1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận Chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội năm 2014

57 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chế Độ Hưu Trí Trong Luật Bảo Hiểm Xã Hội Năm 2014
Tác giả Trần Cẩm Tú
Người hướng dẫn PGS.TS Lê Thị Hoài Thu
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 744,15 KB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: M Ộ T S Ố V ẤN ĐỀ LÝ LU Ậ N V Ề CH Ế ĐỘ HƯU TRÍ (10)
    • 1.1. Khái ni ệ m ch ế độ hưu trí (10)
      • 1.1.1. Khái ni ệm, đặc điể m ch ế độ hưu trí (10)
      • 1.1.2. Nguyên t ắc cơ bả n c ủ a ch ế độ hưu trí (13)
      • 1.1.3. Vai trò c ủ a ch ế độ hưu trí (15)
      • 1.1.4. Chế độ hưu trí theo quy định của các quốc gia khác trên thế giới và những gợi mở cho Việt Nam (17)
  • CHƯƠNG 2: TH Ự C TR Ạ NG CH Ế ĐỘ HƯU TRÍ Ở VI Ệ T NAM (24)
    • 2.1. Lượ c s ử quá trình hình thành và phát tri ể n ch ế độ hưu trí ở Vi ệ t Nam (24)
    • 2.2. Th ự c tr ạ ng pháp lu ậ t Vi ệ t Nam v ề ch ế độ hưu trí (26)
      • 2.2.1. Chế độ hưu trí trong loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc (26)
      • 2.2.2. Chế độ hưu trí trong loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện (34)
    • 2.3. Th ự c ti ễ n th ự c hi ệ n ch ế độ hưu trí ở Vi ệ t Nam (36)
      • 2.3.1. Nh ữ ng k ế t qu ả đạt đượ c (36)
      • 2.3.2. Nh ữ ng h ạ n ch ế trong vi ệ c th ự c hi ệ n ch ế độ hưu trí (40)
  • CHƯƠNG 3: M Ộ T S Ố KI Ế N NGH Ị NH Ằ M GÓP PH Ầ N HOÀN THI Ệ N CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ TRONG LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014 (46)
    • 3.1. Yêu c ầ u c ủ a vi ệ c hoàn thi ệ n pháp lu ậ t v ề ch ế độ hưu trí ở Vi ệ t Nam (46)
    • 3.2. M ộ t s ố ki ế n ngh ị nh ằ m hoàn thi ện quy đị nh pháp lu ậ t Vi ệ t Nam v ề ch ế độ hưu trí (47)
    • 3.3. M ộ t s ố ki ế n ngh ị nh ằ m nâng cao hi ệ u qu ả t ổ ch ứ c tri ể n khai th ự c hi ệ n chế độ hưu trí ở Việt Nam (49)

Nội dung

M Ộ T S Ố V ẤN ĐỀ LÝ LU Ậ N V Ề CH Ế ĐỘ HƯU TRÍ

Khái ni ệ m ch ế độ hưu trí

1.1.1 Khái ni ệm, đặc điể m ch ế độ hưu trí

Hệ thống hưu trí là một phần thiết yếu của an sinh xã hội ở mọi quốc gia, thường được cấu thành từ ba tầng: phúc lợi xã hội, hưu trí bắt buộc và hưu trí tự nguyện Mục tiêu của hệ thống này là đảm bảo sự bao phủ rộng rãi và cung cấp các sản phẩm hưu trí linh hoạt, đáp ứng nhu cầu và quyền lợi của người cao tuổi Tuy nhiên, cấu trúc của hệ thống hưu trí có sự khác biệt rõ rệt giữa các quốc gia, phụ thuộc vào mức độ phát triển kinh tế và cơ cấu dân số xã hội.

Chế độ hưu trí tại Việt Nam và trên thế giới được hình thành nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống Mỗi người chỉ có một thời gian nhất định để tham gia lao động với sức khỏe và trí tuệ đầy đủ Nghiên cứu cho thấy độ tuổi nghỉ hưu tương đối đồng đều giữa các quốc gia, cho thấy rằng những người không còn khả năng lao động sẽ không thể tự tạo thu nhập Để bảo vệ quyền lợi của người lao động sau thời gian cống hiến, Nhà nước đã ban hành các quy định về chế độ hưu trí, đảm bảo thu nhập cho họ khi hết tuổi lao động.

Chếđộhưu trí có thểđược hiểu theo một vài nghĩa khác nhau:

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), chế độ hưu trí là hình thức trợ cấp dành cho những người tham gia bảo hiểm xã hội khi họ đạt đến độ tuổi cao và không còn tiếp tục làm việc bình thường.

Chế độ hưu trí được thiết lập để hỗ trợ thu nhập cho người lao động khi họ kết thúc quá trình làm việc, nhằm đảm bảo cuộc sống ổn định cho họ trong giai đoạn nghỉ hưu.

Chế độ hưu trí là một phần quan trọng của bảo hiểm xã hội, nhằm đảm bảo thu nhập cho người lao động khi họ hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia vào thị trường lao động Mục tiêu chính của chế độ này là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời ổn định đời sống cho người lao động sau khi họ hoàn thành nghĩa vụ với xã hội Chế độ hưu trí không chỉ góp phần nâng cao sức khỏe và tuổi thọ của người lao động, mà còn thể hiện sự quan tâm của Nhà nước và xã hội đối với họ trong suốt quá trình lao động và cả sau khi nghỉ hưu, thể hiện đạo lý dân tộc và trình độ văn minh của xã hội.

Chế độ hưu trí bao gồm các quy định pháp luật liên quan đến điều kiện và mức trợ cấp dành cho những người tham gia bảo hiểm hưu trí khi họ đạt độ tuổi nghỉ hưu hoặc không còn tham gia vào thị trường lao động.

Chế độ hưu trí là một hình thức bảo hiểm xã hội, đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người lao động sau khi hoàn thành nghĩa vụ lao động và đóng bảo hiểm xã hội Mục tiêu của chế độ này là hỗ trợ người lao động ổn định cuộc sống khi họ không còn khả năng lao động bình thường, tức là khi đã đến tuổi hưu trí.

Thứ nhất, chế độ hưu trí là một trong những chế độ bảo hiểm xã hội

Người lao động tham gia đóng bảo hiểm hưu trí trong suốt quá trình làm việc, nhưng chỉ được nhận lương hưu sau khi nghỉ hưu và đáp ứng đủ các điều kiện cần thiết Điều này khác biệt so với chế độ thai sản hay chế độ ốm đau, nơi mà quyền lợi được hưởng ngay trong thời gian lao động.

Chế độ hưu trí được thiết lập để đảm bảo một nguồn thu nhập ổn định cho người lao động sau khi nghỉ hưu, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân Điều này công nhận những đóng góp và cống hiến của họ cho xã hội, đồng thời góp phần tạo ra của cải vật chất và nâng cao đời sống.

Thứ ba, chế độhưu trí do Nhà nước thống nhất quản lý và quy định

Thứ tư, để được hưởng chế độ hưu trí, người lao động phải thuộc đối

8 tượng được hưởng chế độ bảo hiểm hưu trí, đồng thời đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật về tuổi, thời gian đóng bảo hiểm,…

Thứnăm, mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, và thời gian đóng bảo hiểm xã hội trong quá trình lao động

Bản chất của chế độhưu trí

Chế độ hưu trí được thiết lập để hỗ trợ người lao động từ thời điểm nghỉ hưu cho đến khi qua đời, nhằm đảm bảo một khoản lương hưu cho họ khi không còn khả năng tạo ra thu nhập do tuổi tác, sức khỏe yếu, hoặc không đủ khả năng làm việc Các điều kiện cụ thể liên quan đến chế độ này được quy định trong Luật bảo hiểm xã hội năm 2014.

Chế độ hưu trí là một hình thức bảo hiểm xã hội dài hạn, bao gồm hai quá trình chính: đóng bảo hiểm và nhận lương hưu Người lao động cần tham gia đóng bảo hiểm xã hội trong suốt thời gian làm việc Khi đủ điều kiện về tuổi đời và thời gian tham gia, họ sẽ nhận trợ cấp hưu trí cho đến khi qua đời Thời gian đóng và hưởng lương hưu có thể khác nhau tùy thuộc vào tuổi thọ và số năm công tác của từng cá nhân.

Chế độ hưu trí tại Ba là một hệ thống kế thừa giữa các thế hệ lao động, trong đó quỹ bảo hiểm hưu trí được hình thành và sử dụng theo nguyên tắc lấy số đông bù số ít, đặc trưng của bảo hiểm xã hội Người tham gia bảo hiểm xã hội đóng góp vào quỹ tài chính độc lập, từ đó chi trả trợ cấp cho những người lao động khi họ gặp khó khăn về thu nhập Thông thường, số trợ cấp mà họ nhận được lớn hơn nhiều so với số tiền đã đóng góp, tạo ra cơ chế bù đắp từ số đông người tham gia cho số ít người hưởng trợ cấp.

1.1.2 Nguyên t ắc cơ bả n c ủ a ch ế độ hưu trí

Chế độ bảo hiểm hưu trí là một phần quan trọng trong hệ thống bảo hiểm xã hội, tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của BHXH và có những quy định đặc thù riêng.

Thứ nhất, đảm bảo sự công bằng cho mọi thành viên trong xã hội có quyền được tham gia và hưởng an sinh xã hội

Chế độ hưu trí được thiết lập nhằm đảm bảo người lao động có một nguồn tài chính ổn định sau khi nghỉ hưu Quy định này áp dụng cho tất cả lao động theo nguyên tắc đóng – hưởng, giúp cân đối quỹ bảo hiểm xã hội và khuyến khích nông dân cũng như lao động khu vực phi chính phủ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện Mặc dù không còn khả năng lao động, họ vẫn nhận được sự hỗ trợ từ Nhà nước, thể hiện sự quan tâm của chính phủ đối với chính sách xã hội và tầng lớp hưu trí, một bộ phận quan trọng trong cộng đồng.

Thứ hai, phân biệt hợp lý chế độ bảo hiểm hưu trí giữa lao động nam và lao động nữ

Mặc dù nam và nữ hiện nay bình đẳng trong các mối quan hệ, chế độ hưu trí vẫn có sự ưu đãi cho nữ giới do lý do sinh học Theo Luật bảo hiểm xã hội năm 2014, điều kiện hưởng lương hưu quy định nam đủ 60 tuổi và nữ đủ 55 tuổi, tạo ra sự chênh lệch 5 năm về tuổi nghỉ hưu và thời gian đóng bảo hiểm xã hội Mức lương hưu hàng năm được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương đóng BHXH cho 15 năm, sau đó mỗi năm đóng thêm sẽ được tính thêm 2% cho nam và 3% cho nữ, với mức tối đa là 75%.

Tuy nhiên hiện nay theo cách tính mới kể từ ngày 01 tháng 01 năm

TH Ự C TR Ạ NG CH Ế ĐỘ HƯU TRÍ Ở VI Ệ T NAM

Lượ c s ử quá trình hình thành và phát tri ể n ch ế độ hưu trí ở Vi ệ t Nam

Chế độ hưu trí đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo ổn định kinh tế cho những người lao động đã hoàn thành quá trình làm việc theo các điều kiện cụ thể Từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, các chính sách bảo hiểm xã hội đã được thiết lập, và quy định về chế độ hưu trí đã dần được hình thành và hoàn thiện từ năm 1945 đến nay.

Giai đoạn 1945-1961 chứng kiến sự ra đời của nhiều văn bản pháp luật liên quan đến bảo hiểm xã hội, nổi bật là Sắc lệnh số 29-SL ban hành ngày 12 tháng 03 năm 1947, quy định các chế độ cho công nhân tại xưởng kĩ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và tư nhân Sắc lệnh này đã thiết lập các điều kiện cho chế độ thai sản và trợ cấp ốm đau, đóng góp quan trọng vào việc bảo vệ quyền lợi của người lao động.

Ngày 20 tháng 05 năm 1950, Sắc lệnh số 77-SL được ban hành vào ngày 22 tháng 05 năm 1950 quy định về công chức và công nhân, trong đó có những điều khoản liên quan đến bảo hiểm xã hội Tuy nhiên, các văn bản pháp luật trong giai đoạn này chỉ đưa ra những quy định nguyên tắc về bảo hiểm xã hội mà chưa có quy định toàn diện cho các chế độ như bệnh nghề nghiệp, hưu trí và trợ cấp mất sức lao động.

Giai đoạn từ 1961 đến 1994: Điều lệ tạm thời về bảo hiểm xã hội đối với công nhân viên chức Nhà nước ban hành kèm theo nghịđịnh 218/CP ngày

Ngày 27 tháng 12 năm 1961 là mốc quan trọng trong sự phát triển của pháp luật bảo hiểm xã hội Việt Nam, đặc biệt là chế độ hưu trí Sự kiện này đánh dấu sự chuyển biến từ những quy định sơ sài, chưa đầy đủ sang một Điều lệ với những quy định cụ thể và toàn diện hơn, trong đó có việc thành lập quỹ bảo hiểm xã hội chính thức thuộc Ngân sách Nhà nước.

Chế độ bảo hiểm hưu trí được quy định bởi các văn bản dưới luật, áp dụng cho cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước và lực lượng vũ trang hưởng lương từ ngân sách nhà nước tại các nhà máy, xí nghiệp, công nông, lâm trường Chính sách về bảo hiểm xã hội, đặc biệt là bảo hiểm hưu trí, đang được hoàn thiện về nội dung, bao gồm phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nội dung quy định và hình thức văn bản quy phạm.

Từ năm 1995 đến nay, bảo hiểm xã hội đã được điều chỉnh theo Bộ luật lao động, bao gồm các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí và tử tuất Đặc biệt, năm 2006 đánh dấu sự ra đời của Luật Bảo hiểm xã hội, tách riêng chương Bảo hiểm xã hội trong Bộ luật lao động, đồng thời quy định thêm chế độ bảo hiểm tự nguyện và hưu trí tự nguyện Chế độ hưu trí đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện hơn, trong khi loại hình bảo hiểm xã hội được phân chia rõ ràng thành hai hình thức: bắt buộc và tự nguyện.

Hiện nay, chế độ hưu trí được quy định rõ ràng hơn, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với chính sách xã hội Việc tách vấn đề bảo hiểm xã hội thành Luật Bảo hiểm xã hội 2006 và 2014 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc cải cách chính sách này.

Theo Điều 34 của Hiến pháp Việt Nam năm 2013, công dân có quyền được đảm bảo an sinh xã hội, và báo cáo từ Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) nhấn mạnh rằng cần nỗ lực hơn nữa để thực hiện quyền này cho tất cả mọi người Chế độ hưu trí là một yếu tố quan trọng trong an sinh xã hội Hiện nay, khoảng 68% người trong độ tuổi hưu trí trên thế giới nhận được trợ cấp hưu trí, liên quan đến việc mở rộng các hệ thống hưu trí có và không có đóng góp tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình Trung bình, chi tiêu cho trợ cấp hưu trí và phúc lợi cho người cao tuổi chiếm khoảng 6,9% GDP toàn cầu.

Mức trợ cấp hưu trí hiện nay còn thấp, chưa đủ giúp người cao tuổi thoát nghèo, với chênh lệch lớn giữa các khu vực Vấn đề hưu trí đang được quy định và áp dụng toàn cầu, trong đó Việt Nam cũng không ngoại lệ Chế độ hưu trí ngày càng được điều chỉnh để phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội và mở rộng các loại hình bảo hiểm xã hội, nhằm hỗ trợ người lao động trong suốt quá trình làm việc.

Chế độ hưu trí trong hệ thống bảo hiểm xã hội cần làm rõ ba nội dung chính: đối tượng được hưởng, điều kiện và mức hưởng cùng thời hạn trợ cấp Bên cạnh đó, việc xây dựng một mô hình hưu trí đồng bộ và chặt chẽ giữa các Bộ, ban, ngành cũng đang được chú trọng trong bối cảnh hiện nay.

Th ự c tr ạ ng pháp lu ậ t Vi ệ t Nam v ề ch ế độ hưu trí

Để nhận được chế độ bảo hiểm xã hội, người tham gia cần đáp ứng một số điều kiện theo quy định pháp luật Các điều kiện này có thể khác nhau tùy thuộc vào từng chế độ bảo hiểm cụ thể, nhưng đều dựa trên mức đóng góp của người tham gia.

Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 đã quy định rõ ràng hai loại hình bảo hiểm hưu trí phổ biến: bảo hiểm hưu trí bắt buộc và bảo hiểm hưu trí tự nguyện Các quy định này giúp người lao động được hưởng những ưu đãi nhất định, đồng thời mỗi loại hình bảo hiểm đều có những điều kiện cụ thể riêng.

2.2.1 Ch ế độ hưu trí trong loạ i hình b ả o hi ể m xã h ộ i b ắ t bu ộ c

Theo Khoản 1 Điều 2 của Luật bảo hiểm xã hội, người lao động là công dân Việt Nam có nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp

23 đồng lao động có hợp đồng xác định thời hạn, hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định, với thời hạn từ 3 tháng đến dưới 12 tháng, bao gồm cả hợp đồng lao động ký kết với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật lao động.

Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;

Cán bộ, công chức, viên chức;

Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu;

Sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp trong quân đội nhân dân, cũng như sĩ quan và hạ sĩ quan nghiệp vụ, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì an ninh Họ bao gồm cả sĩ quan và hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật trong công an nhân dân, những người làm công tác cơ yếu và được hưởng lương tương đương với quân nhân.

Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân, hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn, cùng với học viên quân đội, công an và cơ yếu đang theo học, đều được hưởng sinh hoạt phí.

Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương; người hoạt động không chuyên trách ởxã, phường, thị trấn

Về điều kiện hưởng Điều kiện hưởng lương hưu được quy định tại Điều 54 Luật bảo hiểm xã hội quy định

Trong điề u ki ện bình thườ ng:

Người lao động được định nghĩa là những cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hoặc hợp đồng có thời hạn từ ba tháng trở lên Điều này bao gồm cán bộ, công chức, viên chức, công nhân quốc phòng, công nhân công an, và những người làm việc có thời hạn ở nước ngoài Để đủ điều kiện nhận lương hưu, những người này cần có ít nhất 20 năm tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

24 trong các độ tuổi thuộc các trường hợp sau:

Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi

Nam từ 55 đến 60 tuổi và nữ từ 50 đến 55 tuổi, nếu có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, hoặc có đủ 15 năm làm việc tại nơi có phụ cấp khu vực với hệ số từ 0,7 trở lên, sẽ đủ điều kiện hưởng chế độ.

Người lao động từ 50 đến 55 tuổi, có ít nhất 20 năm tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó phải có 15 năm làm việc trong lĩnh vực khai thác than hầm lò, sẽ đủ điều kiện hưởng các chế độ bảo hiểm theo quy định.

Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp

Trong điề u ki ện hưởng lương hưu hàng tháng đố i v ới Quân độ i, Công an, Cơ yế u:

Người lao động trong quân đội nhân dân và công an nhân dân, bao gồm sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, và những người làm công tác cơ yếu, được hưởng lương hưu nếu có đủ 20 năm đóng bảo hiểm và thuộc một trong các trường hợp quy định.

Nam từ đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi, trừ trường hợp Luật sĩ quan quân đội nhân dân, Luật cơ yếu có quy định khác

Nam từ đủ 50 tuổi đến 55 tuổi và nữ từ đủ 45 tuổi đến 50 tuổi, nếu có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, hoặc có đủ 15 năm làm việc tại khu vực có phụ cấp khu vực từ 0,7 trở lên, sẽ được xem xét các quyền lợi đặc biệt.

Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp

Trong điề u ki ện đố i v ới lao độ ng n ữ ho ạt độ ng chuyên trách ho ặ c không chuyên trách t ạ i Ủy ban nhân dân xã, phườ ng, th ị tr ấ n:

Lao động nữ làm việc chuyên trách hoặc không chuyên trách tại xã, phường, thị trấn tham gia bảo hiểm xã hội, khi nghỉ việc và có từ 15 năm đến dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội cùng độ tuổi từ 55 trở lên, sẽ được hưởng lương hưu.

Theo điều 55 của Luật bảo hiểm xã hội, người lao động có thể hưởng lương hưu hàng tháng khi gặp trường hợp suy giảm khả năng lao động Điều này đảm bảo quyền lợi cho những người không còn khả năng làm việc do sức khỏe giảm sút.

Người lao động bao gồm những cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng có thời hạn từ ba tháng trở lên, bao gồm cán bộ, công chức, viên chức, công nhân quốc phòng, công nhân công an, và người lao động có thời hạn ở nước ngoài Những người này phải có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc để đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 54 của Luật bảo hiểm xã hội, nếu thuộc một trong các trường hợp cụ thể.

Từngày 01 tháng 01 năm 2016, nam đủ 51 tuổi, nữ đủ 46 tuổi và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động Sau đó mỗi năm tăng thêm một tuổi cho đến năm 2020 trở đi, nam đủ 55 tuổi và nữ đủ 50 tuổi thì mới đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên

Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi và bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên

Th ự c ti ễ n th ự c hi ệ n ch ế độ hưu trí ở Vi ệ t Nam

2.3.1 Nh ữ ng k ế t qu ả đạt đượ c

Về số liệu cụ thể, sốngười tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là 13,16

33 triệu người, bảo hiểm thất nghiệp là 11,24 triệu người; bảo hiểm xã hội tự nguyện là 240000 người, bảo hiểm y tế là 76,39 triệu người vào thời điểm quý

Đến cuối năm 2017, cả nước ghi nhận 13,52 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, trong khi số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đạt 291.000 Đây là kết quả từ năm đầu tiên thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội.

Từ năm 2007, số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đã tăng từ hơn 7 triệu lên 13,52 triệu người hiện tại, cho thấy sự gia tăng đáng kể trong số lượng người tham gia Từ năm 2016 đến nay, số người tham gia đã tăng hơn 1 triệu Số liệu về người đóng bảo hiểm xã hội ở các tỉnh thành trên cả nước cũng cho thấy xu hướng tăng lên theo từng năm.

Trong năm 2017, toàn ngành BHXH đã thu 289,349 tỷ đồng, trong đó, thu BHXH là 194,943 tỷ đồng, số tiền nợ BHXH là 5737 tỷ đồng, chiếm

3,0% số kế hoạch thu BHXH do Thủtướng Chính phủ giao, giảm 0,8% so với năm 2016 [25]

Hệ thống Bảo hiểm xã hội tại Việt Nam có sự phân cấp rõ ràng, đặc biệt trong việc thực hiện chế độ hưu trí tại các tỉnh thành Việc phân cấp chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội từ cấp tỉnh, huyện đến đại diện chi trả và đơn vị sử dụng lao động đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, đồng thời phục vụ tốt hơn cho đối tượng tham gia BHXH.

Trong những năm gần đây, bảo hiểm xã hội tại các tỉnh thành đã thu hút sự chú ý và chỉ đạo mạnh mẽ từ các sở, ban, ngành, đoàn thể, cũng như các cơ quan thông tin, truyền thông, đơn vị sử dụng lao động và cơ sở y tế trong việc triển khai nhiệm vụ.

Hiện nay, việc nhận chế độ BHXH hàng tháng bằng tiền mặt đang dần chuyển sang hình thức nhận qua thẻ ATM, giúp người hưởng lương hưu có thêm lựa chọn phù hợp và nhanh chóng Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho người nhận trong việc quản lý tài chính cá nhân.

Bảo hiểm xã hội số58/2014/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2014; quyết định số

Theo Quyết định 828/QĐ-BHXH ngày 27/05/2016 và Quyết định 636/QĐ-BHXH ngày 22/04/2016 của BHXH Việt Nam, người hưởng chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH) hàng tháng cần nộp hồ sơ tại cơ quan BHXH quận, huyện Họ có quyền tự do lựa chọn ngân hàng tại địa bàn mà cơ quan BHXH quản lý để mở tài khoản, từ đó thực hiện việc chi trả các chế độ BHXH và bảo hiểm thất nghiệp một cách thuận lợi.

Công nghệ thông tin đã được ứng dụng mạnh mẽ trong ngành bảo hiểm xã hội (BHXH) để quản lý khối lượng thông tin lớn và phức tạp Việc in và đổi thẻ BHYT theo mã số BHXH giúp đồng bộ hóa thông tin người tham gia Các tỉnh thành cũng đang hoàn thiện phần mềm có camera giám sát trong quy trình tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa Hiện nay, việc sử dụng phần mềm đã ổn định, hỗ trợ luân chuyển hồ sơ giữa các phòng nghiệp vụ và giữa BHXH thành phố với huyện Ứng dụng phần mềm này không chỉ cải cách thủ tục hành chính mà còn xác định rõ trách nhiệm của công chức, giảm tình trạng trả hồ sơ chậm, tiết kiệm thời gian và tạo thuận lợi cho người tham gia bảo hiểm xã hội.

Nghị quyết 49/2017/QH14, được thông qua vào ngày 13/11/2017, quy định việc điều chỉnh tăng lương cơ sở từ 1.300.000 đồng/tháng lên 1.390.000 đồng/tháng Nghị quyết cũng điều chỉnh lương hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp hàng tháng cho các đối tượng do ngân sách nhà nước đảm bảo, cùng với trợ cấp ưu đãi cho người có công, tăng theo mức lương cơ sở Quy định này sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2018.

Tốc độ già hóa dân số ở Việt Nam hiện đang gia tăng nhanh chóng, gây ra sự mất cân đối trong các chính sách và quỹ bảo hiểm xã hội Việc tăng lương cơ sở không chỉ tạo thêm nguồn thu nhập cho người lao động mà còn góp phần tăng cường nguồn lương hưu cho những người đã nghỉ hưu.

Nguyên nhân của những kết quảđạt được

Việc tách chương BHXH trong Bộ luật Lao động thành Luật BHXH vào năm 2006 là một bước tiến quan trọng, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với an sinh xã hội Luật BHXH đã bổ sung chế độ bảo hiểm tự nguyện và hưu trí tự nguyện, mở rộng nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội không chỉ cho người sử dụng lao động và ngân sách Nhà nước mà còn cho cả người lao động Sự ra đời của Luật BHXH năm 2006 đã khắc phục những vướng mắc và bất cập của các văn bản trước, góp phần cải thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực bảo hiểm hưu trí.

Chính phủ đang đặc biệt chú trọng đến chính sách tiền lương, với việc tăng mức lương cơ sở và nâng cao mức hưởng lương hưu, từ đó gia tăng thu cho quỹ bảo hiểm hưu trí Các văn bản pháp luật quy định rõ ràng và kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chế độ hưu trí Cụ thể, các điều khoản như Điều 54 về điều kiện hưởng lương hưu, Điều 55 về hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động, và các quy định khác đã được hướng dẫn chi tiết qua Thông tư và Nghị định Sự quan tâm đến quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội và chế độ hưu trí đã dẫn đến những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực này.

Thứ ba, việc thực thi các văn bản pháp luật liên quan đến chế độ hưu trí đã được cải thiện đáng kể Các văn bản hướng dẫn thi hành được nghiên cứu kỹ lưỡng và triển khai một cách cụ thể, đảm bảo tính hiệu quả trong quá trình thực hiện.

Sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ban, ngành và các đơn vị sử dụng lao động đã nâng cao chất lượng và hiệu quả trong từng khâu của công tác thu, xét duyệt hồ sơ hưởng, quản lý đối tượng và chi trả chế độ hưu trí.

Trong những năm gần đây, chế độ hưu trí đã thu hút sự quan tâm và cải thiện rõ rệt, nhờ vào công tác tuyên truyền về bảo hiểm xã hội tại các cơ quan, đơn vị sử dụng lao động Việc nâng cao nhận thức về quyền và nghĩa vụ của cả người sử dụng lao động và người lao động là rất quan trọng Khi người lao động hiểu rõ quyền lợi của mình, họ có thể tối ưu hóa việc sử dụng các quyền này, từ đó giảm thiểu tình trạng thiệt thòi do thiếu thông tin Công tác tuyên truyền được thực hiện qua nhiều kênh truyền thông, đặc biệt là báo chí, đài phát thanh và thông tin điện tử.

2.3.2 Nh ữ ng h ạ n ch ế trong vi ệ c th ự c hi ệ n ch ế độ hưu trí

Về quy định pháp luật

Tốc độ già hóa dân số ở Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng, bắt đầu từ năm 2011 khi tỷ lệ người trên 65 tuổi chiếm 7% tổng dân số Theo dự báo của Liên Hợp Quốc, tình hình này sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp trong những năm tới.

2030, tỷ lệ dân số trên 65 tuổi của Việt Nam sẽ vào khoảng 12,9% và năm

M Ộ T S Ố KI Ế N NGH Ị NH Ằ M GÓP PH Ầ N HOÀN THI Ệ N CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ TRONG LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014

Ngày đăng: 06/12/2021, 10:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. B ả o hi ể m xã h ộ i Vi ệ t Nam (2000), Th ự c tr ạ ng và các gi ả i pháp hoàn thi ệ n công tác chi tr ả các ch ế độ b ả o hi ể m xã h ộ i ng ắ n h ạ n , Đề tài nghiên c ứ u khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và các giải pháp hoàn thiện công tác chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội ngắn hạn
Tác giả: B ả o hi ể m xã h ộ i Vi ệ t Nam
Năm: 2000
2. B ộ Lao độ ng – Thương binh và Xã hộ i (2004), Lu ậ t b ả o hi ể m xã h ộ i m ộ t s ố nướ c trên th ế gi ớ i (b ả n d ị ch), Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật bảo hiểm xã hội một sốnước trên thế giới (bản dịch)
Tác giả: B ộ Lao độ ng – Thương binh và Xã hộ i
Năm: 2004
3. Đả ng C ộ ng s ả n Vi ệ t Nam (2001), Văn kiện Đạ i h ội đạ i bi ể u toàn qu ố c l ầ n th ứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đả ng C ộ ng s ả n Vi ệ t Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
4. Đặng Như Lợ i (2014), C ả i cách Lu ậ t b ả o hi ể m xã h ội để m ở r ộ ng b ả o hi ểm hưu trí đố i v ới ngườ i cao tu ổ i, Lý lu ậ n chính tr ị , s ố 12/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách Luật bảo hiểm xã hội để mở rộng bảo hiểm hưu trí đối với người cao tuổi
Tác giả: Đặng Như Lợ i
Năm: 2014
5. Đặng Như Lợi (2017), “Bả o hi ểm hưu trí – Tr ụ c ộ t c ủ a An sinh xã h ộ i lâu dài”, T ạ p chí b ả o hi ể m xã h ộ i, 45(1), tr. 15-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm hưu trí – Trụ cột của An sinh xã hội lâu dài”, "Tạp chí bảo hiểm xã hội
Tác giả: Đặng Như Lợi
Năm: 2017
6. Hà Ng ọ c Qu ế (d ịch) (2005), “Những quan điể m, ch ủ trương củ a Trung Qu ố c trong vi ệ c c ả i cách và th ố ng nh ấ t qu ả n lý an sinh xã h ội”, Kêu g ọ i ti ế n t ớ i m ộ t n ề n an sinh xã h ộ i m ớ i , Nxb. Lao độ ng xã h ộ i, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quan điểm, chủtrương của Trung Quốc trong việc cải cách và thống nhất quản lý an sinh xã hội”, "Kêu gọi tiến tới một nền an sinh xã hội mới
Tác giả: Hà Ng ọ c Qu ế (d ịch)
Nhà XB: Nxb. Lao động xã hội
Năm: 2005
7. Lê Th ị Ng ọ c Linh (2008), C ả i cách ch ế độ b ả o hi ểm hưu trí trên thế gi ớ i và m ộ t s ố bài h ọ c kinh nghi ệ m cho Vi ệ t Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Trường đạ i h ọ c Lu ậ t Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách chế độ bảo hiểm hưu trí trên thếgiới và một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Lê Th ị Ng ọ c Linh
Năm: 2008
9. Nguy ễ n Th ế M ừ ng (2015), Ch ế độ hưu trí trong quy đị nh Lu ậ t b ả o hi ể m xã h ộ i. Th ự c tr ạ ng t ạ i thành ph ố Hà N ộ i, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Lu ật trường Đạ i h ọ c Qu ố c gia Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Chế độ hưu trí trong quy định Luật bảo hiểm xã hội. Thực trạng tại thành phố Hà Nội
Tác giả: Nguy ễ n Th ế M ừ ng
Năm: 2015
10. Nguy ễn Mai Phương (2017), Ch ế độ hưu trí trong Luậ t b ả o hi ể m xã h ội năm 2014 từ th ự c ti ễ n t ỉ nh Lai Châu, Khóa lu ậ n t ố t nghi ệ p, Khoa Lu ậ t trườ ng Đạ i h ọc Công đoàn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 từ thực tiễn tỉnh Lai Châu
Tác giả: Nguy ễn Mai Phương
Năm: 2017
11. Nguy ễ n Th ị Kim Ph ụ ng (2005), Góp ý d ự th ả o Lu ậ t b ả o hi ể m xã h ộ i – Hoàn thi ệ n ch ế độ b ả o hi ểm hưu trí , T ạ p chí Nghiên c ứ u l ậ p pháp s ố 8/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp ý dự thảo Luật bảo hiểm xã hội –Hoàn thiện chếđộ bảo hiểm hưu trí
Tác giả: Nguy ễ n Th ị Kim Ph ụ ng
Năm: 2005
13. Nguy ễn Đình Luậ n (2016), Quy đị nh v ề ho ạt động đầu tư từ Qu ỹ b ả o hi ể m xã h ộ i, y t ế , th ấ t nghi ệ p, T ạ p chí tài chính k ỳ 1 tháng 6/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về hoạt động đầu tư từ Quỹ bảo hiểm xã hội, y tế, thất nghiệp
Tác giả: Nguy ễn Đình Luậ n
Năm: 2016
14. Trần Công Dũng (2002), Góp ph ầ n hoàn thi ệ n ch ế độ hưu trí trong pháp lu ậ t v ề b ả o hi ể m xã h ộ i ở Vi ệ t Nam, Lu ận văn thạc sĩ luậ t h ọ c, Khoa Lu ật trường Đạ i h ọ c Qu ố c gia Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần hoàn thiện chế độ hưu trí trong pháp luật về bảo hiểm xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Trần Công Dũng
Năm: 2002
15. Tr ầ n Th ị Thúy Nga (2004), Pháp lu ậ t v ề ngu ồ n hình thành và s ử d ụ ng qu ỹ b ả o hi ể m xã h ội hưu trí ở Vi ệ t Nam, Lu ận văn thạc sĩ luậ t h ọ c, Khoa Lu ậ t trường Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội hưu trí ở Việt Nam
Tác giả: Tr ầ n Th ị Thúy Nga
Năm: 2004
16. Tr ầ n Thúy Lâm (2004), B ả o hi ể m xã h ội đố i v ới người lao độ ng n ữ th ự c tr ạng và phương hướ ng hoàn thi ệ n, Lu ậ t h ọ c s ố 3/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm xã hội đối với người lao động nữthực trạng và phương hướng hoàn thiện
Tác giả: Tr ầ n Thúy Lâm
Năm: 2004
23. Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội (2005), Pháp lu ậ t b ả o hi ể m xã h ộ i c ủ a m ộ t s ố nướ c trên th ế gi ớ i (T ậ p 1), Nxb. Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật bảo hiểm xã hội của một sốnước trên thế giới (Tập 1)
Tác giả: Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2005
24. Báo m ới (2017), “ 13,52 tri ệu ngườ i tham gia b ả o hi ể m xã h ộ i b ắ t bu ộ c ” , Báo điệ n t ử , truy c ậ p ngày 06/04/2018 t ừ trang:https://baomoi.com/13-52-trieu-nguoi-tham-gia-bao-hiem-xa-hoi-bat-buoc/c/24425071.epi Sách, tạp chí
Tiêu đề: 13,52 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc”, "Báo điện tử
Tác giả: Báo m ới
Năm: 2017
25. Báo m ới (2017), “Các quố c gia trên th ế gi ới tính lương hưu như thế nào?”, Báo điệ n t ử , truy c ậ p ngày 06/04/2018 t ừ trang https://baomoi.com/cac-quoc-gia-tren-the-gioi-tinh-luong-huu-nhu-the-nao/c/23836847.epi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quốc gia trên thế giới tính lương hưu như thếnào?”, "Báo điện tử
Tác giả: Báo m ới
Năm: 2017
26. T ạp chí tài chính (2017), “Hơn 13 triệu ngườ i tham gia b ả o hi ể m xã h ộ i b ắ t bu ộ c ” , Báo điệ n t ử , truy c ậ p ngày 07/04/2018 t ừ trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hơn 13 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc”, "Báo điện tử
Tác giả: T ạp chí tài chính
Năm: 2017
8. Liên h ợ p qu ố c (1948), Tuyên ngôn toàn th ế gi ớ i v ề nhân quy ề n Khác
12. Nguy ễ n Hi ền Phương (1996), B ả o hi ểm hưu trí thự c tr ạ ng và nh ữ ng Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w