1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TRUNG QUỐC VÀ MỐI QUAN HỆ KINH TẾ VỚI VIỆT NAM

44 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 1,17 MB

Cấu trúc

  • 1. Tình hình kinh tế của Trung Quốc:

    • 1.1 Tổng quan:

    • 1.2 Các ngành kinh tế mũi nhọn:

      • 1.2.1. Nông nghiệp:

      • 1.2.2. Công nghiệp và chế tạo:

      • 1.2.3. Năng lượng và khoáng sản:

      • 1.2.4. Du lịch:

    • 1.3. Các chỉ số kinh tế:

  • 2. Quan hệ ngoại giao – chính trị với Việt Nam:

    • 2.1. Quan hệ ngoại giao – chính trị:

    • 2.2. Các chuyến thăm cao cấp gần đây:

  • 3. Quan hệ kinh tế của hai nước:

    • 3.1. Quan hệ thương mại:

      • 3.1.1. Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc:

  • Việt Nam chi gần 10,7 tỷ USD nhập hàng từ Trung Quốc:

    • 3.1.2. Những con số không thể bỏ qua về quan hệ Thương mại Việt Nam – Trung Quốc:

    • Khả năng gia tăng sự phụ thuộc thương mại giữa Việt nam và Trung quốc đang hiện hữu.

      • 3.1.3. Triển vọng quan hệ thương mại Việt Nam-Trung Quốc:

    • 3.2. Hoạt động đầu tư Trung Quốc – Việt Nam:

      • 3.2.1. Tình hình đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam:

      • 3.2.2. Ưu, nhược điểm trong việc đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam:

      • 3.2.3. Những hạn chế trong việc đầu tư của Trung Quốc ở Việt Nam:

      • 3.2.4. Trung Quốc đầu tư ồ ạt vào Việt Nam, lành ít, dữ nhiều:

      • 3.2.5. Tình hình đầu tư của Việt Nam ở Trung Quốc:

    • 3.3. Hoạt động chuyển giao công nghệ Trung Quốc – Việt Nam:

    • 3.4. Hoạt động Tài chính:

      • 3.4.1. AIIB – Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng Châu Á

      • 3.4.2. Trung Quốc quốc tế hóa đồng Nhân dân tệ

      • 3.4.3. Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ

    • 3.5. Việt Nam ảnh hưởng gì trước thay đổi kinh tế Trung Quốc?

    • 3.6. Vì sao kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc?

    • Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc các hàng thô, sơ chế, có giá trị gia tăng thấp và nhập khẩu các hàng thành phẩm có giá trị gia tăng cao.

  • 4. Các Hiệp định thương mại của Trung Quốc và Việt Nam

  • Hiệp Định Hợp Tác Kinh Tế Giữa Chính Phủ Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Và Chính Phủ Nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa

  • Hiệp Định Hợp Tác Kinh Tế Kỹ Thuật Giữa Chính Phủ Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Và Chính Phủ Nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa

  • Điều 1. Căn cứ theo nhu cầu phát triển kinh tế quốc dân của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cung cấp cho Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoản viện trợ không hoàn lại 50 triệu Nhân dân tệ.

  • Điều 2. Khoản viện trợ nói trên được sử dụng để xây dựng Cung hữu nghị Việt - Trung ở Hà Nội.

  • Hiệp Định VN-Trung Hoa Về Tránh Đánh Thuế Hai Lần Và Ngăn Ngừa Việc Trốn Lậu Thuế Đối Với Các Loại Thuế Đánh Vào Thu Nhập

  • ĐIỀU 1

  • Phạm vi áp dụng

  • Hiệp Định VN-Trung Hoa Về Mua Bán Hàng Hoá Ở Vùng Biên Giới

  • Điều 1

  • Mua bán hàng hóa ở vùng biên giới nêu trong Hiệp định này là hoạt động mua bán hàng hóa của các doanh nghiệp được xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa ở vùng biên giới theo quy định của mỗi bên và của cư dân biên giới, thông qua các cửa khẩu biên giới trên bộ, chợ biên giới được hai bên thỏa thuận nhất trí mở tại sáu tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu của Việt Nam và hai tỉnh Vân Nam, Quảng Tây của Trung Quốc theo quy định của Hiệp định tạm thời.

  • Điều 2

  • Hai bên ký kết khuyến khích, thúc đẩy hoạt động mua bán hàng hóa ở vùng biên giới phát triển lành mạnh, liên tục, ổn định và có biện pháp tăng cường phối hợp chống buôn lậu, gian lận thương mại.

  • Hiệp Định VN-Trung Hoa Về Quá Cảnh Hàng Hoá

  • Hiệp Định VN-Trung Hoa Về Đảm Bảo Chất Lượng Hàng Hoá Xuất Nhập Khẩu Và Công Nhận Lẫn Nhau

  • Hiệp Định Về Thành Lập Ủy Ban Hợp Tác Kinh Tế Thương Mại Giữa Chính Phủ Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Và Chính Phủ Nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa

  • Hiệp Định Giữa Chính Phủ Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Và Chính Phủ Nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa Về Khuyến Khích và Bảo Hộ Đầu Tư

  • Hiệp Định Thanh Toán Về Hợp Tác Giữa Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Và Ngân Hàng Nhân Dân Trung Quốc Nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa

  • Hiệp định thương mại tự do ASEAN- Trung Quốc (ACFTA)

    • Nội dung:

    • Việt Nam cam kết cắt giảm thuế quan trong ACFTA:

    • Trung Quốc cam kết cắt giảm thuế quan dành cho Việt Nam

    • Đánh giá tác động của ACFTA Việt Nam – Trung Quốc:

Nội dung

Gần 30 năm thực hiện cải cách mở cửa, Trung Quốc đã thu được những thành tựu to lớn, đưa Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn trên thế giới. Từ năm 1979 đến 2005, GDP bình quân hàng năm của Trung Quốc tăng trên 9,4%, đạt mức cao nhất thế giới. Tính riêng năm 2005, năm cuối cùng thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ 10, GDP của Trung Quốc tăng trưởng 9,9%, đạt khoảng 2200 tỷ USD (gấp 50 lần so với năm 1978), xếp thứ 4 thế giới; thu nhập bình quân của cư dân ở thành thị đạt khoảng 1295 USD, ở nông thôn đạt khoảng 403 USD. Về kinh tế đối ngoại, Trung Quốc kết thúc thời gian quá độ sau khi gia nhập WTO; tổng kim ngạch thương mại đạt 1422 tỷ USD, tăng 23,2%, xếp thứ 3 thế giới (gấp 60 lần so với năm 1978); dự trữ ngoại tệ đạt 941 tỷ USD, đứng đầu thế giới. Kể từ năm 2003, Trung Quốc đã vượt Mỹ trở thành nước thu hút đầu tư nước ngoài FDI lớn nhất thế giới; năm 2005 FDI thực tế đạt 60,3 tỷ USD, đưa tổng số vốn đầu tư thực tế vượt 620 tỷ USD. Năm 2009 tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đạt 2 % với mức dự trữ ngoại tệ đạt 2.399,152 tỷ đô la. tương đương Năm 2011, tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc đạt 9,5%, tương đương tăng trưởng GDP 6.989 tỷ USD. Trong 20102011, Trung Quốc phải đối mặt với lạm phát cao, một số biện pháp thắt chặt xuất hiện để lạm phát được kiểm soát, nhưng cũng do đó tăng trưởng GDP giảm xuống dưới 8 % trong năm 2012. Năm 2013, GDP (PPP) Trung Quốc với tốc độ tăng trưởng 7,8%, ước tính đạt 12.610 tỷ USD, xếp vị trí thứ 20 trên thế giới. Theo ước tính, GDP Trung Quốc năm 2014 có thể vượt qua Mỹ đứng thứ 1 với con số 17.631 tỷ đô la, chiếm 16,5% GDP toàn cầu.

Tình hình kinh tế của Trung Quốc

Tổng quan

Gần 30 năm thực hiện cải cách mở cửa, Trung Quốc đã thu được những thành tựu to lớn, đưa Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn trên thế giới Từ năm 1979 đến 2005, GDP bình quân hàng năm của Trung Quốc tăng trên 9,4%, đạt mức cao nhất thế giới Tính riêng năm 2005, năm cuối cùng thực hiện "Kế hoạch 5 năm lần thứ 10", GDP của Trung Quốc tăng trưởng 9,9%, đạt khoảng 2200 tỷ USD (gấp 50 lần so với năm 1978), xếp thứ

Năm 2023, thu nhập bình quân của cư dân thành thị ở Trung Quốc đạt khoảng 1.295 USD, trong khi ở nông thôn chỉ đạt khoảng 403 USD Sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã hoàn tất thời gian quá độ, với tổng kim ngạch thương mại đạt 1.422 tỷ USD, tăng 23,2% và xếp thứ 3 thế giới, gấp 60 lần so với năm 1978 Đặc biệt, dự trữ ngoại tệ của nước này đạt 941 tỷ USD, đứng đầu thế giới Kể từ năm 2003, Trung Quốc đã vượt qua Mỹ để trở thành nước thu hút đầu tư nước ngoài FDI lớn nhất, với FDI thực tế năm 2005 đạt 60,3 tỷ USD, đưa tổng số vốn đầu tư thực tế vượt mức cao.

Năm 2009, Trung Quốc ghi nhận mức tăng trưởng kinh tế 2% với dự trữ ngoại tệ đạt 2.399,152 tỷ USD Đến năm 2011, tốc độ tăng trưởng đạt 9,5%, tương đương với GDP 6.989 tỷ USD Tuy nhiên, trong giai đoạn 2010-2011, Trung Quốc phải đối mặt với lạm phát cao, dẫn đến việc áp dụng các biện pháp thắt chặt nhằm kiểm soát lạm phát, nhưng kết quả là tăng trưởng GDP giảm xuống dưới 8% vào năm 2012.

Năm 2013, GDP (PPP) của Trung Quốc đạt 12.610 tỷ USD với tốc độ tăng trưởng 7,8%, xếp thứ 20 trên thế giới Dự báo GDP của Trung Quốc trong năm 2014 có khả năng vượt qua mức này.

Mỹ đứng thứ 1 với con số 17.631 tỷ đô la, chiếm 16,5% GDP toàn cầu.

Các ngành kinh tế mũi nhọn

Trung Quốc đã có sự chuyển mình ấn tượng, từ một quốc gia nghèo với hàng hóa khan hiếm và phụ thuộc vào nhập khẩu lương thực, đến vị trí hàng đầu thế giới về sản lượng sản xuất nhiều loại sản phẩm Năm 1998, sản lượng ngũ cốc đạt 512 triệu tấn, trong khi bông đạt 6,32 triệu tấn vào năm 2004 Ngoài ra, sản lượng hạt có dầu cũng đạt 30,57 triệu tấn và thịt lên tới 41,2 triệu tấn Năm 2004, Trung Quốc sản xuất 273 triệu tấn thép, 1,956 tỷ tấn than, 24,87 tỷ m2 vải và một lượng lớn xi măng, khẳng định vị thế vững chắc trong ngành sản xuất toàn cầu.

Trung Quốc, vào năm 2004, đạt sản lượng 970 triệu tấn và đứng thứ hai thế giới về sản xuất điện với 1.135,6 tỷ kWh Quốc gia này cũng xếp thứ ba toàn cầu trong ngành sản xuất ô tô với 5,2 triệu chiếc Hiện tại, Trung Quốc là nước thứ tư sau Mỹ, Nhật Bản và Đức về sản xuất hàng công nghiệp hiện đại Đặc biệt, Trung Quốc dẫn đầu thế giới trong 35 loại sản phẩm công nghiệp như máy thu hình màu, máy giặt, tủ lạnh, điều hòa nhiệt độ, máy tính, điện thoại kỹ thuật số, lò vi sóng, VCD, điện thoại di động, máy fax, xe máy, xe đạp, linh kiện máy tính, tơ lụa và trang phục, với hơn 40 loại sản phẩm chiếm trên 50% tổng sản lượng toàn cầu Những mặt hàng này đều có ưu thế về số lượng và giá cả trên thị trường quốc tế.

Trung Quốc, quốc gia đông dân nhất thế giới, là một trong những nước sản xuất và tiêu thụ nông sản lớn nhất Theo chương trình lương thực của Liên Hợp Quốc, vào năm 2003, Trung Quốc chiếm 20% dân số toàn cầu nhưng chỉ có 7% diện tích đất canh tác Mặc dù có sản lượng lương thực đầu ra hàng đầu, chỉ khoảng 10-15% đất trồng tại Trung Quốc phù hợp cho nông nghiệp Hiện nay, nông nghiệp chỉ đóng góp 10,6% vào GDP của quốc gia này.

Khoảng 39,5% dân số lao động của Trung Quốc làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp.

Trung Quốc có khoảng 300 triệu công nhân lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, với vị thế là nước sản xuất lúa gạo lớn nhất thế giới Ngoài gạo, các nguồn lương thực quan trọng khác bao gồm lúa mì, ngô, thuốc lá, lạc, bông, khoai tây, đậu phộng, chè, kê và lúa mạch Nước này cũng xuất khẩu nhiều sản phẩm nông nghiệp như rau quả, cá, tôm, ngũ cốc và thịt sang Hong Kong Mặc dù diện tích đất trồng của Trung Quốc chỉ bằng 75% so với Mỹ, nhưng nhờ vào sự canh tác chuyên sâu, Trung Quốc vẫn sản xuất nhiều hơn khoảng 30% vụ mùa và vật nuôi so với Mỹ, mang lại lợi nhuận cao cho ngành nông nghiệp.

1.2.2 Công nghiệp và chế tạo:

Công nghiệp và xây dựng đóng góp khoảng 48% GDP của Trung Quốc, với 8% tổng sản lượng hàng chế tạo toàn cầu đến từ quốc gia này Trung Quốc đứng thứ ba thế giới về sản lượng công nghiệp, chủ yếu bao gồm các lĩnh vực như khai thác mỏ, chế biến quặng, sản xuất sắt thép, nhôm, than đá, máy móc, vũ khí, hàng dệt may, dầu mỏ, xi măng, hóa chất, phân bón, chế biến thực phẩm, và sản xuất ô tô cùng các phương tiện giao thông khác Trong số các ngành công nghiệp, chế tạo máy móc và công nghiệp luyện kim được ưu tiên hàng đầu, chiếm khoảng 20-30% tổng giá trị đầu ra công nghiệp.

Trung Quốc đang tập trung vào việc phát triển ngành công nghiệp hóa chất nhằm mở rộng sản xuất phân bón hóa học, nhựa và sợi tổng hợp Sự phát triển này đã giúp Trung Quốc trở thành một trong những quốc gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực sản xuất phân bón hóa học.

Ngành sản xuất hàng tiêu dùng tại Trung Quốc, đặc biệt là trong lĩnh vực dệt may và quần áo, đóng góp quan trọng vào xuất khẩu quốc gia Công nghiệp dệt may, bao gồm cả sản xuất sợi tổng hợp, đã có sự tăng trưởng nhanh chóng, ước tính chiếm khoảng 10% sản lượng đầu ra, mặc dù vai trò của nó hiện nay đã giảm so với trước đây.

1.2.3 Năng lượng và khoáng sản:

Kế hoạch 5 năm lần thứ 11 (2006-2010) được thông báo vào năm 2005 và được Quốc hội tán thành vào tháng 3/2006, nhấn mạnh việc bảo tồn năng lượng và phát triển nguồn năng lượng tái tạo Mục tiêu là giảm 20% tiêu thụ năng lượng trên mỗi đơn vị GDP đến năm 2010, chuyển hướng từ than đá sang các nguồn năng lượng sạch như dầu mỏ, khí tự nhiên, năng lượng tái tạo và năng lượng hạt nhân Bắc Kinh cam kết nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và thúc đẩy công nghệ than đá sạch Trung Quốc cũng sở hữu nguồn thủy điện lớn, với đập Tam Hiệp dự kiến đạt công suất 18 gigawatts vào năm 2009 Đến năm 2030, tỷ lệ điện từ năng lượng hạt nhân sẽ tăng từ 1% (năm 2001) lên 5% Luật năng lượng tái tạo mới, có hiệu lực từ năm 2006, yêu cầu 10% năng lượng đến từ nguồn tái tạo vào năm 2020.

Trong những năm gần đây, đầu tư vào ngành du lịch Trung Quốc ngày càng gia tăng, đóng góp khoảng 30% vào GDP quốc gia và trở thành động lực quan trọng cho nền kinh tế Du lịch không chỉ tạo ra nhiều cơ hội việc làm trực tiếp mà còn gián tiếp, góp phần ổn định thị trường lao động Chính vì vậy, phát triển du lịch đã được xác định là một trong những ưu tiên hàng đầu trong "Kế hoạch 5 năm lần thứ 11" Trung Quốc hiện là một trong những thị trường thu hút khách du lịch lớn nhất ở Châu Á, chiếm gần 34% tổng số khách du lịch trong khu vực.

Trung Quốc sẽ đóng vai trò chủ đạo trong sự tăng trưởng du lịch tại Châu Á, với lượng khách du lịch đạt cao nhất, chiếm khoảng 34% tổng số lượng khách trong khu vực.

Khu vực du lịch Trung Quốc sẽ tiếp tục được hưởng lợi từ các chính sách cải cách hỗ trợ của Chính phủ, nhờ vào việc tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Sự gia tăng các hoạt động kết nối quốc tế và việc xây dựng chuỗi khách sạn cao cấp tại Trung Quốc nhằm chuẩn bị cho Olympic Bắc Kinh 2008 sẽ tạo ra cơ hội lớn cho ngành công nghiệp du lịch.

Các chỉ số kinh tế

GDP (ppp) 15,25 tỷ USD 16,42 ty USD 17,63 tỷ USD đứng vị trí số

1 trên toàn TG Tăng trưởng

Nông nghiệp: 9,7%; Công nghiệp: 43,9%; Dịch vụ: 46,4%

1,0024 tỉ người 797,6 triệu người 801,6 triệu người

Mặt hàng nông nghiệp gạo, lúa mì, khoai tây, ngũ cốc, đậu phộng, trà, hạt kê, lúa mạch, táo, bông, sò, thịt lợn, cá

Ngành công nghiệp khai khoáng và sản xuất kim loại như sắt, thép, và nhôm đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Ngoài ra, sản xuất máy móc, vũ khí quân sự, than đá, dệt may, và đồ thêu cũng là những lĩnh vực chủ chốt Ngành dầu mỏ, xi măng, hóa chất, và phân bón cung cấp nguyên liệu thiết yếu cho nhiều ngành khác Sản phẩm tiêu dùng đa dạng, từ giày dép, đồ chơi đến thiết bị điện tử, cùng với thực phẩm chế biến, góp phần vào sự phát triển kinh tế Cuối cùng, thiết bị vận chuyển, bao gồm ô tô, tàu hỏa, máy bay, và thiết bị viễn thông, cùng với công nghệ không gian, đều là những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ công nghệ và giao thương toàn cầu.

1.899 tỷ USD 2.210 tỷ USD 2.252 tỷ USD đứng thứ 1 thế giới

Mặt hàng chủ yếu bao gồm điện và các loại máy móc thiết bị, trong đó có xử lý dữ liệu, may mặc, thiết bị cầm tay, điện thoại vô tuyến, dệt may và mạch tích hợp.

Thị trường xuất khẩu chính

Hồng Công 17,4%, US 1 6,7%, Nhật Bản 6,8%, Hà n Quốc 4,1 % (ước tính năm 2013)

1.817 tỷ USD 1.949 tỷ USD đứng thứ

Trong ba thế giới, các mặt hàng chính bao gồm điện và máy móc, dầu và nhiên liệu khoáng sản, thiết bị quang học và y tế, quặng kim loại, nhựa, hóa chất hữu cơ, cùng với xe có động cơ.

Thị trường nhập khẩu chính

Hàn Quốc 9,4%, Nhật Bản 8,3 %, Đài Loan 8%, US 7,5%, Đức 4,8%, Australia

Quan hệ ngoại giao – chính trị với Việt Nam

Quan hệ ngoại giao – chính trị

Ngày 18.1.1950 đánh dấu sự thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa Việt Nam và Trung Quốc Kể từ khi bình thường hóa quan hệ vào năm 1991, mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước đã phát triển nhanh chóng và sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực, mang lại nhiều lợi ích thiết thực Đến nay, hai bên đã ký kết 49 hiệp định và 25 văn kiện khác, tạo cơ sở pháp lý cho sự hợp tác lâu dài Hai nước đã mở các tuyến giao thông hàng không, đường biển, đường bộ và đường sắt, thuận lợi hóa giao lưu hàng hóa và hành khách Sự trao đổi đoàn cấp trung ương và địa phương ngày càng gia tăng, với hơn 100 đoàn được trao đổi hàng năm, góp phần tăng cường hiểu biết và mở rộng hợp tác giữa hai bên.

Trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu vào tháng 2/1999, lãnh đạo hai nước đã thống nhất phương châm 16 chữ để phát triển quan hệ trong thế kỷ 21: "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" Đến tháng 12/2000, trong chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đức Lương, hai bên đã ký Tuyên bố chung về hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới, cụ thể hóa phương châm này bằng các biện pháp phát triển quan hệ trên mọi lĩnh vực.

Hai bên cũng nhất trí xây dựng quan hệ hai nước theo tinh thần 4 tốt: "láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt"

Các cuộc gặp gỡ giữa Lãnh đạo cấp cao Việt Nam và Trung Quốc được duy trì hàng năm thông qua các chuyến thăm song phương quan trọng, góp phần định hình hướng phát triển quan hệ và tăng cường sự tin cậy lẫn nhau Năm 2005 chứng kiến nhiều sự kiện nổi bật, bao gồm chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đức Lương tới Trung Quốc và chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào tới Việt Nam, cùng cuộc gặp giữa Thủ tướng Phan Văn Khải và Thủ tướng Ôn Gia Bảo Những sự kiện này đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ hai nước, nâng cao sự tin cậy và hiểu biết lẫn nhau Lãnh đạo hai nước nhất trí thường xuyên gặp gỡ để trao đổi về quan hệ song phương và các vấn đề quốc tế, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường giáo dục về tình hữu nghị Việt-Trung, đặc biệt trong giới trẻ.

Quan hệ hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực quan trọng như ngoại giao, quốc phòng và an ninh đã được củng cố thông qua việc ký kết các thỏa thuận hợp tác mới.

Bộ Ngoại giao vào tháng 12 năm 2002, cùng với Bộ Công an vào tháng 9 năm 2003 và Bộ Quốc phòng vào tháng 10 năm 2003, đã thúc đẩy giao lưu giữa thế hệ trẻ của hai nước Hoạt động này diễn ra thường xuyên với nội dung phong phú và thiết thực.

Việt Nam đã thiết lập Tổng Lãnh sự quán tại Quảng Châu vào năm 1993 và tại Hongkong vào năm 1994 Đến tháng 5 năm 2004, Việt Nam tiếp tục mở thêm hai Tổng lãnh sự quán tại Côn Minh (Vân Nam) và Nam Ninh (Quảng Tây), Trung Quốc, cùng với Văn phòng Lãnh sự tại Thượng Hải vào tháng 11 năm 2008.

Mối quan hệ Việt-Trung đã phát triển mạnh mẽ nhờ nỗ lực không ngừng của hai Đảng và nhân dân hai nước Những vấn đề lịch sử như biên giới đã được giải quyết từng bước, trong khi vấn đề Biển Đông hiện đang được hai bên tìm kiếm giải pháp phù hợp để duy trì quan hệ hữu nghị Trong bối cảnh quốc tế phức tạp, việc củng cố quan hệ hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Trung Quốc không chỉ mang lại lợi ích cho mỗi nước mà còn góp phần vào hòa bình và ổn định khu vực và toàn cầu.

Các chuyến thăm cao cấp gần đây

Trong giai đoạn từ năm 2009 đến 2012, nhiều đoàn đại biểu từ Trung Quốc đã thăm Việt Nam, bao gồm tỉnh trưởng tỉnh Quảng Đông Hoàng Hoa Hoa vào tháng 10/2009, tỉnh trưởng tỉnh Hải Nam La Bảo Danh vào tháng 8/2009 và phó tỉnh trưởng Lý Quốc Lương vào tháng 11/2009 Ngoài ra, Chủ tịch tỉnh Quảng Tây Mã Tiêu đã thăm vào tháng 9/2010 và Chủ tịch tỉnh Vân Nam Lý Kỷ Hằng vào tháng 4/2012 Đáp lại, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 4/2010.

Bộ trưởng Bộ Văn Hóa Nguyễn Tuấn Anh (tháng 8/2010); Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng (tháng 10/2010); Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (tháng 10/2011)

Nhận lời mời của Bộ trưởng Ngoại giao nước CHND Trung Hoa Dương Khiết Trì,

Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh đã thăm chính thức Trung Quốc từ ngày 12 đến 15/2/2012

Từ ngày 19 đến 21/6/2013, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã thực hiện chuyến thăm hữu nghị chính thức tới Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa theo lời mời của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.

Từ ngày 3 đến 6/8/2013, Nhận lời mời của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị thăm chính thức Việt Nam

Vào tháng 9/2013, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam tham gia Hội chợ Triển lãm ASEAN-Trung Quốc (CAEXPO) và Hội nghị Thượng đỉnh Đầu tư-Thương mại ASEAN-Trung Quốc (CABIS) lần thứ 10 diễn ra tại thành phố Nam Ninh, Trung Quốc.

10/2013, Thủ tướng Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Lý Khắc Cường thăm chính thức Việt Nam

Tháng 4/2014, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Trung Quốc.

Quan hệ kinh tế của hai nước

Quan hệ thương mại

3.1.1 Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc :

Thương mại Việt Nam đang phụ thuộc vào Trung Quốc như thế nào?

Theo đánh giá của CTCK VCBS, sự giảm tốc của kinh tế Trung Quốc có thể dẫn đến việc "xuất khẩu khủng hoảng" sang các quốc gia khác, đặc biệt là Việt Nam, nơi có quan hệ thương mại lớn và gần gũi về mặt địa lý Mối lo ngại này ngày càng gia tăng khi Việt Nam ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào thương mại với Trung Quốc.

Năm 2014, Trung Quốc chiếm 29,6% tổng giá trị nhập khẩu của Việt Nam, và đến năm 2015, tỷ lệ này đã tăng lên gần 30%, khẳng định vị thế là thị trường nhập khẩu lớn nhất, đồng thời gia tăng khoảng cách so với các thị trường đối thủ khác.

Số liệu hải quan cho thấy giá trị nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc trong năm

2015 đạt 49,5 tỷ USD, tăng 13,3% so với năm 2014 và chiếm 29,9% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.

Trong năm 2015, Việt Nam đã nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc với giá trị vượt xa 16,7 tỷ USD từ Hàn Quốc, đánh dấu sự tăng trưởng 26,6% so với năm trước Điều này đã giúp thị phần của Hàn Quốc tăng mạnh từ 14,7%.

Kim ngạch xuất-nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc qua các năm

(Đơn vị: triệu USD – Nguồn: Tổng cục hải quan Việt Nam)

Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam, chỉ sau Mỹ Năm 2015, tỷ lệ xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 10,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, tăng từ 9,9% của năm 2014.

Việt Nam đã nhập siêu 32,4 tỷ USD giá trị hàng hóa từ Trung Quốc trong năm 2015, tăng so với mức nhập siêu 28,8 tỷ USD của năm 2014.

Việt Nam nhập khẩu nhiều mặt hàng giá trị từ Trung Quốc, trong đó có 10 sản phẩm công nghiệp đạt giá trị tỷ USD Đứng đầu danh sách là máy móc thiết bị với giá trị trên 9 tỷ USD, theo sau là điện thoại và linh kiện với gần 7 tỷ USD.

Số liệu mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam trong quý I/2016.

Trong ba tháng đầu năm, tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước đạt 37,4 tỷ USD, trong đó Trung Quốc chiếm hơn 28% với 10,5 tỷ USD Hàn Quốc đứng thứ hai với 6,8 tỷ USD, tiếp theo là khu vực ASEAN với hơn 5,3 tỷ USD, chiếm 14% tổng giá trị nhập khẩu Nhật Bản và Mỹ lần lượt ghi nhận 3,2 tỷ USD và 1,7 tỷ USD, trong khi các quốc gia khác đóng góp phần còn lại.

Trong ba tháng đầu năm 2016, Việt Nam nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc với các mặt hàng như máy móc và thiết bị phụ tùng đạt 1,9 tỷ USD, máy vi tính và linh kiện điện tử 1,23 tỷ USD, nguyên liệu dệt may và da giày 1,62 tỷ USD, cùng với điện thoại và linh kiện điện tử 1,5 tỷ USD Doanh nghiệp cũng đã nhập khẩu hơn 2.000 ôtô nguyên chiếc, chủ yếu là xe tải Ngược lại, chỉ có bốn mặt hàng xuất khẩu sang Trung Quốc đạt giá trị tỷ USD, trong đó máy tính và sản phẩm điện tử là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất với giá trị 2,6 tỷ USD, tiếp theo là xơ và sợi dệt với 1,4 tỷ USD.

Việt Nam đã chi gần 10,7 tỷ USD để nhập hàng từ Trung Quốc, trong khi Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt hơn 8,3 tỷ USD, chiếm 24,4% tổng xuất khẩu Nếu tính cả châu Mỹ, con số này lên tới 10,3 tỷ USD Tiếp theo là Liên minh châu Âu (EU) với kim ngạch 7,6 tỷ USD Việt Nam có hai thị trường xuất siêu lớn là Mỹ và EU, với kim ngạch lần lượt là 6,6 tỷ USD và 5,4 tỷ USD Ngược lại, xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc chỉ đạt 4,1 tỷ USD, dẫn đến tình trạng nhập siêu 6,6 tỷ USD.

Trong quý I, tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam đạt trên 76,2 tỷ USD, với xuất khẩu đạt 38,77 tỷ USD (doanh nghiệp trong nước đạt 11,49 tỷ USD, FDI đạt 27,28 tỷ USD) và nhập khẩu đạt 37,4 tỷ USD Như vậy, Việt Nam tiếp tục ghi nhận xuất siêu 1,37 tỷ USD.

3.1.2 Những con số không thể bỏ qua về quan hệ Thương mại Việt Nam – Trung Quốc:

Khả năng gia tăng sự phụ thuộc thương mại giữa Việt nam và Trung quốc đang hiện hữu.

Nhận định trên được TS Nguyễn Đình Cung và TS Trần Toàn Thắng, Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế trung ương (Ciem) đưa ra.

Hai nước có đường biên giới chung và có nhiều điểm tương đồng về thể chế chính trị, kinh tế, luật pháp và văn hóa, điều này đã tạo ra những thuận lợi lớn cho quan hệ thương mại giữa họ.

Sau khi bình thường hóa quan hệ, Việt Nam và Trung Quốc đã ký nhiều hiệp định hợp tác về thương mại và kinh tế kỹ thuật, cùng trở thành thành viên của WTO Năm 2004, Trung Quốc và ASEAN đã ký hiệp định tự do thương mại, có hiệu lực từ năm 2005 Những sự kiện này đã tạo ra những dấu mốc quan trọng, định hình và thúc đẩy quan hệ thương mại giữa hai nước.

Giá trị thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Trung Quốc đã có sự tăng trưởng nhanh chóng và liên tục trong những năm gần đây, và dự báo sẽ tiếp tục gia tăng trong tương lai.

Nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu

Nhập khẩu đang tăng trưởng nhanh hơn xuất khẩu, với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của nhập khẩu đạt khoảng 30%, trong khi giá trị xuất khẩu chỉ tăng khoảng 20%.

Về giá trị, hàng hóa nhập khẩu tăng gần 26 lần sau 13 năm, từ 1.4 tỉ USD năm

Giá trị hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã tăng từ 1,5 tỷ USD năm 2000 lên 13,3 tỷ USD năm 2013, tương đương với mức tăng khoảng 9 lần Trong khi đó, tổng giá trị nhập khẩu đã tăng mạnh từ 2000 lên 36,9 tỷ USD Hiện nay, Trung Quốc trở thành một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, với tỷ lệ nhập khẩu từ Trung Quốc tăng từ 8,9% tổng nhập khẩu năm 2002 lên 23,3% năm 2011 và đạt 27% vào năm 2013.

Năm 2015, Việt Nam đã nhập khẩu từ Trung Quốc với tổng kim ngạch đạt 49,3 tỷ USD, chiếm 28,8% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước, xác nhận Trung Quốc là thị trường lớn nhất trong các quốc gia mà Việt Nam có quan hệ mua hàng hóa.

Hoạt động đầu tư Trung Quốc – Việt Nam

3.2.1 Tình hình đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam:

Tính lũy kế đến đầu tháng 3 năm 2016, Trung Quốc có 1.346 dự án tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký 10,4 tỷ USD.

Trung Quốc hiện đứng thứ 9 trong số 112 quốc gia và vùng lãnh thổ đã có đầu tư tại Việt Nam.

Quy mô trung bình các dự án đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam là khoảng 7,7 triệu USD mỗi dự án, thấp hơn so với mức trung bình 14 triệu USD của các nhà đầu tư khác Mặc dù đầu tư từ Trung Quốc đã tăng trưởng đều đặn qua các năm, với mức tăng 125% vào năm 2008, nhưng do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam đã giảm đáng kể trong năm 2009 Cụ thể, số lượng dự án và vốn đầu tư đăng ký mới của Trung Quốc trong năm 2009 chỉ đạt 48 dự án và 180,4 triệu USD, tương đương với mức của năm 2004, giảm một nửa về số lượng dự án và khoảng một phần ba về vốn so với năm 2008.

Hiện nay, vốn đầu tư trung bình cho một dự án khoảng 4,3 triệu USD, với nhiều dự án có giá trị từ 1 triệu USD đến 10 triệu USD Từ năm 2007 đến nay, các dự án có vốn đầu tư từ 10 triệu USD đến 100 triệu USD ngày càng gia tăng, trong đó có nhiều dự án tiêu biểu.

Dự án đầu tư xây dựng, quản lý và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp tại Hải Phòng có tổng vốn đầu tư 175 triệu USD, do Công ty TNHH Liên hiệp đầu tư Thâm Việt thực hiện.

 dự án khai thác, kinh doanh khu công nghiệp, kinh doanh bất động sản ở Tiền Giang 100 triệu USD của Công TNHH Đầu tư quản lý Tiền Giang, Trung Quốc;

 dự án sản xuất giày ở Đồng Nai 60 triệu USD của Công ty Phương Đông - Trung Quốc,

 dự án Khu đô thị Nam Hoàng Đồng I, thành phố Lạng Sơn 27.750.000 USD của

Công ty TNHH Thành Bá Nam Ninh; …

 Những dự án với vốn đầu tư lớn này đã góp phần thay đổi diện mạo đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam trong thời gian qua.

Theo thống kê từ Bộ Kế Hoạch Đầu Tư, từ cuối năm ngoái, trước khi Hiệp định TPP được ký kết, đã có khoảng 810 doanh nghiệp từ Trung Quốc và Đài Loan đầu tư vào 52 tỉnh, thành của Việt Nam Đáng chú ý, lĩnh vực dệt và nhuộm đã ghi nhận sự tăng trưởng đột biến trong thời gian này.

Trong thời gian từ nửa cuối năm ngoái đến nửa đầu năm nay, ngành dệt - may Việt Nam chứng kiến sự đổ bộ ồ ạt của hàng loạt dự án đầu tư lớn từ các doanh nghiệp Trung Quốc và Đài Loan, với số vốn lên tới hàng trăm triệu USD.

Có thể phân các dự án đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam theo 3 loại:

Các dự án đầu tư của Trung Quốc chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến và chế tạo, với 916 dự án và tổng vốn đăng ký đạt 5,38 tỷ USD Điều này chiếm 68% tổng số dự án và 52% tổng vốn đầu tư.

Tiếp theo là lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa chiếm gần 20% tổng vốn đầu tư

Các dự án đầu tư còn lại bao gồm các lĩnh vực như bất động sản, dịch vụ lưu trú và ăn uống, khai khoáng, thông tin và truyền thông, cũng như điện, khí nước và điều hòa.

Đến nay, đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào các ngành nghề truyền thống, chưa có dự án lớn trong lĩnh vực công nghệ cao Tuy nhiên, sự thay đổi trong lĩnh vực đầu tư đang dẫn đến sự thay đổi về quy mô và hình thức đầu tư.

Phân theo hình thức đầu tư:

Trong quá khứ, hầu hết các dự án đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Trung Quốc vào Việt Nam chủ yếu được thực hiện dưới hình thức liên doanh với các doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, trong 10 năm qua, đã có sự thay đổi rõ rệt trong cách thức đầu tư này.

Vốn đầu tư của Trung Quốc chủ yếu tập trung vào hình thức 100% vốn nước ngoài, với 1.058 dự án và tổng vốn đầu tư đạt 5,6 tỷ USD, chiếm 78,6% tổng số dự án và 54,3% tổng vốn đăng ký.

Tiếp theo là hình thức hợp đồng BOT,BT,BTO** có 3 dự án với tổng vốn đầu tư 2,06 tỷ USD, chiếm 20% tổng vốn đầu tư

Số vốn còn lại tập trung trong các dự án liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Sự thay đổi này cho thấy các doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam đã chuyển mình từ giai đoạn thăm dò sang giai đoạn đầu tư mạnh mẽ, nhờ vào sự hỗ trợ của các đối tác địa phương am hiểu thị trường từ thập kỷ 90 Họ hiện đã tự tin và có đủ hiểu biết để hoạt động độc lập, đồng thời đặt niềm tin vững chắc vào tiềm năng của thị trường Việt Nam.

Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc hiện diện tại 52 tỉnh, thành của Việt Nam, chủ yếu tập trung ở các thành phố đông dân cư, gần biên giới Việt – Trung Những địa điểm này có sức hút lao động mạnh mẽ, cơ sở hạ tầng phát triển, thuận lợi cho xuất, nhập khẩu hàng hóa và di chuyển giữa hai nước Tính đến cuối năm 2009, Hà Nội dẫn đầu về số lượng dự án đầu tư Trung Quốc với 112 dự án.

Hồ Chí Minh dẫn đầu với 60 dự án đầu tư, theo sau là Bình Dương với 52 dự án, Hải Phòng 43 dự án và Quảng Ninh 37 dự án, chủ yếu tập trung vào lĩnh vực chế biến, chế tạo, bất động sản và xây dựng Đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc cũng đã được hướng tới một số tỉnh biên giới của Việt Nam, bao gồm các tỉnh có cơ sở hạ tầng kém và trình độ phát triển thấp như Lào Cai (26 dự án), Lạng Sơn (20 dự án), Cao Bằng (7 dự án) và Lai Châu (2 dự án), điều này cho thấy thách thức trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại những khu vực này.

Sự tăng cường hợp tác giữa các địa phương Việt Nam và Trung Quốc, đặc biệt là với các tỉnh như Quảng Đông, Vân Nam và Quảng Tây, đã phản ánh một xu hướng mới trong phát triển quan hệ Việt - Trung Tuy nhiên, các dự án đầu tư của Trung Quốc tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam chủ yếu tập trung vào khai thác khoáng sản và nguyên vật liệu đặc trưng của địa phương.

Các nhà đầu tư Trung Quốc chủ yếu tập trung vào các tỉnh miền Nam Việt Nam, đặc biệt là những khu vực gần gũi hoặc tiếp giáp như Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam.

 Bình Thuận có số vốn đầu tư của Trung Quốc cao nhất là hơn 2 tỷ USD trên 5 dự án, chiếm 19,5% tổng vốn đầu tư đăng ký

 Tây Ninh đứng thứ hai với 36 dự án và tổng vốn đầu tư đăng ký là 1,2 tỷ USD, chiếm 11,7% tổng vốn đầu tư

 Hà Giang đứng thứ ba với 5 dự án và tổng vốn đăng ký trên 1 tỷ USD, chiếm 10% tổng vốn đầu tư

 Tiếp theo là Lào Cai, Bình Dương và các địa phương khác.

3.2.2 Ưu, nhược điểm trong việc đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam:

Hoạt động chuyển giao công nghệ Trung Quốc – Việt Nam

Hiện nay, trong lĩnh vực ứng dụng và chuyển giao công nghệ, hai nước đã thiết lập một mạng lưới hợp tác thông tin khoa học và công nghệ, bao gồm các cơ quan chính phủ, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và tổ chức trung gian.

Dự án "Cơ sở mở rộng nghiên cứu công nghệ điển hình trong nông nghiệp giữa Việt Nam-Trung Quốc" bắt đầu từ năm 2000, đã cho ra đời gần 80 giống lúa, rau, và dưa được trồng tại cơ sở trồng mẫu của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.

50 cơ sở trồng mẫu mở rộng bên ngoài.

Hoạt động Tài chính

3.4.1 AIIB – Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng Châu Á

Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạng tầng châu Á

Thành lập  4 tháng 10 năm 2014 (Ban thư ký đa phương lâm thời)

Loại hình Tổ chức khu vực

Tình trạng pháp lý Đang thi hành

Mục đính Hỗ trợ việc xây dựng cơ sở hạ tầng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Trụ sở chính Bắc Kinh, Trung Quốc

Khu vực phục vụ châu Á, kể cả châu Đại Dương

Thành viên 1 thành viên sáng lập

57 Thành viên sáng lập dự kiến

Ngôn ngữ chính thức Tiếng Anh

Tổng thư ký Kim Lập Quần (Ban thư ký đa phương lâm thời để thành lập AIIB)

Cơ quan chính  Ban thư ký đa phương lâm thời

Trang web www.aiibank.org

Do sự không hài lòng của Trung Quốc về ưu thế của Hoa Kỳ trong quỹ IMF, mà theo

Trung Quốc đang nỗ lực thiết lập một hệ thống ngân hàng toàn cầu mới từ năm 2013, nhằm đối phó với sự không công bằng trong phân chia quyền lực toàn cầu, đặc biệt khi Hoa Kỳ từ chối thay đổi tỷ lệ lá phiếu trong các tổ chức tài chính quốc tế.

 Hỗ trợ việc xây dựng cơ sở hạ tầng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương

 Tăng cường kết nối và thúc đẩy tiến trình nhất thể hóa trong khu vực

 Cải thiện môi trường đầu tư tại các nước đang phát triển ở châu Á

 Tạo thêm nhiều việc làm, đóng góp tích cực cho việc chấn hưng kinh tế châu Á và thế giới.

3.4.1.1.3 Cam kết từ Trung Quốc

Trung Quốc đã nhiều lần khẳng định rằng Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) sẽ hợp tác chặt chẽ với Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), đồng thời cam kết tránh tình trạng quan liêu trong hoạt động của AIIB Ngân hàng này sẽ tuyển dụng những người có đạo đức, chuyên môn và đam mê, nhưng không hứa hẹn cung cấp việc làm ổn định, được hiểu là không đảm bảo thu nhập lâu dài cho nhân viên Trong buổi lễ thành lập, AIIB đã công bố những cam kết này nhằm xây dựng một môi trường làm việc tích cực và hiệu quả.

AIIB hiện đang tuyển dụng 23 vị trí nhân sự quan trọng, bao gồm các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực ngân hàng, đầu tư, phát triển xã hội, mua sắm và quản lý ngân quỹ Ứng viên cho vị trí chuyên viên đầu tư cần có từ 8 đến 10 năm kinh nghiệm và sẵn sàng làm việc tại các địa điểm xa Mục tiêu của AIIB là loại bỏ hoàn toàn tình trạng quan liêu trong tổ chức.

AIIB đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết nhu cầu cấp bách về cơ sở hạ tầng (CSHT) trong khu vực, khi mà ADB và Ngân hàng Thế giới chỉ có thể đáp ứng một phần nhỏ trong số nhu cầu khổng lồ này.

Việc Việt Nam trở thành thành viên sáng lập của AIIB thể hiện cam kết của Đảng và Nhà nước trong việc chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở ra nguồn lực quan trọng để thu hút đầu tư vào hạ tầng đất nước.

Khi tham gia vào các dự án cơ sở hạ tầng do Trung Quốc dẫn dắt hoặc tài trợ, Việt Nam cần xem xét các hệ quả đa chiều có thể xảy ra.

AIIB là công cụ chủ chốt giúp Trung Quốc triển khai chiến lược “Một vành đai, một con đường” Điều này đặt ra thách thức cho các quốc gia như Việt Nam, buộc họ phải tìm cách cân bằng lợi ích quốc gia với mục tiêu của Trung Quốc.

Sự hình thành các đòn bẩy cơ sở hạ tầng (CSHT) có thể gây tác động tiêu cực đến Việt Nam nếu không có các kết nối khu vực hợp lý Việc kết nối mạng lưới CSHT Đông Nam Á với Nam Á và các khu vực như Vân Nam, Quảng Tây (Trung Quốc) có thể thúc đẩy sự phát triển của Myanmar, Lào, Thái Lan và Campuchia, nhưng lại làm suy giảm lợi thế của Việt Nam Khi CSHT cứng của Việt Nam không kết nối với hệ thống khu vực, lợi thế của mạng lưới này sẽ giảm sút Các dự án lớn như cao tốc Bắc - Nam và hệ thống cảng biển chủ yếu phục vụ nhu cầu nội địa, trong khi cảng Sài Gòn, mặc dù nằm trong hải trình quốc tế, lại gặp khó khăn trong quản lý và chi phí cao, khiến cho hàng hóa từ Lào và Campuchia chủ yếu được xuất khẩu qua các cảng của Thái Lan.

Việc quy hoạch chính sách ngành song song với quy hoạch cơ sở hạ tầng là rất cần thiết Một hệ thống cơ sở hạ tầng hiệu quả cần phải thực sự lan tỏa công nghệ và tri thức.

Việc Việt Nam tham gia AIIB với tư cách là cổ đông sáng lập mang lại nhiều quyền lợi, bao gồm khả năng tham gia vào việc hoạch định và xây dựng chính sách của ngân hàng từ những ngày đầu và trong suốt quá trình hoạt động của ngân hàng.

-> thể hiện được tiếng nói của Việt Nam trong ngân hàng này

Với nguồn vốn được phân bổ, Việt Nam có cơ hội tham gia vào các vị trí lãnh đạo tại Ngân hàng, bao gồm Giám đốc điều hành và Giám đốc điều hành phụ khuyết trong tương lai gần.

Việc tham gia trực tiếp điều hành Ngân hàng AIIB không chỉ nâng cao vai trò và vị thế của Việt Nam, mà còn mở ra cơ hội lớn để đất nước phát huy tiềm năng của mình Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra những thách thức cần phải vượt qua để đáp ứng yêu cầu trong tương lai.

3.4.2 Trung Quốc quốc tế hóa đồng Nhân dân tệ

-Việc Trung Quốc quốc tế hóa đồng NDT tác động lên Nhà nước và thị trường Việt Nam: Đối với thị trường tài chính:

Tác động đến nợ nước ngoài của VN vì nợ theo đồng tiền SDR chiếm khoảng 25% tổng nợ.

Thị trường chứng khoán Việt Nam thì có thể chưa tác động nhiều vì đầu tư của TQ vào nước ta cũng không quá lớn, ở mức khoảng 6-7 tỉ USD

Khi NDT được đưa vào giỏ tiền tệ quốc tế, giá trị của NDT sẽ tăng lên Tuy nhiên, chính phủ Trung Quốc lo ngại rằng việc này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu trong bối cảnh kinh tế đang suy giảm, do đó họ đã điều chỉnh chính sách tỷ giá theo hướng linh hoạt hơn Sự thay đổi này sẽ tác động đến tỷ giá của Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp đến các nhà xuất khẩu và nhập khẩu.

Giảm nhẹ rủi ro tỷ giá, tổn phí chuyển đổi sang đồng tiền thứ 3 (chi phí giao dịch) và rủi ro thanh khoản;

Giảm rủi ro sai lệch tiền tệ và sai lệch kỳ hạn.

Việc cho phép khu vực tư nhân và doanh nghiệp cất trữ, vay hoặc gửi tiền bằng Nhân dân tệ (NDT) không chỉ giúp giảm sự phụ thuộc vào USD mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng tham gia thị trường tài chính.

Cải thiện cơ cấu ngoại tệ hợp lý, bao gồm việc gia tăng tỷ trọng đồng nhân dân tệ, giúp Ngân hàng Nhà nước giảm thiểu rủi ro ngoại hối và giảm áp lực căng thẳng trên thị trường USD.

Việt Nam ảnh hưởng gì trước thay đổi kinh tế Trung Quốc?

Sự điều chỉnh kinh tế của Trung Quốc tác động tích cực và tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam Báo cáo bổ sung giải trình dự thảo kế hoạch 5 năm 2016 đã chỉ ra những ảnh hưởng này.

2020 và kế hoạch 2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chỉ ra cụ thể những điều này.

Cơ hội trước dòng vốn FDI dịch chuyển

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, những biến động lớn trong nền kinh tế Trung Quốc gần đây, bao gồm sự giảm giá của đồng Nhân dân tệ và sự suy giảm tăng trưởng kinh tế, đã ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế Việt Nam.

Việc đồng Nhân dân tệ mất giá đã tạo ra tác động tích cực, làm giảm chi phí đầu vào nhập khẩu từ Trung Quốc Điều này giúp sản xuất trong nước có cơ hội hạ giá thành, tăng khả năng cạnh tranh cho sản phẩm, từ đó thúc đẩy sự phát triển sản xuất và tăng trưởng kinh tế.

Giá cả các mặt hàng cơ bản trên thị trường thế giới dự kiến sẽ giảm do nhu cầu từ Trung Quốc yếu, giúp giảm chi phí đầu vào sản xuất tại Việt Nam Hơn nữa, sự suy giảm kinh tế của Trung Quốc sẽ khiến các nhà đầu tư nước ngoài xem xét lại cơ hội đầu tư, chuyển hướng sang các thị trường có tiềm năng tăng trưởng cao hơn, trong đó có Việt Nam.

Dòng vốn FDI có thể chuyển hướng từ Trung Quốc sang Việt Nam nhằm khai thác tiềm năng tăng trưởng cao và chi phí lao động thấp Nhiều cơ hội đang mở ra khi Việt Nam chuẩn bị ký kết hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Báo cáo chỉ ra rằng, dòng vốn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam có thể được hưởng lợi từ sự biến động của thị trường chứng khoán Trung Quốc Những thay đổi gần đây trên thị trường này có khả năng kích thích các nhà đầu tư Trung Quốc và quốc tế thực hiện chuyển đổi danh mục đầu tư của họ.

Dòng vốn đầu tư tại thị trường chứng khoán Trung Quốc có khả năng chuyển hướng sang các thị trường khác, bao gồm cả thị trường chứng khoán Việt Nam.

Sự thay đổi kinh tế của Trung Quốc không chỉ mang lại những tác động tích cực mà còn gây ra nhiều khó khăn cho nền kinh tế Việt Nam.

Kinh tế Trung Quốc suy giảm sẽ dẫn đến giảm nhu cầu nhập khẩu hàng hóa, gây khó khăn cho xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc Các mặt hàng Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang thị trường này là nông sản và nguyên liệu khoáng sản.

Hàng hóa nông sản Việt Nam đang đối mặt với bất lợi lớn do khó khăn trong việc chuyển dịch thị trường, đặc biệt khi không thể xuất khẩu sang Trung Quốc Tình hình này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến ngành nông nghiệp và thu nhập của nông dân.

Kế hoạch và Đầu tư nhấn mạnh.

Bộ Kế hoạch – Đầu tư lo ngại rằng việc đồng Nhân dân tệ phá giá có thể dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ trong nhập khẩu nguyên liệu, máy móc và thiết bị phụ tùng phục vụ sản xuất và xuất khẩu, từ đó tạo áp lực tăng nhập siêu Việt Nam hiện đang nhập khẩu một lượng lớn các mặt hàng này từ Trung Quốc, làm cho lo ngại này trở nên hợp lý.

Sự suy giảm tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc có thể dẫn đến nhu cầu tiêu thụ dầu giảm mạnh, đồng thời làm giảm tăng trưởng và thương mại toàn cầu Hệ quả là giá dầu thô sẽ bị áp lực giảm, ảnh hưởng đáng kể đến ngân sách Việt Nam.

Để khắc phục những bất lợi trong nền kinh tế, cần thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt kết hợp với chính sách tài khóa Điều này sẽ giúp ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm sự ổn định của thị trường ngoại hối và tỷ giá, đồng thời thúc đẩy xuất khẩu.

Bộ Kế hoạch – Đầu tư đang triển khai các giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy xuất khẩu và kiểm soát nhập siêu Đồng thời, Bộ cũng chú trọng hình thành các trung tâm cung ứng nguyên phụ liệu để hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu trong các lĩnh vực như dệt may, da giày, sản phẩm nhựa, điện tử và cơ khí.

Vì sao kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc?

Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc các sản phẩm thô và sơ chế với giá trị gia tăng thấp, trong khi đó, nước này lại nhập khẩu các hàng hóa thành phẩm có giá trị gia tăng cao.

Bộ Công thương phản ứng yếu ớt

TS Phạm Sỹ Thành, Giám đốc Chương trình Nghiên cứu kinh tế Trung Quốc tại Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR), đã chia sẻ thông tin quan trọng trên tờ TBKTSG.

TS Phạm Sỹ Thành cho rằng nguyên nhân Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc các mặt hàng thô và sơ chế với giá trị gia tăng thấp, trong khi nhập khẩu các sản phẩm hoàn thiện có giá trị gia tăng cao, là do sự phát triển của công nghệ và ngành công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam.

TS Phạm Sỹ Thành chỉ ra rằng Việt Nam xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc trị giá 30 triệu đô la Mỹ, nhưng lại nhập khẩu từ quốc gia này lên đến 300 triệu đô la Mỹ cho cùng loại mặt hàng Ông nhấn mạnh rằng điều này phản ánh những vấn đề trong hoạt động quản lý thị trường và chính sách thương mại của Việt Nam.

Hàng hóa Việt Nam thường được thương nhân Trung Quốc thu mua với giá rẻ qua con đường tiểu ngạch Trong khi đó, khi xuất khẩu qua con đường chính ngạch, sản phẩm Việt Nam chỉ mới thâm nhập vào các tỉnh biên giới như Vân Nam, Quảng Tây và Quảng Đông, mà chưa thể tiếp cận sâu hơn vào thị trường nội địa Trung Quốc.

Trong khi đó ở Trung Quốc, công ty của Trung Quốc vào tận ruộng thu mua của nông dân với giá cao, xuất khẩu sang các nước khác.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng Việt Nam đã chậm trễ trong việc điều chỉnh chính sách, dẫn đến khó khăn trong việc bắt đầu và cạnh tranh với các quốc gia đã phát triển và hình thành mạnh mẽ.

Nguồn lực hiện tại của chúng ta hạn chế hơn so với thời điểm đầu đổi mới, vì vậy cần có sự thay đổi trong hệ thống chính sách khuyến khích và phân bổ nguồn lực Nhà nước cần tập trung vào hiệu quả sử dụng tài nguyên, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp tiết kiệm năng lượng và tài nguyên để nâng cao năng suất.

Bà Phạm Chi Lan đã chia sẻ thông tin quan trọng về hàng tiêu dùng, đặc biệt là phương thức nhập tiểu ngạch và thách thức trong việc quản lý chất lượng sản phẩm.

Bà Phạm Chi Lan nhấn mạnh rằng Bộ Công Thương cần có phản ứng mạnh mẽ hơn trong việc đấu tranh hạn chế nhập khẩu tiểu ngạch và chuyển sang chính ngạch Đồng thời, các cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường hiệu quả giám sát, đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích cục bộ của ngành và địa phương.

"Nông sản Việt sang Trung Quốc vẫn tốt"

Xuất khẩu nông sản Việt Nam hiện đang phụ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc, dẫn đến những khó khăn cho nông sản Việt khi Trung Quốc đột ngột ngừng thu mua trong thời gian gần đây.

Dưa hấu xuất khẩu sang Trung Quốc qua cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn) đang gặp tình trạng dồn ứ, khiến giá giảm mạnh chỉ còn 1.000-2.000 đồng/kg Nhiều nông dân buộc phải đổ bỏ dưa hấu cho trâu bò ăn do không thể tiêu thụ.

Tuy nhiên, trong một lần trả lời PV báo Đất Việt, bà Phạm Thị Hồng Thanh - Hàm

Vụ trưởng và Phó Vụ trưởng Vụ Châu Á - Thái Bình Dương cho biết rằng mặc dù có những khó khăn trong việc xuất khẩu một số mặt hàng nông sản sang Trung Quốc, nhưng thực tế cho thấy hàng nông sản vẫn có khả năng thâm nhập vào thị trường này.

Cuối năm 2013, chúng ta đã ký một bản ghi nhớ với Trung Quốc về xuất khẩu nông sản, dẫn đến việc bán nông sản sang Trung Quốc ổn định và phát triển hơn.

Trước tin đồn đóng cửa khẩu biên giới, giá khoai lang tại Vĩnh Long đã giảm một nửa Ông Nguyễn Văn Kỳ, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, khẳng định rằng Việt Nam vẫn đang xuất siêu rau củ quả sang Trung Quốc.

Ông Kỳ cho rằng xung đột ở Biển Đông đã diễn ra nhiều nhưng không ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế Ông nhấn mạnh rằng các sản phẩm rau, củ, quả là thiết yếu cho cuộc sống hàng ngày và liên quan đến hàng triệu nông dân ở cả hai nước, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, vì vậy ông tin rằng sẽ không có tác động tiêu cực nào.

Ngày đăng: 27/11/2021, 14:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Loại hình Tổ chức khu vực - TRUNG QUỐC VÀ MỐI QUAN HỆ KINH TẾ VỚI VIỆT NAM
o ại hình Tổ chức khu vực (Trang 26)
5/Thông báo cho nhau tình hình thực hiện Hiệp định này. - TRUNG QUỐC VÀ MỐI QUAN HỆ KINH TẾ VỚI VIỆT NAM
5 Thông báo cho nhau tình hình thực hiện Hiệp định này (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w