1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu bào chế cốt chứa lornoxicam dùng cho miếng dán qua da

80 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Bào Chế Cốt Chứa Lornoxicam Dùng Cho Miếng Dán Qua Da
Tác giả Nguyễn Văn Khuyến
Người hướng dẫn PGS. TS Nguyễn Thạch Tùng
Trường học Trường Đại Học Dược Hà Nội
Chuyên ngành Công Nghệ Dược Phẩm Và Bào Chế Thuốc
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,8 MB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN (11)
    • 1.1. TỔNG QUAN VỀ LORNOXICAM (11)
      • 1.1.1. Công thức cấu tạo (11)
      • 1.1.2. Tính chất hóa lý (11)
      • 1.1.3. Đặc điểm dược động học (0)
      • 1.1.4. Chỉ định (12)
      • 1.1.5. Chống chỉ định (13)
      • 1.1.6. Tác dụng không mong muốn (13)
    • 1.2. TỔNG QUAN VỀ MIẾNG DÁN (13)
      • 1.2.1. Khái niệm (13)
      • 1.2.2. Phân loại miếng dán (13)
      • 1.2.3. Ưu điểm của miếng dán (16)
      • 1.2.4. Nhược điểm của miếng dán (0)
      • 1.2.5. Thành phần miếng dán (17)
      • 1.2.6. Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hấp thu thuốc qua da (19)
      • 1.2.7. Đánh giá chất lượng của miếng dán (0)
    • 1.3. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CỐT DÍNH CHỨA DƯỢC CHẤT (28)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (30)
    • 2.1. Nguyên, vật liệu và thiết bị (30)
      • 2.1.1. Nguyên, vật liệu (30)
      • 2.1.2. Thiết bị (31)
    • 2.2. Động vật thí nghiệm (32)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (32)
      • 2.3.2. Bước đầu xây dựng công thức bào chế cốt dính chứa lornoxicam (32)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (32)
      • 2.4.1. Phương pháp bào chế cốt dính (32)
      • 2.4.2. Phương pháp đánh giá cốt dính (33)
      • 2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu (37)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (38)
    • 3.1. Thẩm định phương pháp định lượng lornoxicam bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao (38)
      • 3.1.1. Khoảng tuyến tính (38)
      • 3.1.2. Độ lặp lại (39)
      • 3.1.3. Độ đặc hiệu (39)
    • 3.2. Nghiên cứu tiền công thức (39)
      • 3.2.1. Nghiên cứu độ tan của lornoxicam trong các dung môi (40)
      • 3.2.2. Đánh giá các đặc tính hóa lý khác của dược chất (0)
    • 3.3. Thiết kế thí nghiệm sàng lọc thành phần cốt dính chứa dược chất (46)
      • 3.3.1. Ảnh hưởng tá dược tới thông lượng giải phóng lornoxicam (48)
      • 3.3.2. Ảnh hưởng tá dược tới khả năng bám dính của cốt chứa (52)
      • 3.3.3. Ảnh hưởng tá dược tới độ tan và pH bề mặt (54)
    • 3.4. Thiết kế thí nghiệm tối ưu hóa thành phần cốt dính (55)
      • 3.4.1. Ảnh hưởng của tá dược tới thông lượng thấm qua da chuột (flux) (57)
      • 3.4.2. Ảnh hưởng của tá dược tới tính dính của cốt dính (61)
  • CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN (64)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (71)
  • PHỤ LỤC (78)

Nội dung

TỔNG QUAN

TỔNG QUAN VỀ LORNOXICAM

Hình 1.1 Công thức cấu tạo của Lornoxicam [49]

-Tên khoa học: [6-chloro-4-hydroxy-2-methyl-N-2-pyridyl-5H-thieno(2,3-e)-

- Công thức phân tử: C13H10ClN3O4S2

- Khối lượng phân tử: 371,8 g/mol

Bột kết tinh màu vàng, vị đắng, ít tan trong chloroform, rất ít tan trong methanol, hầu như không tan trong nước Nhiệt độ nóng chảy 225˚C – 230˚C

LNX có hai dạng thù hình với độ tan khác nhau và tính acid yếu, với hằng số phân ly pKa là 4,7, dẫn đến sự tan hạn chế trong môi trường acid Ngoài ra, LNX cũng có tính chất hơi thân dầu, với hệ số phân bố là 1,8 trong n-octanol và đệm pH 7,4.

[32], [47] Độ tan của LNX phụ thuộc vào pH, tan tốt hơn trong môi trường đệm phosphat pH 6,8 và 7,4 [25]

Bảng 1.1 Độ tan của Lornoxicam trong các môi trường pH khác nhau ở nhiệt độ 25 ± 0,5 ˚C [14]

Môi trường Độ tan trung bình ± SD

Dung dịch acid hydrocloric 0,1N(pH=1,2) 0,006 ± 0,002

Dung dịch đệm phosphat (pH=7,4) 0,305 ± 0,083

1.1.3 Đặc điểm dƣợc động học

Lornoxicam có khả năng hòa tan chậm nhưng hấp thu nhanh chóng và gần như hoàn toàn qua đường tiêu hóa Nồng độ tối đa trong huyết tương đạt được sau khoảng 1 - 3 giờ sau khi uống thuốc Tuy nhiên, việc tiêu thụ thức ăn có thể làm giảm và làm chậm quá trình hấp thu Lornoxicam, kéo dài thời gian đạt nồng độ tối đa từ 1,5 đến 2,3 giờ.

Thể tích phân bố của LNX khi sử dụng qua đường uống và tiêm tĩnh mạch dao động từ 5-10L, tương đương với thể tích huyết tương và tương tự như các oxicam khác LNX có khả năng liên kết mạnh mẽ với protein huyết tương, chủ yếu là albumin (99%), và dễ dàng thâm nhập vào các tổ chức bao khớp, đặc biệt là hoạt dịch khớp.

Lornoxicam bị chuyển hóa phần lớn qua gan Giống như các NSAIDS khác, enzym cytochrome P450 2C9 đóng một vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa của LNX

Lornoxicam được thải trừ qua thận (khoảng 42%) và phân (51%) dưới dạng 5 ’ - hydroxy-lornoxicam Thời gian bán thải 3 - 5 giờ [27], [38], [39], [48]

- Điều trị viêm khớp, viêm xương khớp mạn tính

- Giảm đau trước và sau phẫu thuật phụ khoa, phẫu thuật chỉnh hình, phẫu thuật răng miệng…

- Bệnh nhân mẫn cảm với các thuốc chống viêm giảm đau phi steroid, xuất huyết tiêu hóa, rối loạn đông máu, suy tim, suy giảm chức năng gan thận

- LNX không được khuyến cáo sử dụng khi mang thai, nuôi con bú và 3 tháng cuối thai kỳ [30], [38], [39]

1.1.6 Tác dụng không mong muốn

LNX có thể gây ra các tác dụng phụ tương tự như các thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs), bao gồm rối loạn tiêu hóa, buồn nôn, tiêu chảy, đau đầu và đau dạ dày Mặc dù hiếm gặp, nhưng cũng có thể xảy ra các phản ứng như chảy máu, co thắt khí quản, và rất hiếm khi là hội chứng Steven-Johnson.

TỔNG QUAN VỀ MIẾNG DÁN

Theo dược điển Anh 2018 và dược điển châu Âu 8.0, miếng dán hay thuốc dán (patches) gồm 2 loại:

Miếng dán trên da (cutaneous patches) là chế phẩm mềm dẻo chứa một hoặc nhiều dược chất, được sử dụng trực tiếp trên bề mặt da Chúng được thiết kế để duy trì sự tiếp xúc của dược chất với da, nhằm tạo ra tác dụng tại chỗ hiệu quả.

Miếng dán qua da (transdermal patches) là sản phẩm có kích thước đa dạng, chứa một hoặc nhiều dược chất, được áp dụng lên da nguyên vẹn nhằm truyền dược chất vào vòng tuần hoàn chung sau khi thẩm thấu qua các lớp da.

Dựa vào cấu trúc, miếng dán chia làm 3 loại [43]:

Miếng dán loại khoang chứa có dược chất ở dạng gel hoặc dung dịch, được bảo quản trong một khoang chứa giữa lớp đế và màng kiểm soát giải phóng Khoang chứa thuốc được tạo ra bằng cách phân tán đồng nhất các phân tử thuốc dạng rắn vào chất bám dính.

Polyisobutylen được sử dụng trong hỗn hợp phân tán vào dịch lỏng nhớt không thấm nước, như silicon, để tạo thành nhũ tương đặc hoặc hòa tan trong dung môi như alcol mạch thẳng, tạo thành dung dịch thuốc Quy trình bào chế gồm ba giai đoạn chính: cán các lớp màng kiểm soát và chất bám dính, hình thành khoang chứa thuốc, và hàn kín khoang chứa Cơ chế vận chuyển thuốc qua da diễn ra nhờ sự khuếch tán qua các lớp màng, trong đó màng xốp kiểm soát tốc độ giải phóng Tốc độ giải phóng hoạt chất có thể được điều chỉnh bằng cách thay đổi thành phần polyme, hệ số thấm và độ dày lớp màng polyme Ưu điểm của phương pháp này là tách biệt chức năng vận chuyển và dính, với tốc độ giải phóng dược chất hằng định, không phụ thuộc vào tính chất da, giúp giảm dao động sinh khả dụng Tuy nhiên, quy trình sản xuất phức tạp và cần đảm bảo hàn kín khoang dược chất, đồng thời có nguy cơ rò rỉ Trong quá trình bảo quản, dược chất có thể khuếch tán vào lớp màng, dẫn đến giải phóng dược chất ồ ạt ban đầu.

Miếng dán dạng cốt (matrix) được thiết kế với dược chất phân tán vào cốt polyme, tách biệt với lớp dính, mang lại nhiều lợi thế Chúng mỏng, linh hoạt, dính tốt và dễ sản xuất hơn so với loại khoang chứa Khi dược chất ở dạng hỗn dịch trong lớp cốt, nó có thể hòa tan dần vào lớp dính, giúp duy trì lượng dược chất đã giải phóng, từ đó cho phép miếng dán này giải phóng dược chất với tốc độ hằng định.

Trong miếng dán một lớp dính (drug-in-adhesive), lớp polyme không chỉ giữ miếng dán bám chắc trên da mà còn là môi trường phân tán và kiểm soát tốc độ giải phóng dược chất Với thiết kế mỏng, nhẹ và linh hoạt, loại dược chất này tương hợp tốt với da, do đó được người bệnh chấp nhận cao.

Công thức miếng dán một lớp khó xây dựng hơn do yêu cầu tính tương hợp giữa dược chất và polyme Khi dược chất ở dạng dung dịch, tốc độ giải phóng tuân theo động học bậc 1, giảm dần theo thời gian, vì vậy miếng dán cần chứa dư lượng dược chất 80% so với lượng cần sử dụng hoặc dược chất phải được phân tán trong polyme dạng hỗn dịch Các giai đoạn chính trong bào chế thuốc dán bao gồm trộn nền dính và tá dược, phối hợp hoạt chất vào hỗn hợp, cán hỗn hợp lên lớp lưng, sấy khô để bốc hơi dung môi, và cuối cùng là đóng gói sản phẩm Cần chú ý đến việc dược chất và tá dược tiếp xúc với nhiệt độ cao, vì điều này có thể dẫn đến sự phân hủy hoặc thay đổi tính chất của tá dược Đối với loại nhiều lớp, thiết kế này có thêm lớp màng kiểm soát tốc độ giải phóng, giúp ổn định việc giải phóng dược chất và tăng khả năng bám dính so với thuốc dán một lớp.

Dựa vào lịch sử phát triển, có thể chia miếng dán thành 3 thế hệ [44]:

Thế hệ 1, còn được gọi là miếng dán “thụ động”, không chứa các thành phần biến đổi lớp sừng, dẫn đến việc cản trở khả năng hấp thu qua da Do đó, thế hệ này chỉ có thể vận chuyển các dược chất có đặc tính lý hóa nhất định, bao gồm khối lượng phân tử nhỏ, thân dầu và hiệu quả ở liều thấp.

Thế hệ 2 cải thiện khả năng thấm thuốc qua da bằng cách sử dụng các chất tăng thấm để phá vỡ cấu trúc lớp lipid trong lớp sừng, áp dụng điện chuyển ion (iontophoresis) hoặc siêu âm không tạo bong bóng (noncavitational ultrasound) Những phương pháp này có thể dẫn đến tổn thương các lớp mô sâu hơn.

Miếng dán thế hệ mới có khả năng vận chuyển hiệu quả các phân tử nhỏ thân nước cả tại chỗ và toàn thân, đồng thời hạn chế việc vận chuyển các đại phân tử.

Thế hệ 3 đã khắc phục những nhược điểm của thế hệ trước, gia tăng khả năng tác động lên lớp sừng mà vẫn bảo vệ mô sâu, cho phép vận chuyển các đại phân tử như protein trị liệu và vaccine Các biện pháp sử dụng bao gồm kết hợp chất tăng thấm để giảm kích ứng, áp dụng các chất tăng thấm sinh học, điện di, siêu âm tạo bong bóng, vi kim và đốt bằng nhiệt.

1.2.3 Ƣu điểm của miếng dán

- Sử dụng thuận tiện và không đau, có thể sử dụng khi bệnh nhân không uống được

Miếng dán qua da là phương pháp hiệu quả để đưa dược chất đến vị trí cần thiết, giúp hạn chế hấp thu và tác dụng không mong muốn toàn thân Đồng thời, miếng dán này duy trì nồng độ thuốc trong máu ổn định, đặc biệt phù hợp cho các dược chất có thời gian bán thải ngắn và những bệnh mạn tính cần sử dụng thuốc thường xuyên.

- Tránh chuyển hóa qua gan lần đầu, tránh enzym, acid đường tiêu hóa, từ đó, tăng sinh khả dụng, giảm liều sử dụng, giảm tác dụng không mong muốn

- Giảm nguy cơ quá liều hoặc không đủ liều do giải phóng dược chất theo chương trình

1.2.4 Nhƣợc điểm của miếng dán

Da có cấu trúc phức tạp với nhiều lớp khác nhau, mỗi lớp có những tính chất riêng biệt Để dược chất có thể thẩm thấu qua da, nó cần đáp ứng một số yêu cầu nhất định như kích thước phân tử, độ tan và mức độ thân nước-thân dầu.

- Tính chất của da thay đổi theo độ tuổi, vùng da khác nhau nên sinh khả dụng có thể dao động

- Độ bám dính của miếng dán rất quan trọng, khi tính dính kém, sinh khả dụng giảm

- Vấn đề kích ứng, dị ứng trên da

Một miếng dán cơ bản bao gồm dược chất, chất dính, lớp đế và lớp bảo vệ Ngoài ra, có thể bổ sung các thành phần như chất điều chỉnh tính dính và chất tăng thấm để cải thiện hiệu quả.

Để dược chất thấm tốt qua lớp sừng, nó cần có khối lượng phân tử nhỏ hơn 600 Dalton, hệ số phân bố log P từ 1-5 và nhiệt độ nóng chảy dưới 250 oC Lornoxicam, với khối lượng phân tử 371,8 Dalton, hệ số phân bố log P là 1,8 và nhiệt độ nóng chảy từ 225 oC đến 230 oC, đáp ứng đầy đủ các tiêu chí này.

CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CỐT DÍNH CHỨA DƯỢC CHẤT

Hiện đã có một số nghiên cứu về miếng dán được thực hiện trong nước và trên thế giới như:

Vào năm 2002, nhóm tác giả Nguyễn Tài Chí, Hoàng Minh Châu và Lê Quan Nghiệm đã tiến hành nghiên cứu về nền dính cho thuốc dán (Patch), trong đó họ đánh giá mức độ dính của một số công thức khác nhau Nghiên cứu này nhằm xác định công thức phù hợp cho từng loại thuốc dán, tùy thuộc vào hoạt chất và cơ chế phóng thích của chúng.

Vào năm 2004, tác giả Từ Minh Koóng đã thực hiện nghiên cứu về ứng dụng công nghệ cao trong việc sản xuất các dạng bào chế mới tại Việt Nam, trong đó thành công bào chế miếng dán chứa nitroglycerin và dehydro-epiandosteron.

Vào năm 2005, Nguyễn Thanh Hải và Từ Minh Koóng đã công bố nghiên cứu về sự tương quan giữa khả năng thấm của dehydroepiandrosteron qua da người và da lợn Kết quả cho thấy da tai lợn có thể được sử dụng làm mô hình trong các nghiên cứu phát triển công thức thuốc hấp thu qua da.

Bai Jie, Lu Yang và cộng sự (2014) đã nghiên cứu việc sử dụng Viscomate NP700 để chế tạo miếng dán hydrogel chứa acid ferulic, nhằm điều trị tổn thương da do bức xạ UV Các thành phần như dihydroxy nhôm aminoacetate, glycerine và tartaric acid được phối hợp theo tỷ lệ khác nhau để tối ưu hóa công thức Kết quả cho thấy công thức tối ưu bao gồm dihydroxy nhôm aminoacetate: NP700: glycerine: acid ferulic theo tỷ lệ 0,02: 0,4: 1,5: 1,25: 0,25, với tỷ lệ phần trăm giải phóng tích lũy của thuốc đạt 60,465 ± 1,779% trong 24 giờ.

Nghiên cứu của Durriya Hashmat và cộng sự (2020) đã phát triển một công thức cốt dính qua da chứa lornoxicam, sử dụng 3% acid oleic và 10% propylene glycol làm chất tăng thấm Công thức tối ưu được tạo ra với carbopol (940) và triethanolamin làm nền dính Kết quả cho thấy hoạt chất giải phóng theo động học bậc không đạt 95,8 ± 1,121% trong vòng 10 giờ, với thông lượng thấm đạt 126,51 ± 1,19 àg/cm²/h.

Dựa trên tổng quan các nghiên cứu và tài liệu tham khảo [26], đề tài “Nghiên cứu bào chế cốt chứa lornoxicam cho miếng dán qua da” đã được đề xuất thực hiện.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nguyên, vật liệu và thiết bị

Bảng 2.1 Nguồn gốc và tiêu chuẩn các nguyên, vật liệu chính

STT Nguyên, vật liệu Nguồn gốc Tiêu chuẩn

1 Lornoxicam (99,8%, số lô LOR 0020517) Ấn Độ USP 41

2 Acetonitril Fischer – Hàn Quốc Cho HPLC

3 Acid phosphoric Xilong Scientific – Trung Quốc TKHH

4 Acid tartaric Beijing Chemical Reagent –

5 Natri acetat trihydrat Merch – Đức Cho HPLC

6 Cồn tuyệt đối Đức Giang-Việt Nam TKHH

7 Dimethyl sulfoxyd Beijing Chemical Reagent –

8 Dinatri hydrophosphat Xilong Scientific – Trung Quốc TKHH

9 Glycerin Xilong Scientific – Trung Quốc TKHH

10 Kali clorid Xilong Scientific – Trung Quốc TKHH

11 Kali dihydrophosphat Xilong Scientific – Trung Quốc TKHH

12 Lớp bảo vệ Beijing Chemical Reagent –

13 Lớp đế Beijing Chemical Reagent –

14 Methanol Xilong Scientific – Trung Quốc TCCS

15 Natri clorid Xilong Scientific – Trung Quốc TKHH

16 Nhôm hydroxyd dạng Beijing Chemical Reagent – TKHH

17 N-methyl pyrollidon Xilong Scientific – Trung Quốc TKHH

18 Nước cất Trường Đại học Dược Hà Nội TCCS

20 Viscomate NP-700 Showa Denko – Nhật Bản TCCS

21 Methanol Merch – Đức Cho HPLC

Bảng 2.2 Nguồn gốc của các thiết bị chính

STT Thiết bị Xuất xứ

1 Bể lắc điều nhiệt GEL Đức

2 Bể siêu âm Wise Clean Đức

3 Cân kĩ thuật Sartorius TE3102S Đức

4 Cân phân tích Sartorius BP121S Đức

5 Cột HPLC Phenomenex RP18 (250 mm x 4,6 mm;

6 Dụng cụ thủy tinh: cốc có mỏ, đũa, pipet Pasteur, … Trung Quốc

7 Hệ thống HPLC Agilent HP 1260 Mỹ

8 Hệ thống thử giải phóng bằng tế bào khuếch tán Franz –

9 Màng lọc cellulose acetat kích thước 0,2μm và 0,45 μm Việt Nam

10 Máy Brookfield Texture Analyzer CT3-1500 Mỹ

11 Dụng cụ cán phim cầm tay Sheen S1117-150 Anh

12 Máy đo pH Mettler Toledo Nhật Bản

13 Máy đo pH vi môi trường Mettler Toledo Nhật Bản

14 Máy khuấy từ IKA RH basic 1 Đức

15 Máy ly tâm lạnh Hanil Supra R22 Hàn Quốc

16 Máy vortex IKA Genius 3 Nhật Bản

Động vật thí nghiệm

Chuột nhắt trắng (20g) được nuôi trong môi trường có nhiệt độ và độ ẩm ổn định, với ánh sáng đầy đủ Trong một tuần trước khi thí nghiệm, chúng được cung cấp thức ăn và nước uống đầy đủ.

Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Khảo sát ảnh hưởng một số tá dược tới khả năng giải phóng và thấm trên da của cốt thân nước chứa lornoxicam

2.3.2 Bước đầu xây dựng công thức bào chế cốt dính chứa lornoxicam

Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp bào chế cốt dính

Qua tham khảo tài liệu [3], [26], cùng với quá trình thực nghiệm, thành phần công thức cốt dính giảm đau chứa LNX dự kiến như sau:

Bảng 2.3: Thành phần cốt dính dự kiến

Lornoxicam Khảo sát Dược chất

Dung môi (khảo sát) Khảo sát Hòa tan dược chất

Chất tăng thấm Khảo sát Cải thiện khả năng giải phóng dược chất

Glycerin 20 Giữ ẩm/đồng dung môi

Viscomate 2 Polyme tạo cốt thân nước

Nhôm hydroxyd Khảo sát Tạo liên kết chéo với polyme, tăng độ bền dính Acid Khảo sát Phân ly Al 3+ , tạo liên kết chéo

Quy trình bào chế cốt dính như sau:

Bột Viscomate và nhôm hydroxyd được hòa trộn và phân tán vào glycerin trong cốc thủy tinh bằng máy khuấy từ, với tốc độ 200 vòng/phút cho đến khi đạt được sự đồng nhất.

- Hòa tan acid vào nước, rồi phối hợp với hỗn dịch trên, tiếp tục khuấy trộn bằng khuấy từ tạo gel

- Hòa tan LNX vào dung môi rồi phối hợp từ từ vào khối gel trên cho đến khi đồng nhất

Cán mỏng khối gel lên lớp bảo vệ bằng dụng cụ cán phim cầm tay với độ dày 0,5 mm Sau đó, tiếp tục cán lớp đế lên trên và để ổn định trong 24 giờ.

2.4.2 Phương pháp đánh giá cốt dính

2.4.2.1 Phương pháp đánh giá khả năng giải phóng dược chất của cốt chứa qua màng thẩm tích

Tham khảo tài liệu [13] tiến hành đánh giá khả năng giải phóng dược chất của miếng dán với điều kiện như sau:

- Thiết bị khuếch tán Franz (thể tích 7 ml, diện tích khuếch tán 1,767 cm 2 )

- Môi trường: đệm phosphat pH 7,4

- Tốc độ khuấy từ: 600 vòng/phút

- Màng thẩm tích (Spectra/Por 4, molecular weight cut off (MWCO): 12-14 kD _Spectrum Labs- Mỹ)

Sau khi lấp đầy ngăn nhận bằng môi trường, tiến hành đặt màng thẩm tích phủ kín diện tích khuếch tán bình Franz Cắt miếng dán kích thước 2 x 2 cm, bỏ lớp bảo vệ và đặt lên màng thẩm tích để đảm bảo phủ kín diện tích khuếch tán Vào các thời điểm 1, 3, 5, 7 và 24 giờ, lấy chính xác 0,5 ml môi trường từ ngăn nhận để định lượng bằng HPLC và bổ sung bằng đồng lượng môi trường mới.

Lượng LNX giải phóng qua màng thẩm tích được xác định theo công thức:

- Xt là lượng LNX giải phóng qua 1 đơn vị diện tích (μg/cm 2 )

Sc và Sk, với k là thứ tự các thời điểm lấy mẫu, lần lượt đại diện cho diện tích pic của dung dịch chuẩn và dung dịch thử tại các thời điểm 1, 3, 5, 7 và 24 giờ (LU.s).

- Cc là nồng độ dung dịch chuẩn (μg/ml)

- V1 là thể tích môi trường có trong ngăn nhận (ml)

- V2 là thể tích môi trường lấy tại các thời điểm t (ml)

- Sm là diện tích màng thẩm tích đem thử giải phóng (cm 2 )

Đồ thị thể hiện sự giải phóng dược chất theo thời gian được vẽ dựa trên thông lượng khuếch tán J (μg/cm²/h) Thông lượng này được xác định thông qua hồi quy tuyến tính Xt, khi quá trình giải phóng đã đạt đến trạng thái cân bằng.

2.4.2.2 Phương pháp đánh giá khả năng giải phóng dược chất của cốt dính qua da chuột

Tiến hành theo điều kiện tương tự đánh giá khả năng giải phóng qua màng thẩm tích, thay màng thẩm tích bằng da chuột

Chuột nhắt trắng được nuôi trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm phòng, với ánh sáng đầy đủ và thức ăn, nước uống không giới hạn trong một tuần trước thí nghiệm Trước khi tiến hành thí nghiệm, chuột bị gây chết bằng phương pháp trật khớp xương sống Sau đó, lông chuột được loại bỏ cẩn thận bằng dao lam, chú ý không làm tổn thương da lưng và lấy phần da đủ lớn, đồng thời loại bỏ lớp mỡ dưới da và dùng giấy thấm để hút hết máu Những mảnh da nguyên vẹn sau đó được quan sát dưới kính hiển vi, lựa chọn và đặt lên giấy bạc với lớp sừng hướng lên trên Cuối cùng, da được bảo quản ở nhiệt độ 2-8 độ C và được hoạt hóa lại bằng nước muối sinh lý ở 32 độ C trong 10 phút trước thí nghiệm.

2.4.2.3 Phương pháp định lượng lornoxicam bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao Điều kiện định lượng LNX bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao qua tham khảo các tài liệu [10], [26] như sau:

- Thiết bị: Máy HPLC Agilent

- Cột sắc ký Phenomenex RP18 với kích thước cột 250 x 4,6 mm, kích thước hạt nhồi 5 àm

- Detector UV phát hiện ở bước sóng 379 nm

- Pha động: Dung dịch MeOH : Dung dịch natri acetat 0,025M (chứa 0,05% (tt/tt) triethylamin) = 50 : 50

- Tốc độ dòng: 1,2 ml/phút

- Thể tớch tiờm mẫu: 20 àl

Chuẩn bị pha động bằng cách pha dung dịch natri acetat 0,025M có chứa 0,05% triethylamin Sau đó, lọc dung dịch qua màng lọc cellulose acetat có lỗ lọc 0,45 µm và sử dụng siêu âm để loại bỏ bọt khí trong 15 phút Cuối cùng, phối hợp dung dịch đã chuẩn bị với MeOH theo tỷ lệ 50:50 trong thiết bị sắc ký.

Để chuẩn bị dung dịch chuẩn, cân chính xác khoảng 5 mg chất chuẩn LNX và chuyển vào bình định mức 50 ml Sau đó, thêm 70 ml dung môi pha động, lắc đều và siêu âm trong 10 phút Tiếp theo, bổ sung dung môi đến vạch định mức và lắc đều Cuối cùng, lọc qua màng lọc 0,45 µm để thu được dung dịch với nồng độ S là 100 µg/ml.

Để chuẩn bị dung dịch thử, cắt miếng dán kích thước 2 x 2 cm và bóc lớp bảo vệ Ngâm miếng dán trong 7 ml methanol trong 24 giờ, sau đó siêu âm trong 15 phút Sau khi siêu âm, ly tâm dung dịch với tốc độ 5000 vòng/phút trong 10 phút, rồi chuyển vào bình định mức 10,0 ml Cuối cùng, thêm methanol đến vạch để thu được dung dịch thử.

Để đảm bảo độ tin cậy của phương pháp HPLC trong việc định lượng LNX, các chỉ tiêu đánh giá phương pháp xử lý và điều kiện sắc ký được thực hiện dựa trên những tiêu chí cụ thể.

27 Độ tuyến tớnh: Chuẩn bị cỏc dung dịch chuẩn, cú nồng độ S1 (0,1 àg/ml); S2

(5 àg/ml); S3 (10 àg/ml); S4 (15àg/ml); S5 (20 àg/ml); S6 (30 àg/ml); S7

Tiến hành sắc ký các dung dịch chuẩn với nồng độ 50 àg/ml và 100 àg/ml, ghi lại sắc ký đồ để xác định đáp ứng của pic Tính toán phương trình hồi quy tuyến tính và hệ số tương quan tuyến tính giữa nồng độ chất chuẩn và đáp ứng pic, yêu cầu hệ số này phải ≥ 0,998 Để kiểm tra độ lặp lại của hệ thống, mẫu chuẩn với nồng độ 10 àg/ml được phân tích lặp lại 6 lần, ghi lại sắc ký đồ và xác định giá trị thời gian lưu cùng diện tích pic trung bình, với yêu cầu RSD của thời gian lưu ≤ 1,0% và diện tích pic ≤ 2,0% Đối với độ đặc hiệu, tiến hành sắc ký trên các mẫu thử, mẫu trắng và mẫu chuẩn, ghi lại sắc ký đồ và xác định thời gian lưu của chất cần phân tích trong từng mẫu.

2.4.2.4 Phương pháp đánh giá tính bám dính của cốt dính

Đặc tính bám dính của vật liệu phụ thuộc vào hai yếu tố chính là độ bóc tách và độ bền dính Nghiên cứu này áp dụng phương pháp lột vỏ cam bằng thiết bị phân tích kết cấu Texture Analyzer CT3 1500 để đánh giá các thuộc tính này.

Để đánh giá thuộc tính bám của cốt dính, các chỉ số quan trọng được sử dụng bao gồm Peak load (g), Deformation of peak (mm), Work (mJ), và Final load (g) Cốt dính được cắt thành dải 3x15 cm và dán lên bề mặt thép không gỉ Quá trình thử nghiệm sử dụng quả cân 500 g lăn đều lên phần bám dính, trong khi đầu kẹp được hạ xuống mức tối đa 101,4 mm và cố định miếng dính bằng cách kẹp chặt đầu không mang dược chất vào đầu đo Mỗi công thức được thử nghiệm ba lần để xác định độ bám dính của cốt dính.

2.4.2.5 Phương pháp đánh giá độ tan bão hòa

Cho lượng dư LNX vào ống nghiệm và thêm dung môi, sau đó đậy kín nắp Cố định ống nghiệm nằm ngang trong bể lắc điều nhiệt với nhiệt độ 25˚C và tốc độ lắc 100 vòng/phút.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thẩm định phương pháp định lượng lornoxicam bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao

Để đánh giá sự phù hợp của hệ thống HPLC áp dụng cho định lượng LNX trong cốt dính, tiến hành khảo sát các điều kiện sắc ký sau:

Chuẩn bị cỏc dung dịch chuẩn, cú nồng độ S1 (0,1 àg/ml); S2 (5 àg/ml); S3

(10 àg/ml); S4 (15 àg/ml); S5 (20 àg/ml); S6 (30 àg/ml); S7 (50 àg/ml) và S

Tiến hành sắc ký các dung dịch chuẩn với nồng độ 100 àg/ml, ghi lại sắc ký đồ và xác định đáp ứng của pic Khảo sát sự tương quan giữa diện tích pic (y) và nồng độ (x) bằng phương pháp bình phương tối thiểu cho kết quả y = 51727x + 21469 với hệ số xác định R² = 1.

Nồng độ LNX ( àg/ml )

Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn mối tương quan giữa nồng độ và diện tích pic lornoxicam

Kết quả cho thấy giá trị R² = 1 ≥ 0,99, điều này chứng tỏ có sự tương quan tuyến tính giữa nồng độ LNX trong mẫu chuẩn và diện tích pic trong khoảng nồng độ khảo sát Khoảng tuyến tính này phù hợp để định lượng LNX trong các mẫu thử.

3.1.2 Độ lặp lại của hệ thống

Tiến hành tiêm lặp lại 6 lần mẫu chuẩn với nồng độ chính xác khoảng 10 µg/ml, ghi lại các sắc ký đồ và xác định các thông số thời gian lưu cùng diện tích pic Độ lặp lại của phương pháp được thể hiện qua độ lệch chuẩn tương đối (RSD) Kết quả thu được cho thấy tính chính xác và độ tin cậy của phương pháp phân tích.

Bảng 3.1 : Kết quả độ lặp của phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao

Lần đo Thời gian lưu (phút) Diện tích pic (mAu.s)

Kết quả từ bảng 3.1 chỉ ra rằng RSD (%) của thời gian lưu và diện tích pic đều dưới 2%, cho thấy điều kiện HPLC mang lại độ lặp lại tốt cho cả hai yếu tố này.

Tiến hành sắc ký các mẫu thử, mẫu trắng và mẫu chuẩn theo phương pháp phân tích để ghi lại sắc ký đồ Đồng thời, xác định thời gian lưu của chất cần phân tích trong các mẫu.

Kết quả từ các phụ lục cho thấy thời gian lưu của pic LNX trên sắc ký đồ mẫu thử là 10,57 phút, tương tự như trên sắc ký đồ mẫu chuẩn, trong khi mẫu trắng không xuất hiện pic nào ở thời gian lưu này Điều này chứng tỏ rằng tá dược và dung môi không ảnh hưởng đến kết quả định lượng LNX Phương pháp HPLC đã thể hiện độ tin cậy cao về tính tuyến tính, độ lặp lại và độ đặc hiệu, cho thấy rằng sắc ký lỏng hiệu năng cao có thể được sử dụng để định lượng và xác định khả năng giải phóng của LNX từ cốt dính.

Nghiên cứu tiền công thức

3.2.1 Nghiên cứu độ tan của lornoxicam trong các dung môi Để sàng lọc dung môi phù hợp bào chế cốt dính LNX , qua tham khảo tài liệu

[3], [26] cùng với quá trình thực nghiệm, tiến hành thử hòa tan LNX với các dung môi sau:

Bảng 3.2: Kết quả độ tan bão hòa của lornoxicam trong các dung môi

(n=3, TB ± RSD) Dung mụi Dung dịch 2% trong nước Độ tan (àg/ml)

Chất kiềm Dung dịch triethanolamin 2% 4510 ± 110

Chất diện hoạt Dung dịch Cremophor RH40 2% 10 ± 0,01

Dung dịch Tween 80 2% 6 ± 0,01 Đồng diện hoạt

Dung dịch N-methyl pyrrolidon 2% 3 ± 0,02 Dung dịch Dimethyl sulfoxide 2% 2,6 ± 0,01

Phối hợp hỗn hợp dung môi với tá dƣợc bào chế cốt dính

M4 Phối hợp M1 với 0,12% acid tartaric, 0,2% nhôm hydroxyd 4573 ± 1,5

M5 Phối hợp M2 với 0,12% acid tartaric, 0,2% nhôm hydroxyd 3195 ± 2

M6 Phối hợp M3 với 0,12% acid tartaric, 0,2% nhôm hydroxyd 4571 ± 0,5

Dựa vào kết quả trong bảng 3.2, cho thấy:

LNX rất khó tan ngay cả khi sử dụng các dung môi như NMP, DMSO, hoặc các chất diện hoạt như Cremophor RH 40 và Tween Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các chất kiềm có khả năng hòa tan LNX hiệu quả nhất, đặc biệt là TEA, với hàm lượng cao nhất đạt 4510 ±.

LNX có tính acid và độ tan của nó phụ thuộc vào pH, với khả năng tan tốt hơn trong môi trường kiềm Do đó, các chất kiềm sẽ làm tăng độ tan của LNX, điều này được thể hiện rõ qua số liệu 110 àg/ml (hình 3.2) [11].

Hình 3.2: Độ tan của LNX trong dung môi dung dịch kiềm

Tiếp theo, đến chất diện hoạt với khả năng hòa tan LNX của Cremophor RH40 là 10 ± 0,01 àg/ml, Tween 80 là 6 ± 0,01 àg/ml (hỡnh 3.3)

Hình 3.3: Độ tan của LNX trong dung dịch chất diện hoạt

Cuối cùng, các chất đồng diện hoạt hòa tan LNX với hàm lượng thấp nhất được xem xét Trong số các chất này, Transcutol là chất hòa tan LNX với hàm lượng cao nhất, đạt 4 ± 0,007 µg/ml (hình 3.4).

Transcutol N-methyl pyrrolidon Dimethyl sulfoxide

Chất đồng diện hoạt Đ ộ ta n c ủ a L N X (à g /m l)

Hình 3.4: Độ tan của LNX trong dung dịch chất đồng diện hoạt

Do đó, lựa chọn triethanolamin (chất kiềm), Cremophor RH40 (chất diện hoạt), Transcutol (chất đồng diện hoạt) làm dung môi hòa tan LNX cho các nghiên cứu tiếp theo

Để cải thiện độ hòa tan của LNX, các thí nghiệm đã được thực hiện với các hỗn hợp đồng dung môi, cho thấy rằng các hỗn hợp này đã làm tăng đáng kể độ tan của LNX Kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về độ tan giữa các mẫu M1, M2, M3 khi thay đổi tỷ lệ chất diện hoạt và đồng diện hoạt Cụ thể, dung dịch hỗn hợp M1 (2% TEA, 2,5% TCT, 2,5% RH40) hòa tan LNX với lượng 6062 ± 1 µg/ml, M2 (2% TEA, 5% TCT) hòa tan LNX với lượng 6419 ± 1 µg/ml, và M3 (2% TEA, 5% RH40) hòa tan LNX với lượng 6074 ± 1 µg/ml Do đó, cả ba mẫu M1, M2, M3 được lựa chọn cho các nghiên cứu tiếp theo.

Hình 3.5: Đồ thị thể hiện độ tan của LNX trong các hỗn hợp dung môi

Theo tài liệu tham khảo [3] và quá trình thực nghiệm, thành phần cốt dính bao gồm Viscomate NP700, acid tartaric và nhôm hydroxyd Những tá dược này có thể ảnh hưởng đến độ tan của LNX, vì vậy cần khảo sát ảnh hưởng hiệp đồng của hỗn hợp dung môi với các tá dược này (bảng 3.2).

Kết quả từ bảng 3.2 cho thấy rằng khi phối hợp dung dịch dược chất vào thành phần của cốt dính, hàm lượng hoạt chất giảm đáng kể Cụ thể, mẫu M5 ghi nhận hàm lượng LNX giảm nhiều nhất, từ 6419 ± 1 àg/ml xuống mức thấp hơn.

3195 ± 2 àg/ml Ở cỏc mẫu M4, M6 hàm lượng LNX giảm ớt hơn với lượng tương đương nhau từ 6062 ±1àg/ml xuống cũn 4573 ± 1,5 àg/ml (M4), từ

Hàm lượng LNX giảm từ 6074 ± 1 àg/ml xuống 4571 ± 0,5 àg/ml (M6), có thể do sự phối hợp của dung dịch dược chất vào cốt dính làm giảm pH môi trường kiềm LNX tan tốt trong môi trường kiềm, vì vậy khi pH giảm, LNX có thể bị tủa lại, dẫn đến giảm hàm lượng Dựa trên kết quả này, các thành phần trong mẫu M4 và M6 sẽ được chọn cho các nghiên cứu tiếp theo.

Hình 3.6: Đồ thị thể hiện độ tan của LNX trong hỗn hợp dung môi và khi phối hợp hỗn hợp dung môi vào tá dược bào chế cốt dính

3.2.3 Đánh giá các đặc tính hóa lý khác của dược chất

Ngoài việc nghiên cứu độ tan của dược chất, các thông tin hóa lý khác cũng được xem xét để định hướng quy trình bào chế cốt dính trên da chứa LNX.

Hình 3.7: Kết quả quét phổ vi sai của nguyên liệu lornoxicam

Bảng 3.3: Các đặc tính vật lý của dƣợc chất [32], [47], [48], [49] Đặc tính vật lý của dƣợc chất Giá trị

Khối lượng phân tử 371,8 Dalton

Theo tác giả Aulton [7], một dược chất muốn hấp thu qua da cần đáp ứng một số yêu cầu nhất định về tính chất hóa lý như:

Kích thước phân tử của dược chất nên nhỏ hơn 600 Dalton để đảm bảo khả năng khuếch tán hiệu quả qua da Đồng thời, dược chất cần có độ tan phù hợp trong cả dầu và nước Theo bảng 3.3, kích thước phân tử của LNX được xác định là 371,8 Dalton.

Đặc tính phân bố (log P) của thuốc cần đủ lớn để có thể thấm qua lớp sừng, nhưng không quá cao để không làm chậm quá trình thải trừ thuốc từ mô, với giá trị lý tưởng nằm trong khoảng từ 1 đến 5.

[8] Kết quả ở bảng 3.3 cho thấy log P của LNX là 1,8

- Nhiệt độ nóng chảy phải phù hợp, thường nhỏ hơn 250˚C [12] Kết quả trong bảng 3.3 cho thấy LNX có nhiệt độ nóng chảy 225-230˚C

Căn cứ vào bảng 3.3 và hình 3.7 thì lornoxicam đáp ứng được với các tiêu chí trên: khối lượng phân tử 371,8 Dalton, log P 1,8, và điểm nóng chảy 225-

Với nhiệt độ 230 oC, LNX được coi là lý tưởng cho việc sản xuất miếng dán hấp thu qua da Dựa trên các dữ liệu thu thập trong giai đoạn sàng lọc và nghiên cứu tài liệu, các thành phần dự kiến cho bào chế cốt dính đã được xác định.

Bảng 3.4: Thành phần dự kiến bào chế cốt dính

Thành phần Tỷ lệ (%, kl/kl) Vai trò

Lornoxicam Khảo sát Dược chất

Triethanolamin Khảo sát Dung môi hòa tan dược chất

Transcutol Khảo sát Đồng diện hoạt

Cremophor RH40 Khảo sát Chất diện hoạt

Glycerin 20 Giữ ẩm/đồng dung môi

Viscomate 2 Polyme tạo cốt thân nước

Nhôm hydroxyd Khảo sát Tạo liên kết chéo với polyme, tăng độ bền dính

Acid Khảo sát Phân ly Al 3+ , tạo liên kết chéo

Thiết kế thí nghiệm sàng lọc thành phần cốt dính chứa dược chất

Để sàng lọc nhanh và hiệu quả thành phần cốt dính chứa dược chất, việc sử dụng thiết kế theo mô hình mặt hợp tử tại tâm với chức năng “Screening design” trong phần mềm Modde 12.0 là cần thiết, do cốt dính chứa nhiều tá dược.

After preliminary research and literature review, a selection of ratios for the formulation design was established: triethanolamine (TEA) at 1-4%, Cremophor RH40 (RH40) at 0-5%, Transcutol (TCT) at 0-5%, aluminum hydroxide (Al(OH)3) at 0-0.2%, and various acids such as tartaric and citric acid.

Các biến đầu ra được xem xét bao gồm thụng lượng giải phúng qua màng thẩm tớch (àg/cm²/h), độ tan (mg/ml), tính dính (mJ) và pH bề mặt cốt dính Trong thí nghiệm sàng lọc, tính thấm của LNX không được đưa vào xem xét do số lượng thí nghiệm sẽ rất lớn Khả năng thấm của LNX qua da chuột sẽ được nghiên cứu trong giai đoạn tối ưu hóa công thức.

Bảng 3.5: Bảng thiết kế thí nghiệm sàng lọc các tá dƣợc dự kiến bào chế cốt dính LNX

Biến đầu vào (%) Khoảng thiết kế (%)

Mức dưới(-1) Mức giữa (0) Mức trên (+1)

Biến đầu ra Đơn vị

Y1 Thụng lượng thấm (Flux) àg/cm 2 /h

Thiết kế thí nghiệm theo mô hình mặt hợp tử tại tâm đã thu được 19 công thức, trong đó có 3 công thức tại tâm được sử dụng để đánh giá mức độ lặp lại của thí nghiệm.

Bảng 3.6: Bảng thiết kế thí nghiệm bằng phần mềm MODDE 12.0 và kết quả thực nghiệm

Biến đầu vào Biến đầu ra

Loại acid Độ tan bão hòa

Flux (àg/cm 2 /h) Độ bám dính (mJ) pH

Phần mềm MODDE 12.0 được sử dụng để xử lý số liệu, từ đó tạo ra bảng hệ số hồi quy thể hiện ảnh hưởng của các biến đầu vào và sự tương tác giữa chúng đến độ tan của dược chất trong dung môi, thông lượng giải phóng qua màng thẩm tích, tính dính và pH bề mặt của cốt dính (bảng 3.7).

Bảng 3.7: Hệ số hồi quy thể hiện ảnh hưởng của các biến đầu vào tới các biến đầu ra Độ tan bão hòa (mg/ml)

Thông lượng giải phóng (àg/cm 2 /h)

Tính dính của miếng dán (mJ) pH bề mặt cốt dính

Hệ số hồi quy dương chỉ ra rằng biến đầu vào có tác động đồng biến đến biến đầu ra, trong khi hệ số hồi quy âm cho thấy ảnh hưởng nghịch biến Sự ảnh hưởng thống kê của biến đầu vào tới biến đầu ra được xác định tại mức ý nghĩa *p < 0,05.

3.3.1 Ảnh hưởng tá dược tới thông lượng giải phóng lornoxicam

Tiến hành đánh giá khả năng giải phóng của dược chất qua màng thẩm tích của 19 công thức theo thứ tự ngẫu nhiên, thông lượng giải phóng được thể

40 hiện trong bảng 3.6 Ảnh hưởng của các biến đầu vào tới thông lượng giải phóng của LNX được thể hiện trong hình 3.8

Hình 3.8: Hệ số ảnh hưởng của các biến đầu vào đến thông lượng giải phóng Ảnh hưởng đơn thành phần

Kết quả từ phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu một phần cho thấy TEA có tác dụng làm tăng thông lượng giải phóng một cách có ý nghĩa (p < 0,05) Cụ thể, với công thức N1, việc sử dụng TEA ở tỷ lệ 1% tạo ra pH bề mặt là 7,03 và độ tan của dược chất đạt 1,22 mg/ml, góp phần vào thông lượng giải phóng qua màng thẩm tích.

Khi tăng tỷ lệ TEA lên 4% (N2), pH bề mặt tăng lên 8,25, độ tan tăng lên 9,29 mg/ml và thông lượng (flux) giải phóng qua màng thẩm thấu đạt 25,43 µg/cm²/h.

Hình 3.9: Tỷ lệ TEA ảnh hưởng tới độ tan của LNX

Thời gian (giờ) N1 (1%TEA) N2 (4% TEA)

Hình 3.10: Tỷ lệ TEA ảnh hưởng đến lượng LNX giải phóng qua màng thẩm tích

42 Điều này có thể là do TEA là một hợp chất hữu cơ lưỡng tính vừa là amin bậc

TEA là một base mạnh, tương tác với lornoxicam (LNX) thông qua nhóm OH có tính acid yếu, tạo ra muối amin hữu cơ Lornoxicam có tính acid yếu và độ tan phụ thuộc vào pH, tăng khả năng tan trong môi trường kiềm Sự hiện diện của TEA làm tăng pH và độ tan của LNX, từ đó cải thiện khả năng giải phóng dược chất Ngược lại, TCT và RH40 có xu hướng làm giảm thông lượng giải phóng qua màng thẩm tích, mặc dù ảnh hưởng này không có ý nghĩa thống kê Cụ thể, trong công thức N9, không có RH40 thì thông lượng giải phóng là 24,36 µg/cm²/h, nhưng khi thêm RH40 với tỷ lệ 5% (N11), thông lượng giảm còn 14,7 µg/cm²/h Tương tự, khi không có TCT (N9), thông lượng là 24,36 µg/cm²/h, nhưng khi thêm TCT với tỷ lệ 5% (N13), thông lượng giảm còn 15,59 µg/cm²/h.

Hình 3.11: Tỷ lệ RH40 ảnh hưởng đến khả năng giải phóng LNX qua màng thẩm tích

Hình 3.12: Tỷ lệ TCT ảnh hưởng đến khả năng giải phóng LNX qua màng thẩm tích

Các tá dược như nhôm hydroxyd và các loại acid có ảnh hưởng không đáng kể đến thông lượng giải phóng, đồng thời cũng cho thấy sự tương tác hiệp đồng trong quá trình này.

Tác động hiệp đồng của hai biến đầu vào ảnh hưởng đến thông lượng giải phóng LNX Cụ thể, khi tăng hỗn hợp TEA*RH40 và TEA*TCT, thông lượng giải phóng LNX có xu hướng giảm, trong khi tăng hỗn hợp TEA*AL lại dẫn đến xu hướng tăng thông lượng giải phóng LNX Tuy nhiên, những ảnh hưởng này không có ý nghĩa thống kê.

3.3.2 Ảnh hưởng tá dược tới khả năng bám dính của cốt chứa

Kết quả phân tích tính dính của cốt chứa từ 19 công thức được trình bày trong bảng 3.6, trong khi ảnh hưởng của tá dược đến khả năng bám dính của cốt chứa được thể hiện rõ trong hình 3.13.

Hình 3.13: Hệ số ảnh hưởng của các biến đầu vào đến độ bám dính của cốt chứa

Mô hình phân tích cho thấy tỷ lệ Al(OH)3 và TEA có ảnh hưởng đáng kể (p < 0,05) đến tính dính, cụ thể là làm tăng tính dính của cốt dính Sự gia tăng này có thể được giải thích bởi sự giải phóng các ion Al3+ từ Al(OH)3 dạng gel khi phản ứng với acid trong natri acrylate trong cấu trúc của Viscomate Điều này tạo ra một hệ gel bền với tính nhớt và độ bám Ngoài ra, TEA cũng có tính acid, giúp phân ly Al3+ trong phân tử Al(OH)3, từ đó tạo ra liên kết chéo với polymer.

Phân tích ảnh hưởng yếu tố kết hợp thấy rằng: tương tác hiệp đồng RH

40*Al(OH) 3 ảnh hưởng có ý nghĩa (p < 0,05) đến tính dính của miếng dán, cụ thể là có xu hướng làm giảm độ bám dính của cốt dính (bảng 3.7, hình 3.13)

3.3.3 Ảnh hưởng tá dược tới độ tan và pH bề mặt Độ tan và pH bề mặt cốt dính có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng giải phóng của dược chất qua màng thẩm tích Sự ảnh hưởng của tá dược tới độ tan và pH bề mặt của cốt dính được thể hiện trong hình 3.14

Hình 3.14: Hệ số ảnh hưởng của các biến đầu vào đến độ tan bão hòa của dược chất

Hình 3.15: Hệ số ảnh hưởng của các biến đầu vào đến pH bề mặt miếng dán

Kết quả từ bảng 3.7, hình 3.14 và hình 3.15 cho thấy TEA làm tăng độ tan bão hòa của dược chất và pH bề mặt của cốt dính với ảnh hưởng có ý nghĩa (p < 0,05) TEA, với tính chất là base mạnh và pH = 10,5 trong dung dịch 0,1N, khi thêm vào cốt chứa sẽ làm tăng pH bề mặt Sự gia tăng pH môi trường dẫn đến khả năng ion hóa của LNX tăng, giúp tạo muối dễ tan với TEA, từ đó làm tăng độ tan của LNX Mặc dù TCT và RH40 cũng là chất diện hoạt có xu hướng tăng độ tan của LNX, nhưng ảnh hưởng của chúng không có ý nghĩa thống kê.

Thiết kế thí nghiệm tối ưu hóa thành phần cốt dính

Để tối ưu hóa thành phần cốt dính chứa LNX, cần đánh giá ảnh hưởng của ba tá dược: TEA, Al(OH)3 và RH 40 đến tính thấm và khả năng dính của cốt.

Sau khi thực hiện quy hoạch thực nghiệm, các tá dược đầu vào được lựa chọn cho khoảng đánh giá bao gồm: triethanolamin (TEA) từ 1-4%, Cremophor RH40 (RH40) từ 0-5%, và nhôm hydroxyd (Al(OH)3) từ 0-0,2%.

Cỏc biến đầu ra được lựa chọn là: thụng lượng thấm (àg/cm 2 /h), tớnh dớnh (mJ).

Bảng 3.8: Bảng thiết kế thí nghiệm của biến đầu vào và biến đầu ra

Biến đầu vào (%) Khoảng thiết kế (%)

Mức dưới(-1) Mức giữa (0) Mức trên (+1)

Biến đầu ra Đơn vị

Y1 Thụng lượng thấm (Flux) àg/cm 2 /h

Thiết kế thí nghiệm theo mô hình mặt hợp tử tại tâm đã cho ra 17 công thức, bao gồm 3 công thức tại tâm nhằm đánh giá mức độ lặp lại của thí nghiệm.

Bảng 3.9: Bảng thiết kế thí nghiệm bằng phần mềm MODDE 12.0 và kết quả thực nghiệm

Biến đầu vào Biến đầu ra

Tỷ lệ TEA Tỷ lệ RH 40 Tỷ lệ Al(OH) 3

Phần mềm MODDE 12.0 được sử dụng để xử lý số liệu, cho ra bảng hệ số hồi quy thể hiện ảnh hưởng của các biến đầu vào cũng như sự tương tác giữa chúng đối với độ thông lượng thấm (flux) và tính dính của cốt dính (xem bảng 3.10).

Bảng 3.10 Hệ số hồi quy thể hiện ảnh hưởng của các biến đầu vào tới các biến đầu ra

(àg/cm 2 /h) Tớnh dớnh của cốt dớnh (mJ)

3.4.1 Ảnh hưởng của tá dược tới thông lượng thấm qua da chuột (flux)

Kết quả từ phần mềm cho thấy TEA làm tăng đáng kể thông lượng thấm (flux) của LNX qua da với ý nghĩa thống kê (p < 0,05), như thể hiện trong bảng 3.10 và hình 3.16 Điều này cho thấy sự tương đồng với kết quả khuếch tán qua màng thẩm tích đã được trình bày trước đó.

Hình 3.16: Mặt đáp thể hiện ảnh hưởng của TEA và Cremophor RH40 (cố định nhôm hydroxid ở mức 0,2 %) đến thông lượng thấm của LNX

Theo công thức N1, khi sử dụng 1% TEA, thẩm thấu đạt 2,46 µg/cm²/h Khi tăng tỷ lệ TEA lên 4% trong công thức N2, thẩm thấu tăng lên 5,35 µg/cm²/h, như thể hiện trong bảng 3.10 và hình 3.16, 3.17.

Thời gian (giờ) N1 (1% TEA) N2 (4% TEA)

Hình 3.17: Tỷ lệ TEA ảnh hưởng đến thông lượng thấm (flux) qua da chuột của LNX

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự hình thành cặp ion giữa nhóm OH mang điện tích âm trong phân tử Lornoxicam (LNX) và nguyên tử N mang điện tích dương trong phân tử Triethylamine (TEA) tạo ra muối amin hữu cơ, từ đó tăng cường khả năng thấm LNX qua da Cặp ion được xem là một phương pháp hóa học hiệu quả để nâng cao sự xâm nhập của thuốc qua da Nghiên cứu của Honglei Xi và cộng sự (2012) đã chỉ ra cơ chế tăng cường thấm qua da của các cặp ion LNX với các amin hữu cơ dựa trên độ ổn định của chúng Các amin hữu cơ như triethylamine, diethylamine, N-(20-hydroxyethanol)-piperdine (NP), diethanolamine và triethanolamine đã được sử dụng làm ion đối tính, góp phần tăng cường khả năng thấm LNX trên da thỏ in vitro.

LNX và các amin hữu cơ đã được xác định thông qua quang phổ IR và 1H NMR trong dung dịch Các amin, đặc biệt là triethylamin, cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc tăng cường thấm qua da của LNX Dữ liệu phổ đã chứng minh điều này.

Sự xuất hiện của các amin hữu cơ trong dung dịch dẫn đến việc hình thành cặp ion, liên quan đến quá trình chuyển proton của nhóm hydroxyl trong LNX Thông số độ ổn định của các cặp ion, cùng với thời gian tồn tại (T), được tính toán từ dữ liệu NMR Kết quả cho thấy tính ổn định của phức hợp cặp ion có mối quan hệ chặt chẽ với tính kiềm của các amin hữu cơ, và điều này đóng góp đáng kể vào khả năng thẩm thấu qua da của LNX.

Kết quả từ bảng 3.10 và hình 3.16 cho thấy RH40 có xu hướng làm giảm thông lượng thấm (flux) của LNX qua da, với ảnh hưởng có ý nghĩa (p < 0,05) Cụ thể, công thức N2 không chứa RH40 có thông lượng thấm là 5,35 àg/cm²/h, trong khi khi thêm RH40 với tỷ lệ 5% ở công thức N4, thông lượng thấm giảm mạnh xuống chỉ còn 0,75 àg/cm²/h (bảng 3.10, hình 3.16, hình 3.18).

Thời gian (giờ) N2 (0% RH40) N4 (5% RH40)

Hình 3.18: Tỷ lệ RH40 ảnh hưởng đến thông lượng thấm (flux) qua da chuột của LNX

Chất diện hoạt thường làm tăng khả năng hấp thu qua da, nhưng trong một số trường hợp, chúng có thể không chỉ không có tác dụng mà còn làm giảm sự hấp thu Theo nghiên cứu của Christiansen và các cộng sự (2011), hiện tượng này có thể được giải thích bằng nhiều yếu tố khác nhau.

Nếu gọi Kp là hệ số phân bố dược chất; Cm là nồng độ thuốc trong các micel,

Ct là nồng độ thuốc tự do, ta có:

Kp = Cm Ct mà J = Kp C (C là hằng số, J là hệ số khuếch tán)

Nếu nồng độ chất diện hoạt vượt quá nồng độ micel tới hạn, nó sẽ làm giảm nồng độ thuốc tự do, từ đó giảm tốc độ khuếch tán và hấp thu qua da Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng Cremophor RH40, một chất diện hoạt không ion hóa, với nồng độ cao nhất là 0,16 mM, vượt quá nồng độ micel tới hạn là 0,1 mM Điều này dẫn đến việc RH40 làm giảm nồng độ thuốc tự do và tốc độ hấp thu dược chất qua da.

3.4.2 Ảnh hưởng của tá dược tới tính dính của cốt dính

Kết quả phân tích tính dính của 17 công thức được trình bày trong bảng 3.9 cho thấy độ bám dính của 3 công thức tại tâm có độ lặp lại tương đối tốt Hình 3.19 minh họa ảnh hưởng của tá dược đến tính dính của cốt chứa.

Mô hình phân tích cho thấy tỷ lệ Al(OH)3 có ảnh hưởng đáng kể (p < 0,05) đến tính dính của miếng dán, cụ thể là làm tăng tính dính (bảng 3.10, hình 3.19).

Hình 3.19: Mặt đáp thể hiện ảnh hưởng của nhôm hydroxid và Cremophor

Việc sử dụng RH40 với tỷ lệ cố định TEA ở mức 4% ảnh hưởng đến độ bám dính của cốt dính, do các ion Al3+ từ Al(OH)3 dạng gel liên kết chéo với natri acrylate trong cấu trúc Viscomate tạo ra hệ gel bền có tính nhớt và độ bám dính Khi tăng tỷ lệ Al(OH)3, độ bám dính của cốt dính tăng lên Tuy nhiên, với RH40, việc tăng tỷ lệ lại có xu hướng làm giảm độ bám dính của cốt dính, với ảnh hưởng có ý nghĩa (p < 0,05) như thể hiện trong bảng 3.10 và hình 3.19 Nguyên nhân là do nồng độ RH40 cao làm giảm độ nhớt của cốt chứa, dẫn đến khả năng bám dính giảm.

Ngày đăng: 14/12/2021, 17:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ y tế (2014), "Kỹ thuật bào chế và sinh dược học các dạng thuốc", nhà xuất bản y học. Tập II, tr. 45-100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật bào chế và sinh dược học các dạng thuốc
Tác giả: Bộ y tế
Nhà XB: nhà xuất bản y học. Tập II
Năm: 2014
2. Lê Quan Nghiệm (2007), "Sinh dược học và các hệ thống trị liệu mới", Nxb Y Học, tr. 13-15, 148-149, 221 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh dược học và các hệ thống trị liệu mới
Tác giả: Lê Quan Nghiệm
Nhà XB: Nxb Y Học
Năm: 2007
3. Nguyễn Đức Cường, Nguyễn Chí Đức Anh, Phạm Tiến Đạt, Đặng Quang Anh, Nguyễn Thanh Bình, Đỗ Quyên, Nguyễn Thạch Tùng, (2020), "Nghiên cứu xây dựng công thức bào chế miếng dán giảm đau tại chỗ capsaicin 0,025% ", Tạp chí dược học. 7, tr. 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng công thức bào chế miếng dán giảm đau tại chỗ capsaicin 0,025%
Tác giả: Nguyễn Đức Cường, Nguyễn Chí Đức Anh, Phạm Tiến Đạt, Đặng Quang Anh, Nguyễn Thanh Bình, Đỗ Quyên, Nguyễn Thạch Tùng
Năm: 2020
4. Nguyễn Tài Chí, Hoàng Minh Châu, Lê Quan Nghiệm, (2002), "Bước đầu nghiên cứu nền dính cho dạng thuốc dán (Patch)", Tạp chí y học TP. Hồ Chí Minh. 6 (3), tr. tr. 155-158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu nền dính cho dạng thuốc dán (Patch)
Tác giả: Nguyễn Tài Chí, Hoàng Minh Châu, Lê Quan Nghiệm
Năm: 2002
5. Nguyễn Thanh Hải, Từ Minh Koóng (2005), "Nghiên cứu khả năng thấm dehydroepiandrosteron từ hệ trị liệu qua da", Tạp chí Dược học.355, tr. 14-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng thấm dehydroepiandrosteron từ hệ trị liệu qua da
Tác giả: Nguyễn Thanh Hải, Từ Minh Koóng
Năm: 2005
6. Từ Minh Koóng và cộng sự (2004), "Nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao để sản xuất các dạng bào chế mới ở Việt Nam", Đề tài cấp nhà nước mã số KC-10, tr. 88-89.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao để sản xuất các dạng bào chế mới ở Việt Nam
Tác giả: Từ Minh Koóng và cộng sự
Năm: 2004
8. Al Hanbali, Othman A, et al. (2019), "Transdermal patches: design and current approaches to painless drug delivery", Acta Pharmaceutica.69(2), pp. 197-215 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Transdermal patches: design and current approaches to painless drug delivery
Tác giả: Al Hanbali, Othman A, et al
Năm: 2019
9. Ali, Fatima Ramzan, et al. (2017), "Design, development, and optimization of dexibuprofen microemulsion based transdermal reservoir patches for controlled drug delivery", BioMed research international. 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Design, development, and optimization of dexibuprofen microemulsion based transdermal reservoir patches for controlled drug delivery
Tác giả: Ali, Fatima Ramzan, et al
Năm: 2017
10. Attimarad, M. (2010), "Rapid rp HPLC method for quantitative determination of lornoxicam in tablets", J Basic Clin Pharm. 1(2), pp.115-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rapid rp HPLC method for quantitative determination of lornoxicam in tablets
Tác giả: Attimarad, M
Năm: 2010
11. Bai, Jie, et al. (2014), "Development and in vitro evaluation of a transdermal hydrogel patch for ferulic acid", Pakistan journal of pharmaceutical sciences. 27(2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development and in vitro evaluation of a transdermal hydrogel patch for ferulic acid
Tác giả: Bai, Jie, et al
Năm: 2014
12. Barry, Brian W (2001), "Is transdermal drug delivery research still important today?", Drug discovery today. 6(19), pp. 967-971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Is transdermal drug delivery research still important today
Tác giả: Barry, Brian W
Năm: 2001
13. Benedek, Istvan, Feldstein, Mikhail M (2008), Applications of pressure-sensitive products, CRC Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Applications of pressure-sensitive products
Tác giả: Benedek, Istvan, Feldstein, Mikhail M
Năm: 2008
14. Bramhane, D. M., Jadhav, N. V. , Vavia, P. R. (2013), "Development, characterisation and evaluation of supersaturated triglyceride free drug delivery (s-TFDDS) of lornoxicam", Drug Deliv Transl Res. 3(5), pp.392-401 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development, characterisation and evaluation of supersaturated triglyceride free drug delivery (s-TFDDS) of lornoxicam
Tác giả: Bramhane, D. M., Jadhav, N. V. , Vavia, P. R
Năm: 2013
15. Chen, Yang, et al. (2014), "Novel chemical permeation enhancers for transdermal drug delivery", Asian journal of Pharmaceutical sciences.9(2), pp. 51-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Novel chemical permeation enhancers for transdermal drug delivery
Tác giả: Chen, Yang, et al
Năm: 2014
16. Christiansen, Anne, et al. (2011), "Effects of non-ionic surfactants on cytochrome P450-mediated metabolism in vitro", European Journal of Pharmaceutics and Biopharmaceutics. 78(1), pp. 166-172 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of non-ionic surfactants on cytochrome P450-mediated metabolism in vitro
Tác giả: Christiansen, Anne, et al
Năm: 2011
17. Chul-Soon, Young, et al. (1988), "Effect of sodium salicylate on in vitro percutaneous penetration of isopropamide iodide through mouse skin", International journal of pharmaceutics. 45(1-2), pp. 59-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of sodium salicylate on in vitro percutaneous penetration of isopropamide iodide through mouse skin
Tác giả: Chul-Soon, Young, et al
Năm: 1988
18. Cilurzo, Francesco, Gennari, Chiara GM và Minghetti, Paola (2012), "Adhesive properties: a critical issue in transdermal patch development", Expert opinion on drug delivery. 9(1), pp. 33-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Adhesive properties: a critical issue in transdermal patch development
Tác giả: Cilurzo, Francesco, Gennari, Chiara GM và Minghetti, Paola
Năm: 2012
19. Costa, Paulo , Lobo, Jose Manuel Sousa (2001), "Modeling and comparison of dissolution profiles", European journal of pharmaceutical sciences. 13(2), pp. 123-133 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Modeling and comparison of dissolution profiles
Tác giả: Costa, Paulo , Lobo, Jose Manuel Sousa
Năm: 2001
20. El-Nabarawi, MOHAMED A, et al. (2013), "In vitro skin permeation and biological evaluation of lornoxicam monolithic transdermal patches", Int J of Pharmacy and Pharm Sci. 5(2), pp. 242-248 Sách, tạp chí
Tiêu đề: In vitro skin permeation and biological evaluation of lornoxicam monolithic transdermal patches
Tác giả: El-Nabarawi, MOHAMED A, et al
Năm: 2013
21. Gửnỹllỹ, ĩmit, et al. (2015), "Formulation and characterization of solid lipid nanoparticles, nanostructured lipid carriers and nanoemulsion of lornoxicam for transdermal delivery", Acta Pharmaceutica. 65(1), pp.1-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Formulation and characterization of solid lipid nanoparticles, nanostructured lipid carriers and nanoemulsion of lornoxicam for transdermal delivery
Tác giả: Gửnỹllỹ, ĩmit, et al
Năm: 2015

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.15: Hệ số ảnh hưởng của các biến đầu vào đến pH bề mặt - Nghiên cứu bào chế cốt chứa lornoxicam dùng cho miếng dán qua da
Hình 3.15 Hệ số ảnh hưởng của các biến đầu vào đến pH bề mặt (Trang 9)
Bảng 1.1. Độ tan của Lornoxicam trong các môi trường pH khác nhau ở - Nghiên cứu bào chế cốt chứa lornoxicam dùng cho miếng dán qua da
Bảng 1.1. Độ tan của Lornoxicam trong các môi trường pH khác nhau ở (Trang 12)
Bảng 2.1. Nguồn gốc và tiêu chuẩn các nguyên, vật liệu chính - Nghiên cứu bào chế cốt chứa lornoxicam dùng cho miếng dán qua da
Bảng 2.1. Nguồn gốc và tiêu chuẩn các nguyên, vật liệu chính (Trang 30)
Bảng 2.2. Nguồn gốc của các thiết bị chính - Nghiên cứu bào chế cốt chứa lornoxicam dùng cho miếng dán qua da
Bảng 2.2. Nguồn gốc của các thiết bị chính (Trang 31)
Hình 3.1. Đồ thị biểu diễn mối tương quan giữa nồng độ và diện tích pic - Nghiên cứu bào chế cốt chứa lornoxicam dùng cho miếng dán qua da
Hình 3.1. Đồ thị biểu diễn mối tương quan giữa nồng độ và diện tích pic (Trang 38)
Bảng 3.2: Kết quả độ tan bão hòa của lornoxicam trong các dung môi - Nghiên cứu bào chế cốt chứa lornoxicam dùng cho miếng dán qua da
Bảng 3.2 Kết quả độ tan bão hòa của lornoxicam trong các dung môi (Trang 40)
Hình 3.2: Độ tan của LNX trong dung môi dung dịch kiềm - Nghiên cứu bào chế cốt chứa lornoxicam dùng cho miếng dán qua da
Hình 3.2 Độ tan của LNX trong dung môi dung dịch kiềm (Trang 41)
Hình 3.3: Độ tan của LNX trong dung dịch chất diện hoạt - Nghiên cứu bào chế cốt chứa lornoxicam dùng cho miếng dán qua da
Hình 3.3 Độ tan của LNX trong dung dịch chất diện hoạt (Trang 42)
Hình 3.4: Độ tan của LNX trong dung dịch chất đồng diện hoạt - Nghiên cứu bào chế cốt chứa lornoxicam dùng cho miếng dán qua da
Hình 3.4 Độ tan của LNX trong dung dịch chất đồng diện hoạt (Trang 42)
Hình 3.5: Đồ thị thể hiện độ tan của LNX trong các hỗn hợp dung môi - Nghiên cứu bào chế cốt chứa lornoxicam dùng cho miếng dán qua da
Hình 3.5 Đồ thị thể hiện độ tan của LNX trong các hỗn hợp dung môi (Trang 43)
Hình 3.6: Đồ thị thể hiện độ tan của LNX trong hỗn hợp  dung môi và khi - Nghiên cứu bào chế cốt chứa lornoxicam dùng cho miếng dán qua da
Hình 3.6 Đồ thị thể hiện độ tan của LNX trong hỗn hợp dung môi và khi (Trang 44)
Bảng 3.3: Các đặc tính vật lý của dƣợc chất [32], [47], [48], [49] - Nghiên cứu bào chế cốt chứa lornoxicam dùng cho miếng dán qua da
Bảng 3.3 Các đặc tính vật lý của dƣợc chất [32], [47], [48], [49] (Trang 45)
Bảng 3.5: Bảng thiết kế thí nghiệm sàng lọc các tá dƣợc dự kiến bào chế - Nghiên cứu bào chế cốt chứa lornoxicam dùng cho miếng dán qua da
Bảng 3.5 Bảng thiết kế thí nghiệm sàng lọc các tá dƣợc dự kiến bào chế (Trang 46)
Bảng 3.6: Bảng thiết kế thí nghiệm bằng phần mềm MODDE 12.0 và kết - Nghiên cứu bào chế cốt chứa lornoxicam dùng cho miếng dán qua da
Bảng 3.6 Bảng thiết kế thí nghiệm bằng phần mềm MODDE 12.0 và kết (Trang 47)
Bảng 3.7: Hệ số hồi quy thể hiện ảnh hưởng của các biến đầu vào tới các - Nghiên cứu bào chế cốt chứa lornoxicam dùng cho miếng dán qua da
Bảng 3.7 Hệ số hồi quy thể hiện ảnh hưởng của các biến đầu vào tới các (Trang 48)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w