ảo, dẫn đến việc bắt chước hành vi trong phim ảnh Trẻ em không nhận thức được rằng diễn viên đang đóng vai và những cảnh bạo lực chỉ nhằm mục đích giải trí, mà lại cho rằng những hành vi này là phổ biến và được xã hội chấp nhận.
Nghiên cứu cho thấy rằng thời gian trẻ em xem tivi, chơi video game hoặc lướt web có liên quan đến nguy cơ béo phì và tiểu đường Do đó, gia đình và giáo viên cần hỗ trợ trẻ trong việc cân bằng giữa việc sử dụng phương tiện truyền thông và các hoạt động giải trí khác, đồng thời khuyến khích trẻ tham gia vào các hoạt động thể chất và tương tác với bạn bè cùng trang lứa.
GIAI ĐOẠN THIẾU NIÊN (TUỔI HỌC SINH CẤP 2)
SỰ PHÁT TRIỂN SINH LÝ VÀ THỂ CHẤT
Giai đoạn dậy thì bắt đầu từ 11 đến 15 tuổi, đánh dấu sự phát triển rõ rệt ở cả nam và nữ Ở nữ, sự phát triển của ngực, lông nách và lông vùng kín, cùng với sự xuất hiện của kinh nguyệt, là những dấu hiệu quan trọng Trong khi đó, nam giới sẽ thấy sự nở nang của ngực, sự phát triển của bộ phận sinh dục và sự xuất tinh Những thay đổi này giúp các em nhận thức rằng mình đã trưởng thành và không còn là trẻ con nữa.
Trong giai đoạn thiếu niên, các em trải qua nhiều thay đổi thể chất có thể gây ra sự mất cân bằng và khó khăn tạm thời trong cuộc sống Ở độ tuổi này, các em thường phát triển mạnh về chiều cao, được gọi là "sự nhảy vọt về tầm vóc" Đến cuối tuổi thiếu niên, tỷ lệ cơ thể gần đạt mức của người lớn, tuy nhiên sự phát triển cơ bắp không theo kịp chiều cao, dẫn đến tình trạng mất cân đối giữa chiều cao và chiều ngang của cơ thể.
Sự phát triển nhanh chóng của tim và mạch máu ở tuổi thiếu niên có thể dẫn đến mất cân bằng chức năng hệ tim mạch, biểu hiện qua tim đập nhanh, huyết áp cao, chóng mặt, nhức đầu và giảm sức làm việc Mặc dù các em làm việc hăng say và nhiệt tình, nhưng sức bền và sự dẻo dai còn hạn chế Hoạt động mạnh mẽ của tuyến nội tiết, đặc biệt là tuyến giáp và tuyến sinh dục, gây rối loạn hệ thần kinh trung ương, dẫn đến những cơn xúc động mạnh và hành vi bất thường Trong giai đoạn này, các quá trình thần kinh hưng phấn chiếm ưu thế, khiến các em khó kiểm soát cảm xúc, dễ bị kích thích, nổi nóng và có thể tham gia vào các nhóm tự phát hoặc băng đảng với hoạt động không lành mạnh Hơn nữa, cách xử sự không khéo léo của người lớn có thể gây tổn thương tâm lý cho trẻ, dẫn đến stress và hành động thiếu suy nghĩ.
ĐỜI SỐNG CẢM XÚC – Ý CHÍ
Tuổi thiếu niên là giai đoạn quan trọng của sự dậy thì và phát triển, khi mà sự thay đổi sinh lý khiến các em bắt đầu quan tâm đến người khác giới Trong giai đoạn này, những rung cảm giới tính mới mẻ xuất hiện, làm cho các mối quan hệ với bạn khác giới trở nên phức tạp hơn và không còn đơn giản như trước.
"vô tư" như các học sinh nhỏ Những rung động giới tính thông thường được trẻ 13
Ở tuổi 15, các em thường thể hiện sự thẹn thùng, kín đáo và tế nhị trong cảm xúc của mình Những rung cảm giới tính ban đầu này thường trong sáng, chỉ cần một mối thiện cảm nhỏ, một lời nói dịu dàng hay một nụ cười trìu mến để thỏa mãn Nếu được sống trong môi trường lành mạnh và được người lớn hướng dẫn vào những hoạt động học tập, lao động có ích cùng những mối quan hệ bạn bè trong sáng, tâm trạng này sẽ nhanh chóng qua đi Ngược lại, sự can thiệp thô bạo của người lớn có thể khiến thiếu niên cảm thấy khó chịu và không thoải mái.
Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” vào tháng 7/2012 chỉ ra rằng việc bị chế giễu và xúc phạm có thể dẫn đến những hậu quả tiêu cực, thậm chí nghiêm trọng cho các nhân viên công tác xã hội.
Thiếu niên thường phản ứng bướng bỉnh và chống đối khi người lớn cư xử với họ như trẻ con, dẫn đến việc họ xa lánh và cảm thấy người lớn không thể hiểu mình Sự xung đột này có thể kéo dài cho đến khi người lớn thay đổi cách nhìn nhận và tôn trọng sự độc lập cũng như khát khao trưởng thành của thiếu niên Để xây dựng mối quan hệ hợp tác và bình đẳng, người lớn cần đóng vai trò là những người đi trước có kinh nghiệm, giúp dẫn dắt và hỗ trợ thiếu niên trong quá trình phát triển của họ.
Ý chí của học sinh thiếu niên đang trải qua những thay đổi tích cực, thể hiện qua việc họ cố gắng bắt chước những người mẫu lý tưởng mà mình ngưỡng mộ Sự phấn đấu này không chỉ giúp các em phát triển những phẩm chất ý chí như sức mạnh và tính can đảm, mà còn rèn luyện lòng dũng cảm, khả năng chịu đựng gian khổ và tinh thần vượt khó khăn để đạt được mục tiêu.
HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
Mặc dù có sự phân hóa và thay đổi trong hoạt động học tập, nhưng nó vẫn giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển tâm lý và nhân cách của thiếu niên Nhiều học sinh cảm thấy hấp dẫn hơn với môi trường trường học, nơi họ có cơ hội giao tiếp với bạn bè cùng trang lứa Giờ học không chỉ là thời gian để tiếp thu kiến thức, mà còn là cơ hội để tương tác với bạn bè và giáo viên thông qua các cử chỉ, đánh giá và cảm xúc Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến việc một số học sinh có thể bị giảm sút sự say mê học tập và có phần xao lãng trong việc học và chuẩn bị bài.
Việc học tập ở các lớp THCS đòi hỏi học sinh nắm vững khối lượng tri thức lớn và phát triển tư duy cao Những kiến thức mang tính khái niệm, khái quát và lôgíc yêu cầu các em phải tập trung, ghi nhớ và tưởng tượng Nội dung học tập ở tuổi thiếu niên phong phú hơn so với học sinh nhỏ, với khả năng tiếp thu kiến thức độc lập và có mục đích Học sinh không chỉ học trong trường mà còn qua nhiều nguồn khác nhau, và động cơ học tập của các em liên quan chặt chẽ đến dự định nghề nghiệp tương lai.
Mối quan hệ giữa học sinh và giáo viên đã có sự thay đổi rõ rệt so với thời tiểu học Hiện nay, mỗi giáo viên đảm nhiệm một môn học với phong cách, trình độ và cách giao tiếp riêng biệt Học sinh không chỉ so sánh mà còn đánh giá giáo viên dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau, dẫn đến mức độ hứng thú học tập cũng biến đổi tùy thuộc vào từng môn học và từng giáo viên.
SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
Thời kỳ thiếu niên đánh dấu sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của "cái tôi", với tự ý thức trở thành một phẩm chất nổi bật Khác với trẻ nhỏ, thiếu niên có nhu cầu tìm hiểu về bản thân, suy nghĩ và tự đánh giá để đạt được sự hài lòng hoặc bất mãn Họ thường tự phân tích bản thân, coi đó là phương tiện cần thiết để điều chỉnh và tổ chức các mối quan hệ với hoạt động, bạn bè và người lớn.
Thiếu niên không chỉ phát triển khả năng tự đánh giá mà còn biết đánh giá người khác, bao gồm bạn bè, thầy cô, cha mẹ và những người xung quanh Những đánh giá này thường chính xác và có phần khắt khe, thể hiện qua cách ứng xử và nghĩa vụ đối với những người mà họ đánh giá, thường khiến các em cảm thấy hài lòng và sung sướng.
Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” đã hoàn thành tốt nhiệm vụ vào tháng 7/2012, được đánh giá cao bởi những người tham gia Tuy nhiên, cũng có những trường hợp hoàn thành tắc trách các nhiệm vụ mà những người này cho là thiếu uy tín Sự đánh giá này đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các em tìm ra hình mẫu lý tưởng trong cuộc sống thực tế để noi theo.
Trong quá trình hình thành nhân cách, thiếu niên bắt đầu quan tâm đến nghề nghiệp tương lai, xem xét khả năng bản thân và hoàn cảnh gia đình Các em tích cực thu thập thông tin, thảo luận về các nghề nghiệp khác nhau và thử nghiệm khả năng cũng như hoàn cảnh của mình với những nghề mà các em yêu thích.
Thiếu niên phát triển phẩm chất nhân cách quan trọng là sự tự giáo dục thông qua khả năng đánh giá và tự đánh giá Các em chú trọng vào việc tự kiểm tra sự tiến bộ của bản thân, có thể cảm thấy buồn bã hoặc tự chỉ trích khi chưa hoàn thành nhiệm vụ và kế hoạch đề ra Nhờ vào khả năng tự tác động và sáng tạo, các em nỗ lực đạt được những mục tiêu có ý nghĩa trong cuộc sống.
Trong giai đoạn chuyển tiếp thành người lớn, thiếu niên đối mặt với nhiều khó khăn trong việc hình thành và khẳng định cái "tôi" xã hội Để vượt qua những trở ngại này, họ cần sự hỗ trợ tích cực từ người lớn và xã hội Một môi trường giáo dục thuận lợi sẽ khích lệ và hướng dẫn thiếu niên, giúp họ giải quyết mâu thuẫn và trưởng thành để bước vào giai đoạn phát triển mới.
NHỮNG ĐIỂM KHÁC CẦN LƯU Ý Ở TUỔI THIẾU NIÊN
1 Dậy thì sớm và trễ
Nghiên cứu cho thấy rằng sự phát triển sớm hay muộn đều có tác động tích cực và tiêu cực đến trẻ em Đối với trẻ em trai, phát triển sớm thường giúp cải thiện khả năng thể chất và nhận được sự kính trọng từ bạn bè Những trẻ phát triển sớm thường tự tin và thích nghi tốt hơn so với những trẻ phát triển chậm Ngược lại, trẻ em trai phát triển chậm thường có thân hình nhỏ con và dễ có hành vi thu hút sự chú ý, dẫn đến việc bị coi là thiếu trưởng thành Tuy nhiên, trẻ phát triển sớm cũng phải đối mặt với áp lực lớn hơn do kỳ vọng từ người khác về trách nhiệm và vai trò gương mẫu.
Nghiên cứu cho thấy trẻ nữ phát triển sớm có thể gặp nhiều vấn đề ở trường, bao gồm việc nổi bật trong mắt bạn bè nam và tỏ ra độc lập hơn so với trẻ phát triển chậm Tuy nhiên, trẻ nữ phát triển sớm cũng đối mặt với nguy cơ cao hơn về lo âu, trầm cảm, lạm dụng chất kích thích, khám phá tình dục và gặp khó khăn trong việc đối phó với stress và các vấn đề học đường.
2 Quan hệ tình dục ở tuổi thiếu niên
Nghiên cứu khoa học cho thấy rằng thanh thiếu niên hiện nay phát dục sớm và mạnh hơn so với các thế hệ trước, dẫn đến nhu cầu sinh lý và sự tò mò khám phá bản thân Tuy nhiên, điều này cũng khiến nhiều thiếu niên bắt đầu quan hệ tình dục từ rất sớm, gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng như suy giảm sức khỏe, mắc bệnh lây qua đường tình dục, học tập sa sút, mang thai ngoài ý muốn, phá thai, vô sinh và khủng hoảng tâm lý.
Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sởở Tp.HCM” - tháng 7/2012 Trang29
3 Rối loạn chuyện ăn uống Ở tuổi này, trẻ thiếu niên thường gặp rối loạn chuyện ăn uống, được thể hiện ở một trong hai hình thức, đó là chứng háu ăn hoặc biếng ăn
Chứng biếng ăn là một rối loạn ăn uống dẫn đến tình trạng gầy còm, thường xuất hiện ở tuổi vị thành niên, đặc biệt phổ biến ở trẻ nữ hơn gấp 10 lần so với trẻ nam Rối loạn này thường xảy ra ở trẻ em từ các gia đình trung lưu và thượng lưu có nền tảng giáo dục tốt, chịu áp lực từ môi trường và có yếu tố di truyền Biếng ăn thường bắt đầu sau thời gian ăn kiêng nghiêm ngặt hoặc sau khi trải qua những trải nghiệm căng thẳng, bao gồm các hành vi như ăn kiêng khắt khe, tập thể dục quá mức, hoặc thậm chí nôn mửa và sử dụng thuốc nhuận trường Các triệu chứng của chứng biếng ăn bao gồm lo âu, trầm cảm, sụt cân, và những hành vi tự hại Chứng biếng ăn có thể dẫn đến nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng như khô da, còi cọc, mất kinh, và các vấn đề tim mạch, thậm chí tử vong Phương pháp điều trị hiệu quả bao gồm sử dụng thuốc chống suy nhược và liệu pháp tâm lý dựa vào gia đình.
Chứng háu ăn là tình trạng liên quan đến việc ăn uống quá độ và thanh lọc cơ thể thông qua tập thể lực, nôn mửa hoặc sử dụng thuốc nhuận trường Thường xảy ra vào cuối thời vị thành niên và đầu thời thành niên, chứng này có thể kéo dài đến cuối tuổi thành niên Người mắc chứng háu ăn có sự ám ảnh về việc gầy nhom và có cái nhìn méo mó về bản thân, nhưng khác với người biếng ăn, họ thường có trọng lượng trung bình và cảm thấy xấu hổ về hành vi của mình, đồng thời nhận thức được bản chất rối loạn của những thói quen này.
Chứng háu ăn thường khó phát hiện hơn chứng biếng ăn do nhiều người có xu hướng che giấu hành vi và duy trì cân nặng trung bình hoặc cao hơn Những người mắc chứng này cũng gặp phải các vấn đề tâm lý như trầm cảm, rối loạn hành vi và nghiện ngập Về mặt thể chất, chứng háu ăn có thể dẫn đến mất nước, chóng mặt, các vấn đề tim mạch, giảm men răng và nhiều triệu chứng khác Phương pháp điều trị hiệu quả nhất cho chứng háu ăn là sử dụng thuốc chống suy nhược kết hợp với liệu pháp nhận thức - hành vi dựa vào gia đình.
4 Việc sử dụng các chất gây nghiện và hậu quả của nó
Tỷ lệ trẻ em nghiện thuốc, rượu và ma túy đang gia tăng đáng báo động Thiếu niên thường sử dụng rượu và ma túy vì nhiều lý do khác nhau, chủ yếu là để "nếm thử" hoặc thỏa mãn tính tò mò Họ có thể dùng một lần hoặc vài lần để thể hiện sự nổi loạn, dũng cảm, hoặc để hòa nhập với nhóm bạn Ngoài ra, một số trẻ cảm thấy cha mẹ không quan tâm, không hiểu và không chấp nhận mình, dẫn đến việc tìm đến ma túy như một cách để tìm kiếm sự khuây khỏa.
Trẻ em nghiện ngập thường có nguy cơ cao hơn trong việc tham gia vào các hành vi bạo lực, gây tai nạn, quan hệ tình dục sớm, mang thai ngoài ý muốn và mắc các bệnh lây qua đường tình dục Họ cũng có xu hướng đạt được trình độ học vấn thấp hơn so với những trẻ em khác.
5 Nghiện game ở tuổi thiếu niên
Theo nghiên cứu của các chuyên gia tâm lý học tại Trường đại học Iowa, trẻ em từ 8 đến 18 tuổi đang đối mặt với nguy cơ cao nhất về chứng "nghiện game" trên toàn cầu Biểu hiện của tình trạng này rất dễ nhận thấy; trẻ thường lơ là việc học và các hoạt động xung quanh, chỉ tập trung vào việc tìm kiếm và chơi game trực tuyến, có thể ngồi hàng giờ liền mà không quan tâm đến những thứ khác.
Dự án "Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM" vào tháng 7/2012 chỉ ra rằng việc sử dụng máy vi tính hàng ngày và tham gia vào các trò chơi nhập vai trực tuyến có thể dẫn đến tình trạng tự cô lập của thiếu niên với thế giới bên ngoài Điều này không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ xã hội mà còn gây ra rối loạn hành vi và cảm xúc, làm giảm hiệu suất học tập, ảnh hưởng đến sức khỏe và thậm chí có thể dẫn đến hành vi tự tử.