1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Bài thi lý thuyết tài chính tiền tệ

37 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trình Bày Những Vấn Đề Cơ Bản Về Cung Cầu Tiền, Lạm Phát. Liên Hệ Thực Tiễn Tại Việt Nam
Tác giả Lương Uyên Nhi, Trịnh Bá Hoàng, Lê Thành Hiển, Trương Minh Tuấn, Nguyễn Thị Đa Lim
Người hướng dẫn Ths. Phạm Hữu Hà
Trường học Học viện hàng không Việt Nam
Chuyên ngành Lý thuyết tài chính tiền tệ
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 685,69 KB
File đính kèm Bài Thi Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ.zip (612 KB)

Cấu trúc

  • Phần 1: Mở đầu (0)
    • 1. Lý do lựa chọn đề tài (8)
    • 3. Phương pháp nghiên cứu (9)
    • 4. Nhiệm vụ báo cáo (9)
    • 5. Kết cấu của bài tiểu luận (9)
  • Phần 2: Kiến thức cơ bản (0)
  • Chương 1: Trình bày những vấn đề về lý thuyết (9)
    • 1.1 Cung cầu tiền tệ (9)
    • 1.2 Các khối tiền trong lưu thông (11)
      • 1.2.1 Các loại tiền trong nền kinh tế hiện tại (11)
      • 1.2.2 Phép đo tổng lượng tiền trong nền kinh tế hiện tại (13)
    • 1.3 Lạm phát (14)
      • 1.3.1 Khái niệm lạm phát (14)
      • 1.3.2 Thước đo (14)
      • 1.3.4 Nguyên nhân gây ra lạm phát (16)
      • 1.3.5 Những tác động của lạm phát (20)
      • 1.3.6 Những biện pháp hạn chế lạm phát (21)
  • PHẦN 3: KIẾN THỨC VẬN DỤNG (23)
  • Chương 2: Thực trạng vấn đề cung cầu tiền, lạm phát tại Việt Nam trong những năm vừa qua (23)
  • Chương 3: Đánh giá và giải pháp (29)
    • 3.1 Sử dụng chính sách tiền tệ (30)
    • 3.2 Chính sách tài khóa thắt chặt (32)
    • 3.3 Cân bằng cung, cầu trong nền kinh tế (33)
  • PHẦN 4: KẾT LUẬN (34)

Nội dung

Trình bày những vấn đề về lý thuyết

Cung cầu tiền tệ

1.1.1 Khái niệm mức cung cầu tiền tệ a) Mức cung tiền:

Lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế cần phải đáp ứng đầy đủ nhu cầu thanh toán và dự trữ của các chủ thể Mức cung tiền phải tương xứng với mức cầu tiền; nếu có sự thiếu hụt hoặc dư thừa, điều này sẽ gây ra những tác động tiêu cực đến nền kinh tế.

- Khối lượng tiền trong nền kinh tế được cung ứng từ những nguồn sau:

Ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp mức cầu tiền, tức là số lượng tiền tệ mà cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và nhà nước cần nắm giữ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, dự phòng và tích lũy.

1.1.2 Những nhân tố tác động cung - cầu tiền a) Nhân tố tác động đến cung tiền

Tỉ lệ dự trữ bắt buộc là mức tiền mặt mà Ngân hàng Nhà nước quy định các ngân hàng thương mại không được sử dụng, bằng cách gửi vào tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước Điều này nhằm giảm khả năng tạo tiền của các ngân hàng thương mại trong hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt Thông thường, khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với tỉ lệ dự trữ bắt buộc.

Tỉ lệ tiền mặt trên tiền gửi thanh toán ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh toán không dùng tiền mặt; mức sử dụng tiền mặt cao sẽ làm giảm khả năng tạo tiền tại các ngân hàng thương mại (NHTM), dẫn đến việc Ngân hàng Nhà nước (NHTW) phải cung ứng thêm tiền mặt vào lưu thông Điều này cho thấy NHTW sử dụng tiền mặt như một công cụ để điều tiết khả năng tạo tiền của NHTM Mức độ sử dụng tiền mặt phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau.

+ Thói quen chi tiêu tiền mặt hay thanh toán qua ngân hàng + Sự hấp dẫn từ lãi suất tiền gửi

+ Lợi ích của việc sử dụng tiện ích của thanh toán qua ngân hàng + Mức độ giao dịch bất hợp pháp

+ Thu nhập cao thì nhu cầu thanh toán qua ngân hàng càng lớn

Tỉ lệ dự trữ thừa là phần vốn khả dụng của các ngân hàng thương mại (NHTM) mà họ có thể cho vay nhưng chưa được sử dụng hết, dẫn đến việc tiền bị đọng lại tại các quỹ Khi tỉ lệ dự trữ thừa tăng cao, thiệt hại cho NHTM cũng gia tăng Thông thường, NHTW quy định rằng các NHTM phải dự trữ phần tỉ lệ này dưới dạng trái phiếu chính phủ hoặc tại NHTW.

Nhu cầu giao dịch và thanh toán trong cuộc sống hàng ngày chủ yếu được thực hiện bằng tiền, do đó, khi nhu cầu tiền cho giao dịch tăng lên, cầu tiền mặt cũng sẽ gia tăng tương ứng.

Khi nền kinh tế phát triển, rủi ro gia tăng dẫn đến nhu cầu dự phòng tài chính cũng tăng theo Để tránh những bất lợi từ việc giữ tiền mặt, nhiều người chọn cất trữ tiền dự phòng dưới dạng tài sản sinh lời như vàng, ngoại tệ hoặc các tài sản có giá trị khác Điều này khiến nhu cầu tiền mặt giảm trong bối cảnh lạm phát.

Nhu cầu đầu cơ gia tăng do sự biến động liên tục giữa các công cụ tài chính và thị trường, tạo ra nhiều cơ hội sinh lời Lượng tiền dành cho hoạt động đầu cơ tỷ lệ thuận với lãi suất tín dụng ngân hàng và nguồn tích lũy từ lợi nhuận tăng Khi nhu cầu đầu cơ trong nền kinh tế tăng cao, cầu tiền mặt cũng theo đó gia tăng.

Các khối tiền trong lưu thông

1.2.1 Các loại tiền trong nền kinh tế hiện tại a Tiền có tính lỏng cao

Tiền có tính lỏng cao là loại tiền thuận tiện nhất cho các giao dịch, nổi bật hơn so với các loại tài sản khác Chính vì vậy, tiền này được xếp vào khối tiền giao dịch trong các phép đo tổng lượng của ngân hàng trung ương các quốc gia Tiền có tính lỏng được chia thành hai loại.

Tiền pháp định là loại tiền tệ hợp pháp do chính phủ phát hành, không gắn liền với tài sản có giá trị nào Chính quyền trung ương có quyền in tiền, nhưng cần kiểm soát số lượng tiền lưu thông để tránh giảm giá trị của nó.

• Ví dụ: Tiền pháp định của Việt Nam là đồng VND, của Mỹ là đồng USD…

Giá trị của tiền pháp định phụ thuộc vào khả năng sử dụng của nó, được xác định bởi mối quan hệ tin cậy giữa người phát hành, người nắm giữ và những người sử dụng Tiền có giá trị vì nó được chấp nhận và sử dụng trong các giao dịch.

Khi niềm tin vào giá trị của đồng tiền bị suy giảm, nhu cầu sẽ giảm theo, dẫn đến sự sụt giảm giá trị Sự tin tưởng này xuất phát từ niềm tin của nhiều người trên thế giới rằng đồng tiền sẽ có giá trị Khác với các tài sản như kim loại quý hay hàng hóa, giá trị của đồng tiền chủ yếu dựa vào sự tin tưởng của xã hội.

Khi chính phủ Zimbabwe phát hành quá nhiều tiền, nguồn cung vượt quá cầu, dẫn đến sự mất niềm tin của người dân vào đồng tiền này, cuối cùng dẫn đến sự sụp đổ của nó.

Trong lưu thông tiền pháp định, tiền có thể được gọi là tiền mặt hoặc tiền ngân hàng trung ương Mặc dù đây là loại tiền có quyền lực cao và đáp ứng nhanh chóng cho nhu cầu giao dịch, nhưng việc nắm giữ tiền này lại có mức sinh lợi thấp Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường phát triển với nhiều cơ hội đầu tư cho đồng tiền nhàn rỗi, việc cất giữ tiền mặt không phải là biện pháp tối ưu.

-Tiền gửi không kỳ hạn hay các khoảng tiền gửi trên các tài khoản thanh toán tại các ngân hàng

Tiền có quyền lực cao nhưng tính lỏng thấp hơn tiền pháp định do phải thực hiện các thủ tục thanh toán theo quy định Tuy nhiên, với sự phát triển của dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, việc sử dụng tiền gửi không kỳ hạn và các tài khoản thanh toán có thể phát hành séc giúp giảm đáng kể chi phí thanh toán bằng tiền mặt Hơn nữa, một số ngân hàng thương mại còn trả lãi cho các khoản tiền gửi thanh toán, từ đó đáp ứng mục tiêu sinh lời cho người sở hữu tiền tệ.

Các loại tiền tài sản bao gồm:

Các loại tiền gửi có kỳ hạn mang lại mức sinh lợi ổn định cho người sở hữu, với nguyên tắc lãi suất càng cao khi thời hạn gửi càng dài.

+ Tiền gửi tiết kiệm của công chúng tại các quỹ tiết kiệm, các ngân hàng

+ Tiền gửi có kỳ hạn của các cá nhân hoặc doanh nghiệp tại các tổ chức tín dụng

- Tài khoản tiền gửi ở thì trường tiền tệ

- Các chứng từ nợ ngắn hạn, trung hạn được mua bán trên thị trường tiền tệ

- Các loại tiền tài sản khác

1.2.2 Phép đo tổng lượng tiền trong nền kinh tế hiện tại

Khối lượng tiền tệ là tổng giá trị của các yếu tố có khả năng thực hiện chức năng của tiền, bao gồm phương tiện trao đổi, đơn vị tính toán, phương tiện cất giữ giá trị và tiêu chuẩn trả tiền.

Khối lượng tiền tệ đề cập đến tổng cung tiền trong nền kinh tế, nhằm đáp ứng nhu cầu mua sắm hàng hóa, dịch vụ và tài sản của cá nhân và doanh nghiệp, không bao gồm các tổ chức tín dụng.

Khối lượng tiền tệ danh nghĩa (ký hiệu là M) là tổng giá trị hiện hành của các đồng tiền trong nền kinh tế, trong khi khối lượng tiền tệ thực tế thể hiện sức mua của khối lượng tiền tệ danh nghĩa, được tính bằng cách chia khối lượng tiền tệ danh nghĩa cho mức giá (M/P).

Khối lượng tiền tệ trong lưu thông

Định nghĩa tiền là một phương tiện trao đổi chỉ cung cấp cái nhìn tổng quát, mà không phản ánh chính xác khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế hiện nay.

Tiền được định nghĩa thông qua các phép đo khối tiền lưu thông trong nền kinh tế, bao gồm ba thước đo chính là M1, M2 và M3.

- Khối tiền giao dịch M1: phương tiện được sử dụng rộng rãi trong thanh toán và chi trả về hàng hoá và dịch vụ bao gồm:

Tiền mặt trong lưu thông bao gồm tiền mặt nằm ngoài hệ thống ngân hàng, tiền gửi không kỳ hạn tại các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng, cùng với tiền gửi có thể phát hành séc tại các ngân hàng.

Khối tiền mở rộng M2 bao gồm tổng số tiền M1 và các khoản tiền gửi có kỳ hạn tại ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính trung gian.

Lạm phát

Lạm phát là hiện tượng tăng giá chung của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian, dẫn đến sự mất giá trị của tiền tệ Khi so sánh với các quốc gia khác, lạm phát thể hiện sự giảm giá trị tiền tệ của một quốc gia so với các loại tiền tệ khác Điều này đồng nghĩa với việc sức mua của một đơn vị tiền tệ trong nước giảm sút.

Để đánh giá lạm phát, các chỉ số giá cả quan trọng bao gồm chỉ số giảm phát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số giá hàng tư liệu sản xuất (PPI).

Lạm phát xảy ra khi giá trị của đồng đô la tăng dần, dẫn đến việc sức mua của nó giảm theo thời gian Nếu tình trạng lạm phát kéo dài qua nhiều năm hoặc thập kỷ, sức mua và khoản tiết kiệm của bạn sẽ bị xói mòn đáng kể.

Ví dụ: Năm 2019 bạn muốn một ổ bánh mì với giá 120000 đồng, nhưng đến năm

2002 bạn mua một ổ bánh mì cũng như vậy nhưng với giá 15000 đồng Thì đây chính là sự mất giá của đồng tiền, hay còn gọi là lạm phát

Tỷ lệ lạm phát là thước đo chính xác tình trạng lạm phát trong một thời kỳ, được tính bằng tỷ lệ phần trăm chênh lệch của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tại hai thời điểm khác nhau Công thức tính tỷ lệ lạm phát theo CPI trong khoảng thời gian t giúp đánh giá sự biến động của giá cả và tác động của nó đến nền kinh tế.

P0 là mức giá cả trung bình của kỳ hiện tại

P-1 là mức giá của kỳ trước

Tỷ lệ lạm phát tính theo chỉ số giảm phát GDP

Ví dụ tỷ lệ phát giữa năm 2021 so với năm 2020 được tính như sau:

Lạm phát được chia làm ba loại chính với các mức độ khác nhau:

• Siêu lạm phát a) Lạm phát vừa phải

Lạm phát vừa phải được định nghĩa là lạm phát có tỷ lệ dưới 10% mỗi năm, dẫn đến sự biến động giá cả ở mức độ vừa phải Trong giai đoạn này, nền kinh tế hoạt động ổn định và đời sống của người lao động không bị ảnh hưởng tiêu cực.

Lạm phát ổn định, lãi suất tiền gửi thấp và giá cả tăng chậm tạo điều kiện cho người dân có tâm lý thoải mái và an tâm trong lao động, sản xuất Tình trạng mua sắm và tích trữ lớn không xảy ra, giúp duy trì sự ổn định trong nền kinh tế.

Lạm phát xảy ra khi các doanh nghiệp có nguồn thu nhập ổn định và ít rủi ro, đồng thời sẵn sàng đầu tư vào sản xuất và kinh doanh.

Hình 1: Mô tả lạm phát b) Lạm phát phi mã

Siêu lạm phát là hiện tượng khi giá cả tăng nhanh chóng với tỷ lệ từ 10% đến 200% trong một năm, dẫn đến sự biến động lớn trong nền kinh tế và ảnh hưởng đến các hợp đồng đã được chỉ số hóa.

Siêu lạm phát là hiện tượng khi lạm phát tăng mạnh với tốc độ vượt qua ngưỡng của lạm phát phi mã, được xem như một căn bệnh nguy hiểm.

Khi giá cả tăng nhanh và không ổn định, tốc độ lưu thông tiền tệ cũng gia tăng, dẫn đến việc tiền tệ mất giá nhanh chóng Điều này làm giảm mạnh tiền lương thực tế của người lao động, khiến thông tin thị trường trở nên không chính xác và hoạt động kinh doanh bị rối loạn Tuy nhiên, siêu lạm phát là hiện tượng hiếm gặp.

1.3.4 Nguyên nhân gây ra lạm phát a) Lạm phát do cầu kéo

Diễn ra do tổng cầu AD tăng nhanh hơn tiềm năng sản xuất của một quốc gia, sẽ gây ra sự tăng giá cả và lạm phát xảy ra

⚫ Giá tăng từ P0 tới P1 (từ P0 đến P1 là lạm phát- Hình 2) Lạm phát được coi là do sự tồn tại của mức cầu quá cao AD tăng có thể do:

⚫ Khu vực tư nhân lạc quan về nền kinh tế, nên tiêu dùng tự định và đầu tư tự định tăng lên

⚫ Chính phủ tăng chi tiêu

⚫ NHTW tăng lượng cung tiền

⚫ Người nước tăng mua hàng hóa và dịch vụ trong nước

⚫ Kết quả đường tổng cầu AD sẽ dịch chuyển sang phải, trong ngắn hạn sẽ làm cho sản lượng tăng lên, đồng thời mức giá chung tăng lên

Lạm phát chi phí đẩy xảy ra khi giá xăng tăng, dẫn đến sự gia tăng giá cả của nhiều sản phẩm khác như cước taxi và giá hoa quả.

Sự sụt giảm tổng cung do chi phí sản xuất tăng đã dẫn đến việc đường tổng cung dịch chuyển sang trái từ AS0 sang AS1 Hệ quả là sản lượng giảm từ Y0 xuống Y1, trong khi mức giá tăng từ P0 lên P1, gây ra tình trạng suy thoái kết hợp với lạm phát trong nền kinh tế.

Hình 2: Mối liên hệ giữa sản lượng Y và giá P gây ra lạm phát do cầu kéo

Các nhân tố làm tăng chi phí:

Chi phí tiền lương gia tăng chủ yếu do áp lực từ công đoàn và chính sách điều chỉnh lương của chính phủ, dẫn đến mức lương tăng vượt quá mức tăng năng suất lao động Điều này là nguyên nhân chính khiến chi phí tăng cao.

⚫ Lợi nhuận: Nếu doanh nghiệp có quyền lực thi ̣trường (độc quyền, nhóm độc quyền) có thể đẩy giá tăng lên để kiếm lợi nhuận cao hơn

Nhập khẩu lạm phát xảy ra khi các doanh nghiệp phải nhập khẩu nguyên vật liệu từ nước ngoài, dẫn đến chi phí tăng cao Khi giá nguyên liệu tăng do các yếu tố ngoài tầm kiểm soát trong nước, doanh nghiệp buộc phải chấp nhận mức giá cao hơn cho nguyên liệu.

⚫ Chi phi NVL tăng cao có thể do các nguyên nhân sau:

Khi đồng nội tệ mất giá, hàng hóa trong nước trở nên rẻ hơn so với hàng hóa nước ngoài, dẫn đến xuất khẩu trở nên có lợi hơn nhập khẩu Điều này làm tăng chi phí nhập khẩu nguyên vật liệu.

Thực trạng vấn đề cung cầu tiền, lạm phát tại Việt Nam trong những năm vừa qua

Từ năm 2000, chỉ số lạm phát tại Việt Nam đã tăng liên tục hàng năm nhưng chưa được chú ý đúng mức, thường bị lu mờ bởi những thành tựu phát triển kinh tế ấn tượng Dù vậy, lạm phát đã bùng nổ và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống kinh tế của người dân.

Năm 2007, Việt Nam đối mặt với tỷ lệ lạm phát cao 12,6% mặc dù GDP tăng trưởng 8,5%, đe dọa sự phát triển bền vững Nguyên nhân lạm phát được cho là do giá cả toàn cầu tăng, đặc biệt là giá dầu mỏ, cùng với thiên tai liên tục xảy ra Tuy nhiên, một nguyên nhân chính được nhiều nhà nghiên cứu và tổ chức quốc tế công nhận là sự mở rộng cung tiền quá mức Bài viết này nhằm phân tích mối quan hệ giữa cung tiền và lạm phát, nêu ra một số nguyên nhân và đề xuất khuyến nghị cho chính sách điều hành vĩ mô.

Lạm phát xuất phát từ cung tiền, nhưng cung tiền lại là kết quả của sự tương tác giữa chính sách của chính phủ và nhu cầu của nền kinh tế Ngân hàng Trung ương sử dụng các công cụ như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất cho vay chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở để điều chỉnh cung tiền Nhu cầu tiền tệ chịu ảnh hưởng từ sự mở rộng kinh doanh và dòng vốn nước ngoài chuyển đổi từ ngoại tệ sang nội tệ.

2.2- Thực trạng Lạm phát ở Việt Nam

Bảng 1: Tốc độ tăng cung tiền M2 qua các năm từ 1998 đến 2007

Bảng 2: Lượng tăng cung tiền 2001-2007

Việt Nam đã chuyển mình từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường, dẫn đến sự biến động lớn của tỷ lệ lạm phát, từ mức cao 453,5% vào năm 1986 đến mức thấp -1,6% vào năm 2000 Qua thời gian, lạm phát không còn là vấn đề mới mẻ đối với nền kinh tế và quản lý, và Việt Nam đã tích lũy kinh nghiệm trong việc kiểm soát và giảm dần lạm phát, đặc biệt trong giai đoạn cải cách từ 1986 đến 1993.

1 Nguồn: ADB (2007) “Key Indicators 2007: Inequality in Asia”;

BTC “Ngân sách Việt Nam 2007”

2 Nguồn: ADB (2007) “Key Indicators 2007: Inequality in Asia”;

BTC “Ngân sách Việt Nam 2007

40 mạnh mẽ hướng tới tự do hóa nền kinh tế, tiếp nhận đầu tư nước ngoài và thúc đẩy ngoại thương

Chỉ số lạm phát ở Việt Nam đã trải qua những biến động đáng kể, đặc biệt là sau năm 2000, khi tốc độ lạm phát giảm xuống mức âm -1,6% và -0,4% trong các năm 2000 và 2001 Tuy nhiên, từ năm 2002, lạm phát bắt đầu tăng nhanh, đạt mức 4,4% so với năm trước, đánh dấu một sự đảo chiều rõ rệt Trong những năm tiếp theo, lạm phát không chỉ không giảm mà còn bùng nổ vào năm 2007, cho thấy Việt Nam có thể đã chấp nhận một mức lạm phát cao để đổi lấy sự tăng trưởng kinh tế.

Giữa giai đoạn 2001-2007, Việt Nam thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng với mức tăng trưởng cung tiền M2 trung bình 26,7%/năm, trong khi GDP chỉ tăng 7,5%/năm, dẫn đến lạm phát cao Năm 2006, tốc độ mở rộng cung tiền đạt đỉnh 33,6%, góp phần làm gia tăng lạm phát trong năm sau Kết quả là, lạm phát đã trở nên khó kiểm soát vào cuối năm 2007 và đầu năm 2008, ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng bền vững của nền kinh tế.

2.2.2 Một số nguyên nhân đưa đến tốc độ tăng cung tiền cao

Sự mở rộng cung tiền trong nền kinh tế Việt Nam chủ yếu do các chính sách điều hành vĩ mô và dòng vốn đầu tư Các chính sách này có ảnh hưởng lớn đến lạm phát, tạo ra áp lực tăng giá cả và làm biến động nền kinh tế.

Để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế, Việt Nam đặt ra mục tiêu tăng trưởng GDP từ 7,5% - 8%, với mục tiêu thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 1.100 USD vào năm 2020 Tuy nhiên, không có con số cụ thể về lạm phát kỳ vọng Tăng trưởng kinh tế được ưu tiên hàng đầu trong điều hành vĩ mô, với các biện pháp như chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc thấp, và hỗ trợ khu vực doanh nghiệp nhà nước Tuy nhiên, những chính sách này có nguy cơ gây ra lạm phát do gia tăng số lượng tiền và tính kém hiệu quả trong đầu tư công.

Sự mở rộng cung tiền quá nhanh mà không có biện pháp giảm lượng tiền lưu thông đã dẫn đến lạm phát nghiêm trọng Trong nửa đầu năm 2007, Ngân hàng Nhà nước đã mua vào gần 7 tỷ USD, tạo ra khoảng 110.000 tỷ đồng (10% GDP) đưa vào lưu thông để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Chính phủ Để thu hồi tiền, Ngân hàng Nhà nước đã tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 5% lên 11% và phát hành tín phiếu bắt buộc với lãi suất thấp hơn mức lạm phát, đẩy chi phí chống lạm phát lên hệ thống ngân hàng thương mại Hệ quả là tình trạng khan hiếm tiền đồng và lãi suất cho vay ngắn hạn tăng cao tới 150%, gây rủi ro thanh khoản cho các ngân hàng nhỏ Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng mà còn làm tăng chi phí vay vốn và thu hẹp khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp.

- Hiệu quả đầu tư thấp từ khu vực doanh nghiệp nhà nước

Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cần có đầu tư làm động lực phát triển Các nền kinh tế thành công trong khu vực như Thái Lan duy trì tỷ lệ đầu tư cao khoảng 30% GDP Việt Nam hiện đang nỗ lực thu hút vốn đầu tư từ nhà nước, dân cư và nguồn vốn nước ngoài, với mục tiêu đạt tỷ lệ đầu tư gần 40% GDP để đạt tốc độ phát triển bình quân 8% trong giai đoạn 2000-2007.

Sự gia tăng vốn đầu tư từ khu vực quốc doanh, mặc dù nhận được sự tài trợ mạnh mẽ từ Chính phủ qua các dự án công và tín dụng ưu đãi, nhưng lại đóng góp hạn chế vào động lực phát triển và xuất khẩu Cụ thể, khu vực này chiếm 43,9% tổng đầu tư nhưng chỉ tạo ra 41,1% tăng trưởng công nghiệp thực và đạt 10% giá trị gia tăng trong giai đoạn 2000-2006 Ngược lại, vốn đầu tư nước ngoài và khu vực dân doanh, dù chỉ chiếm tỷ trọng lần lượt là 17,7% và 41,3%, lại có sự gia tăng đáng kể về giá trị.

Từ năm 2000 đến 2006, số lượng lao động tuyển dụng tăng bình quân 22,4% và 25,7%, trong khi khu vực quốc doanh giảm -0,1% giai đoạn 2001-2005 Hệ số suất đầu tư chung (ICOR) cao, trung bình đạt 4,4, cho thấy đầu tư từ nhà nước không hiệu quả, cần 4,4 đồng đầu tư để tạo ra 1 đồng tăng trưởng, so với Hàn Quốc và Đài Loan lần lượt là 3,0 và 2,7 Khu vực quốc doanh kiểm soát thị trường nội địa, chiếm dụng tài nguyên khan hiếm như đất đai và tín dụng với giá rẻ Sự mở rộng nhanh chóng nhưng kém hiệu quả của các tập đoàn nhà nước độc quyền ngành, cùng với sự hỗ trợ của Chính phủ, đang làm biến dạng nền kinh tế, hình thành nhóm lợi ích và tạo điều kiện cho tư bản nước ngoài xâm nhập vào các ngành được bảo hộ.

Hình 4: Chỉ số Vn-Index giai đoạn 2005-2008

Tỷ giá USD/VND giai đoạn 2006-2008

Hình 5: Tỷ giá USD/VND giai đoạn 2006-2008

Dòng vốn nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đầu tư và chi tiêu tại Việt Nam, với các hình thức như viện trợ phát triển chính thức (ODA), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đầu tư tài chính nước ngoài (FFI) và kiều hối Năm 2007, tổng vốn từ bên ngoài vào Việt Nam ước đạt 14,6 tỷ USD, chiếm khoảng 20% GDP, trong đó đầu tư nước ngoài đạt 8,6 tỷ USD và kiều hối 5,0 tỷ USD, chưa kể gần 1,0 tỷ USD từ ODA Sự gia tăng này không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn giúp bù đắp thâm hụt cán cân thương mại và tăng cường dự trữ quốc gia.

Việc tăng trưởng nhanh chóng của dòng vốn FFI đang gây ra tác động tiêu cực đến nền kinh tế, đặc biệt là thị trường chứng khoán và bất động sản Năm 2007, vốn FFI vào Việt Nam đạt gần 6 tỷ USD, dẫn đến sự bùng nổ của thị trường chứng khoán tại Hồ Chí Minh và Hà Nội với tổng giá trị vốn hóa lên tới 30 tỷ USD, chiếm 43% GDP, gấp ba lần so với năm 2006 Sự gia tăng này đã tạo áp lực lên cung tiền do nhu cầu chuyển đổi nhiều tỷ USD sang VND cho các giao dịch Hơn nữa, các tổ chức đầu tư tài chính nước ngoài đang ngày càng giữ vai trò quan trọng, thậm chí dẫn dắt thị trường và ảnh hưởng đến chính sách kinh tế.

4 Nguồn: Công ty Yahoo Inc

Bong bóng bất động sản tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đang có nguy cơ bùng nổ do lượng tiền lớn trong dân cư, sự dịch chuyển đầu tư của doanh nghiệp và các siêu dự án FDI Giá đất tại nhiều dự án phát triển đô thị đã tăng nhanh chóng, có nơi tăng hơn 100%, với giá 1m2 đất gấp gần 20 lần thu nhập bình quân hiện chỉ đạt 825$/năm Tình trạng này không chỉ làm biến dạng thị trường bất động sản mà còn gây ra mâu thuẫn xã hội, phân hóa giàu nghèo và cản trở nhu cầu nhà ở chính đáng của người dân.

Đánh giá và giải pháp

Sử dụng chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ (CSTT) được điều hành một cách chủ động, linh hoạt và thận trọng, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa (CSTK) cùng các chính sách kinh tế vĩ mô khác Ngân hàng Trung ương (NHTW) sử dụng các công cụ của mình để kiểm soát và điều tiết lượng tiền cung ứng nhằm đạt được các mục tiêu như kiểm soát lạm phát, ổn định giá cả và sức mua của nội tệ, duy trì sức mua đối ngoại của đồng nội tệ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo ra việc làm Chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo hai hướng: mở rộng hoặc thắt chặt, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế hiện tại.

Chính sách tiền tệ (CSTT) tập trung vào kiểm soát lạm phát và ổn định giá trị đồng nội tệ, với NHTW thực thi CSTT thông qua việc thiết lập mục tiêu lãi suất qua đêm và điều chỉnh cung tiền Để giảm rủi ro trên bảng cân đối, NHTW thực hiện các giao dịch cung cấp thanh khoản dựa trên tài sản thế chấp đủ tiêu chuẩn, không cho vay trực tiếp cho Chính phủ và khu vực tư nhân Thay vào đó, NHTW điều chỉnh lãi suất chính sách để kiểm soát thanh khoản trên thị trường, giúp thực hiện CSTT mở rộng trong giai đoạn suy thoái, thúc đẩy sự phát triển kinh tế Tuy nhiên, CSTT chủ yếu có tác động tích cực trong ngắn hạn; nếu kéo dài, có thể dẫn đến lạm phát gia tăng do không tác động trực tiếp vào tổng cầu.

Năm 2019, lạm phát bình quân của Việt Nam đạt khoảng 3%, nhờ vào việc kiểm soát giá hàng hóa thế giới giảm, chính sách tín dụng thận trọng, tỷ giá ổn định và giá dịch vụ y tế không tăng nhiều Tuy nhiên, năm 2020 sẽ là thách thức khi mục tiêu lạm phát bình quân dưới 4% đối mặt với việc giá hàng hóa thế giới dự báo phục hồi và cầu trong nước tăng Để kiểm soát lạm phát, các chính sách vĩ mô cần phối hợp nhất quán nhằm ổn định kinh tế vĩ mô Sau cú sốc giá thịt lợn tăng hơn 50% trong quý IV/2019, triển vọng kiềm chế lạm phát dưới 4% trong năm 2020 trở nên không chắc chắn, khi CPI tháng 12/2019 đã tăng 5,23% so với cùng kỳ năm trước, theo TS Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Tài chính.

Chính sách tài khóa thắt chặt

Chính sách tài khóa thắt chặt của Chính phủ, thông qua việc giảm chi tiêu công và tăng thuế, dẫn đến tăng trưởng kinh tế chậm lại Khi người dân có ít tiền hơn, thị trường sẽ sản xuất hàng hóa ít hơn do cầu giảm, từ đó cung cũng giảm để trở về trạng thái cân bằng, góp phần kiểm soát lạm phát.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh rằng áp lực tăng giá và lạm phát vẫn đang hiện hữu, đặc biệt là với giá dầu thô và lương thực thực phẩm có xu hướng tăng Nhiều quốc gia đã phải giảm giá đồng tiền trong bối cảnh này Do đó, cần kiên định với mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới 4%.

Thủ tướng nhấn mạnh rằng chính phủ sẽ linh hoạt trong việc chỉ đạo và điều hành, đặc biệt là trong việc xác định thời điểm và mức độ can thiệp của các công cụ chính sách, nhằm đảm bảo không ảnh hưởng đến mục tiêu phục hồi và phát triển kinh tế.

Thủ tướng khẳng định rằng cần kiểm soát lạm phát mà không thắt chặt chính sách tài khóa và tiền tệ, đồng thời nhấn mạnh rằng chính sách kiểm soát giá phải hỗ trợ ổn định và phát triển kinh doanh cũng như kích thích tăng trưởng Ông yêu cầu Bộ Tài chính phối hợp với các bộ, ngành rà soát và cập nhật kịch bản điều hành giá nhằm đạt mục tiêu lạm phát dưới 4%, với khả năng điều hành ở mức 4% nếu cần thiết để thúc đẩy tăng trưởng Các cơ quan chức năng và địa phương cần theo dõi sát diễn biến thị trường, kiểm soát giá cả, tăng cường chống buôn lậu và gian lận thương mại Cần thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định pháp luật về giá, xử lý nghiêm các hành vi găm hàng đầu cơ, nâng giá và gây biến động giá, đồng thời kiểm soát tốt đầu vào để ngăn chặn đầu cơ nâng giá.

Thủ tướng yêu cầu Bộ Công thương khẩn trương sửa đổi Nghị định 83 về kinh doanh xăng dầu, nhằm sử dụng linh hoạt Quỹ bình ổn giá để giảm biến động giá xăng dầu và đảm bảo cân đối nguồn cung trong nước cũng như nhập khẩu Đồng thời, cần kiểm soát chặt chẽ gian lận tại các đơn vị bán lẻ và buôn lậu xăng dầu Về giá điện, Thủ tướng chỉ đạo không tăng giá, đồng thời yêu cầu Bộ Công thương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam xử lý ngay các phản ánh của người dân liên quan đến chi phí điện tăng đột biến và các thủ tục hành chính liên quan đến cấp điện và thanh toán tiền điện.

Thủ tướng đánh giá cao các biện pháp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhằm tái đàn, tăng đàn, nhập lợn sống và xử lý vấn đề giống lợn để đảm bảo tái đàn hiệu quả Đồng thời, cần quản lý tốt khâu trung gian và kiểm soát chi phí từng khâu để giảm giá thịt lợn Bộ Công thương cũng cần chỉ đạo hiệu quả trong lưu thông, phân phối, bán buôn và bán lẻ nhằm góp phần bình ổn giá thịt lợn.

Thủ tướng đã chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đảm bảo sản xuất lúa gạo, với dự báo thu hoạch khoảng 43,5 triệu tấn thóc trong năm nay, giúp Việt Nam có khả năng đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo Đồng thời, Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính khẩn trương thực hiện việc thu mua dự trữ lúa gạo.

Cân bằng cung, cầu trong nền kinh tế

3.3.1 Nhóm giải pháp tác động đến tổng cầu

Chính sách khan hiếm tiền tệ được thực hiện thông qua việc kiểm soát và hạn chế cung ứng tiền trung ương, từ đó hạn chế khả năng mở rộng tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại Sự gia tăng lãi suất ngân hàng dẫn đến việc giảm nhu cầu đầu tư và tiêu dùng, qua đó làm giảm áp lực lên hàng hóa và dịch vụ cung ứng.

Khi Ngân hàng Trung ương nâng lãi suất tín dụng và tỷ lệ dự trữ bắt buộc, điều này nhằm hạn chế vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại Đồng thời, NHTW thực hiện nghiệp vụ thị trường mở bằng cách bán các giấy tờ có giá trị để thu hút vốn từ các nhà đầu tư trong nền kinh tế Ngoài ra, việc định hạn mức tín dụng cũng được quy định, yêu cầu các ngân hàng thương mại tuân thủ mức cấp vốn tín dụng tối đa; nếu cho vay vượt quá hạn mức này, ngân hàng sẽ phải chịu phạt.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đang thực hiện kiểm soát chi tiêu chặt chẽ, tiết kiệm ngân sách và cắt giảm các khoản chi không hiệu quả Mục tiêu là nâng cao hiệu quả thu ngân sách nhà nước, tăng thu nhưng vẫn phải đảm bảo nuôi dưỡng nguồn thu Chính sách thuế cần phải có tác dụng hướng dẫn và thúc đẩy sự phát triển của sản xuất kinh doanh.

Chính sách khuyến khích tiết kiệm và giảm tiêu dùng được thực hiện bằng cách nâng lãi suất danh nghĩa lên cao hơn tỷ lệ lạm phát, nhằm thu hút người gửi tiền.

3.3.1 Nhóm giải pháp tác động vào cung

Giải pháp nhằm cải thiện mối quan hệ giữa mức tăng tiền lương và năng suất lao động xã hội là thiết lập cơ chế đảm bảo mức lương phù hợp với hiệu quả kinh doanh của từng doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế Các phương pháp này sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững và công bằng trong phân phối thu nhập.

+ Chính sách thu nhập mang tính quy định, Nhà nước tham gia tối đa vào việc xác định các khoản thu nhập một đơn phương

Chính sách thu nhập hợp đồng được xây dựng dựa trên thỏa thuận giữa các thành phần xã hội, với sự tham gia của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Nhà nước đóng vai trò gợi ý hoặc bảo trợ cho các hợp đồng này, sau đó áp dụng nội dung và tinh thần của chúng vào khu vực kinh tế tư nhân.

+ Chính sách thu nhập mang tính hướng dẫn theo một chương trình kế hoạch hóa cũng như tính chất hướng dẫn

+ Biện pháp phong tỏa các loại giá, kể cả phong tỏa phụ phí được áp dụng khi chống lạm phát cấp bách, thường chỉ kéo dài từ 03 đến 06 tháng.

Ngày đăng: 02/10/2021, 19:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Quỹ Tiền tệ thế giới (2007). “World Economic and Financial Surveys World Economic Outlook Database”, đường dẫn:http://www.imf.org/external/pubs/ft/weo/2007/02/weodata/index.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: World Economic and Financial Surveys World Economic Outlook Database
Tác giả: Quỹ Tiền tệ thế giới
Năm: 2007
7. Vũ Quang Việt (2007). “Tại sao chống lạm phát phải là mục tiêu hàng đầu ?”, Website Diendan.org, đường dẫn:http://www.diendan.org/viet-nam/kinh-te-vn-chong-lam-phat-phai-la-muc-tieu-hang111au/?searchterm=%22v%C5%A9%20quang%20vi%E1%BB%87t%22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tại sao chống lạm phát phải là mục tiêu hàng đầu
Tác giả: Vũ Quang Việt
Năm: 2007
2. Trang Web của Luận Văn Việt https://luanvanviet.com/khai-niem-lam-phat/ Link
3. Trang Web của HANOI1000 https://hanoi1000.vn/lam-phat-la-gi/ Link
1. Sách Nhập môn Tài chính - tiền tệ - Trường đại học kinh tế TP. HCM CÁC TRANG WEB Khác
4. Chính phủ (2008). “Số: 319/TTg-KTTH V/v tăng cường các biện pháp kiềm chế lạm phát Chính phủ (2008) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w