1. Trang chủ
  2. » Tất cả

LUAN VAN NEW

91 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Ý Định Khởi Nghiệp Trong Lĩnh Vực Nông Nghiệp Của Sinh Viên Hà Nội
Tác giả Nguyễn Quang Tài
Người hướng dẫn GS. TS. Nguyễn Khắc Minh
Trường học Trường Đại Học Thăng Long
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,72 MB

Cấu trúc

  • 1. Lý do nghiên cứu (11)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu (13)
  • 3. Câu hỏi nghiên cứu (13)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (14)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (14)
  • 6. Ý nghĩa của nghiên cứu (15)
  • 7. Kết cấu của nghiên cứu (16)
  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (0)
    • 1.1. Các khái niệm chung (17)
      • 1.1.1. Khởi nghiệp (17)
      • 1.1.2. Ý định khởi nghiệp (17)
      • 1.1.3. Nông nghiệp (18)
      • 1.1.4. Khởi nghiệp nông nghiệp (19)
      • 1.1.5. Sinh viên Hà Nội (19)
    • 1.2. Các nghiên cứu lý thuyết (19)
      • 1.2.1. Thuyết hành vi dự định (TPB – Theory of Planned Behavior) (19)
      • 1.2.2. Mô hình sự kiện khởi nghiệp (Entrepreneurial – SEE) (20)
    • 1.3. Tổng quan các công trình nghiên cứu về ý định khởi nghiệp (22)
      • 1.3.1. Nghiên cứu ở nước ngoài (22)
      • 1.3.2. Các công trình nghiên cứu trong nước (24)
      • 1.3.3. Đánh giá các nghiên cứu trước (25)
    • 1.4. Mô hình nghiên cứu đề xuất (26)
      • 1.4.1. Các giả thiết nghiên cứu (26)
      • 1.4.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất (29)
  • CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU (0)
    • 2.1. Quy trình nghiên cứu (31)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (32)
      • 2.2.1. Nghiên cứu định tính (32)
      • 2.2.2. Nghiên cứu định lượng (32)
    • 2.3. Thiết kế thang đo (33)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (0)
    • 3.1. Thống kê mô tả dữ liệu (38)
      • 3.1.1. Thống kê mô tả mẫu theo giới tính (38)
      • 3.1.2. Thống kê mô tả mẫu theo quê quán (39)
      • 3.1.3. Thống kê mô tả mẫu theo trường học (39)
      • 3.1.4. Thống kê mô tả mẫu theo ngành học (40)
      • 3.1.5. Tổng hợp mô tả mẫu (41)
    • 3.2. Đánh giá độ tin cậy của thang đo (41)
      • 3.2.1. Đánh giá độ tin cậy đối với thang đo Đặc điểm tính cách (41)
      • 3.2.2. Đánh giá độ tin cậy của thang đo Thái độ khởi nghiệp (42)
      • 3.2.3. Đánh giá độ tin cậy của thang đo Chuẩn chủ quan (43)
      • 3.2.4. Đánh giá độ tin cậy của thang đo Nhận thức khả thi (43)
      • 3.2.5. Đánh giá độ tin cậy của thang đo Tiếp cận tài chính (44)
      • 3.2.6. Đánh giá độ tin cậy của thang đo Môi trường giáo dục (44)
      • 3.2.7. Đánh giá độ tin cậy của thang đo Ý định khởi nghiệp nông nghiệp (45)
    • 3.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA (46)
      • 3.3.1. Phân tích nhân tố khám phá cho các biến độc lập (46)
      • 3.3.2. Phân tích nhân tố khám phá cho biến phụ thuộc (48)
    • 3.4. Phân tích tương quan (49)
    • 3.5. Phân tích hồi quy (50)
      • 3.5.1. Đánh giá độ phù hợp của mô hình (50)
      • 3.5.2. Kiểm định phân phối chuẩn (51)
      • 3.5.3. Kiểm định đa cộng tuyến (53)
      • 3.5.4. Kiểm định các giả thiết nghiên cứu (53)
    • 3.6. Kiểm định sự khác biệt (55)
      • 3.6.1. Kiểm định Ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên học tại Hà Nội theo giới tính (56)
      • 3.6.2. Kiểm định Ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên học tại Hà Nội theo quê quán (57)
      • 3.6.3. Kiểm định Ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên học tại Hà Nội theo trường học (58)
      • 3.6.4. Kiểm định Ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên học tại Hà Nội theo ngành học (59)
    • 1. Kết luận (62)
    • 2. Khuyến nghị (63)
      • 2.1. Khuyến nghị với Chính phủ (63)
    • 3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo (66)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (67)
  • PHỤ LỤC (69)

Nội dung

Lý do nghiên cứu

Trong những năm gần đây, phong trào khởi nghiệp tại Việt Nam, đặc biệt trong giới trẻ từ 19 đến 35 tuổi, đang phát triển mạnh mẽ Mặc dù khởi nghiệp là một chiến lược quan trọng của Chính phủ Việt Nam, nhưng nhiều bạn trẻ vẫn tập trung vào các lĩnh vực đang "nóng" như công nghệ, với nhiều lý do khác nhau.

Thông tin, Thương mại, Dịch vụ … mà ít chú ý đến lĩnh vực nông nghiệp

Nông nghiệp Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt trong việc tạo ra việc làm Theo số liệu sơ bộ năm 2019 từ Tổng cục Thống kê, nông nghiệp đã tạo ra gần 19 triệu việc làm, chiếm 34,5% tổng số việc làm cả nước Điều này cho thấy nông nghiệp không chỉ góp phần ổn định kinh tế mà còn là giải pháp hiệu quả trong việc giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động.

Tỷ trọng trong xuất khẩu 13 % 12 % 11,2 %

Tỷ trọng tạo việc làm 40,0 % 37,6 % 34,5 %

Bảng 1.1 Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP, xuất khẩu và tạo việc làm

(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Thống kê)

Khởi nghiệp nông nghiệp còn giúp giảm áp lực dân số cho các đô thị lớn

Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra việc làm cho các khu vực nông thôn, giúp giảm bớt áp lực cho các thành phố lớn đang quá tải do lượng lao động tăng cao.

Khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ yêu cầu trình độ và kỹ thuật chuyên sâu, do đó số lượng người có khả năng thực hiện rất hạn chế Ngược lại, khởi nghiệp nông nghiệp lại mở ra cơ hội cho nhiều người tham gia, nhờ vào tính khả thi và sự dễ tiếp cận hơn trong lĩnh vực này.

Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển nông nghiệp, với 64,9% dân số sống ở nông thôn và điều kiện khí hậu, đất đai thuận lợi cho nhiều loại cây trồng Ngành nông nghiệp không chỉ phù hợp với nông dân mà còn mở rộng cho sinh viên và những người chưa có kinh nghiệm làm nông Kỹ thuật cao trong nông nghiệp có thể được học hỏi và áp dụng mà không cần qua quá trình đào tạo dài hạn Với sự cần cù của người dân và tiềm năng phát triển còn lớn, nông nghiệp có thể trở thành mũi nhọn thúc đẩy kinh tế đất nước.

Nông nghiệp Việt Nam hiện đang đối mặt với thách thức về trình độ kỹ thuật thấp và hoạt động sản xuất nhỏ lẻ, chưa đáp ứng được yêu cầu của các thị trường chất lượng cao Để cải thiện tình hình, cần thu hút sự tham gia của thanh niên, những người có khả năng tiếp cận công nghệ hiện đại, dám đổi mới và có khả năng thương mại quốc tế.

Sinh viên khối kỹ thuật nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả ngành nông nghiệp, góp phần vào sự phát triển bền vững Họ thường xuyên tìm hiểu và áp dụng các kỹ thuật sáng tạo, giúp ngành nông nghiệp đạt được những bước tiến mới Việc đào tạo chuyên sâu về nông nghiệp giúp sinh viên phát triển tư duy sáng tạo và khả năng áp dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất nông nghiệp.

Nghiên cứu về ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên Việt Nam có ý nghĩa quan trọng, tuy nhiên, do khó khăn trong việc thu thập dữ liệu, nghiên cứu này chỉ tập trung vào sinh viên tại Hà Nội Tình trạng sinh viên tốt nghiệp không tìm được việc làm đang gây khó khăn cho xã hội Việt Nam Khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp không chỉ mang lại cơ hội việc làm cho người khởi nghiệp mà còn tạo ra việc làm cho nhiều sinh viên khác.

Các nhà hoạch định chính sách vĩ mô đang chú trọng đến nghiên cứu khởi nghiệp, đặc biệt là ý định khởi nghiệp của sinh viên Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên tại TP Hồ Chí Minh và TP Hà Nội, nhưng vẫn thiếu nghiên cứu chuyên sâu về ý định khởi nghiệp của sinh viên Hà Nội.

Chưa có nghiên cứu nào về khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên Hà Nội, vì vậy đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp của sinh viên Hà Nội” là cần thiết Nghiên cứu này sẽ cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách nhằm khuyến khích ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên, từ đó nâng cao chất lượng nông sản, đảm bảo sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng trong nước và mở rộng khả năng xuất khẩu ra thị trường toàn cầu.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là phân tích các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp của sinh viên tại Hà Nội, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy ý định khởi nghiệp trong ngành này cho sinh viên.

Mục tiêu cụ thể Để đạt được mục tiêu trên, đề tài nghiên cứu này được thực hiện nhằm giải quyết những mục tiêu cụ thể sau:

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên học tại Hà Nội

- Đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên học tại Hà Nội

- Kiểm định sự khác biệt về ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên học ở Hà Nội theo đặc điểm cá nhân

- Đề xuất nhằm gia tăng tinh thần khởi nghiệp của sinh viên học ở Hà Nội.

Câu hỏi nghiên cứu

Để có thể đạt mục tiêu nêu trên, nghiên cứu cần làm rõ các câu hỏi:

- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên Hà Nội?

- Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trên đến ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên Hà Nội như thế nào?

- Có sự khác biệt về ý định khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp của sinh viên Hà Nội theo đặc điểm cá nhân không?

- Cần làm gì để tăng cường tinh thần khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp của sinh viên Hà Nội?

Phương pháp nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu lý thuyết và tham khảo các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả đã làm rõ khái niệm khởi nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, cùng với các yếu tố liên quan Từ đó, tác giả đề xuất một mô hình nghiên cứu nhằm phát triển khởi nghiệp hiệu quả trong ngành này.

Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua các phương pháp thảo luận nhóm và thảo luận tay đôi, trong đó tác giả áp dụng thảo luận nhóm tập trung như một công cụ hiệu quả để điều chỉnh và bổ sung thang đo Mục tiêu của nghiên cứu là khám phá và hiệu chỉnh các thang đo, đồng thời nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp của sinh viên tại Hà Nội Kết quả từ nghiên cứu sơ bộ này sẽ là nền tảng cho nghiên cứu chính thức theo phương pháp định lượng.

Nghiên cứu định lượng đã khảo sát 500 sinh viên năm cuối tại Hà Nội, và dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS.

Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát gửi đến các đối tượng nghiên cứu Bảng câu hỏi chính thức có thể được tìm thấy trong phụ lục Phương pháp lấy mẫu được sử dụng là mẫu thuận tiện, phi xác suất, với kích thước mẫu được đảm bảo là gấp 10 lần số biến quan sát.

Dữ liệu thu thập sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS, với độ tin cậy của thang đo được kiểm định qua hệ số Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) nhằm kiểm tra giá trị hội tụ và giá trị phân biệt Sau đó, mô hình sẽ được kiểm định, phân tích hồi quy và kiểm tra giả thuyết Cuối cùng, dựa trên kết quả nghiên cứu định lượng, các giải pháp sẽ được đề xuất cho các nhà hoạch định chính sách nhằm thúc đẩy ý định khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp của sinh viên tại Hà Nội.

Ý nghĩa của nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm đánh giá và áp dụng mô hình lý thuyết về ý định khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp của sinh viên tại Hà Nội, đồng thời bổ sung bằng chứng khảo sát thực nghiệm tại thành phố Kết quả nghiên cứu dự kiến sẽ là tài liệu tham khảo quý giá cho các trường học, viện đào tạo, trung tâm khởi nghiệp và nhà hoạch định chính sách Ngoài ra, nghiên cứu còn đề xuất các chính sách hỗ trợ đào tạo và phát triển doanh nghiệp, nhằm khơi dậy tinh thần khởi sự kinh doanh trong nông nghiệp của giới trẻ, góp phần nâng cao vai trò của doanh nhân trong sự phát triển xã hội Đề tài cũng tìm kiếm và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp trong ngành nông nghiệp của sinh viên, từ đó cung cấp cơ sở chứng minh các yếu tố quyết định sự lựa chọn nông nghiệp làm hướng đi cho khởi nghiệp Kết quả này sẽ là tiền đề quan trọng cho việc hoạch định chiến lược đào tạo và khuyến khích tinh thần khởi nghiệp của sinh viên.

Kết cấu của nghiên cứu

Bố cục của đề tài được chia thành: Phần mở đầu, Phần kết luận và 3 chương như sau:

Mở đầu: Giới thiệu nghiên cứu: Trinh bảy về lý do chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp, ý nghĩa và cấu trúc của nghiên cứu

Chương 1 trình bày cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu về khởi nghiệp, bao gồm các khái niệm và lý thuyết liên quan Bài viết tổng hợp các nghiên cứu trước đây cả trong và ngoài nước, từ đó tiến hành so sánh và nhận xét Cuối cùng, chương này đề xuất mô hình và giả thuyết cho đề tài nghiên cứu, nhằm tạo nền tảng vững chắc cho các phân tích tiếp theo.

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu: Trình bày phương pháp nghiên cứu, bao gồm cách thức thu thập dữ liệu, xử lý, kiểm định mô hình

Chương 3: Kết quả nghiên cứu: Phân tích dữ liệu và kết quả, thảo luận kết quả nghiên cứu

Kết luận của nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp cho sinh viên Hà Nội Để nâng cao hiệu quả, cần triển khai các chương trình đào tạo thực tế và hỗ trợ tài chính cho sinh viên Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế trong quá trình thực hiện và đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo nhằm phát triển các mô hình khởi nghiệp bền vững.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Các khái niệm chung

Khởi nghiệp, theo Từ điển Wikipedia, là thuật ngữ chỉ các công ty đang trong giai đoạn bắt đầu kinh doanh, thường được hiểu hẹp hơn là các công ty công nghệ mới thành lập Khởi nghiệp là quá trình thiết kế một tổ chức với mục tiêu cung cấp sản phẩm và dịch vụ trong những điều kiện không chắc chắn.

Chương I điều 3 khoản 2 của Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017 định nghĩa: Doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập để thực hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng nhanh

Trong nghiên cứu này, khởi nghiệp được định nghĩa rộng rãi là việc bắt đầu một hoạt động kinh doanh, như doanh nghiệp hoặc cửa hàng Người khởi nghiệp không chỉ là người sáng lập mà còn là người quản lý, tự mình lãnh đạo sự nghiệp kinh doanh, từ đó tạo ra việc làm cho bản thân và cho những người khác.

Theo các nhà tâm lý học xã hội Martin Fishbein và Icek Ajzen (1975), ý định hành vi thể hiện sự sẵn sàng của mỗi cá nhân trong việc thực hiện một hành vi, và nó là yếu tố quyết định trực tiếp dẫn đến hành động đó.

Ý định thể hiện mức độ chắc chắn về việc thực hiện một hành vi và là tiền đề cho hành vi dự định Theo Luthje và Franke (2004), ý định được coi là dự đoán tốt nhất cho việc thực hiện hành vi.

Mọi hành vi đều bắt nguồn từ ý định, dù là mờ nhạt hay chưa chuẩn bị Ý định rõ ràng và mạnh mẽ sẽ thúc đẩy cá nhân thực hiện hành vi, bất chấp rủi ro và khó khăn Ý định khởi nghiệp thể hiện mong muốn trở thành chủ doanh nghiệp hoặc quản lý một hoạt động kinh doanh riêng Người khởi nghiệp cần đầu tư vốn, công sức và chấp nhận rủi ro trong quá trình thực hiện ý định kinh doanh của mình.

Nông nghiệp, theo định nghĩa của Wikipedia, là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất để trồng trọt và chăn nuôi Ngành này khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu, nhằm tạo ra lương thực, thực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp không chỉ là một ngành sản xuất lớn mà còn bao gồm nhiều chuyên ngành như trồng trọt, chăn nuôi, và sơ chế nông sản, đồng thời còn mở rộng ra lâm nghiệp và thủy sản.

Mặc dù tỷ trọng nông nghiệp trong GDP đã giảm trong những năm gần đây, nhưng ngành này vẫn đóng góp đáng kể vào việc tạo ra việc làm và có tỷ trọng lớn trong xuất khẩu Nông nghiệp Việt Nam không chỉ đảm bảo an ninh lương thực trong nước mà còn khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế thông qua xuất khẩu.

Nông nghiệp Việt Nam mặc dù có tốc độ tăng trưởng cao, nhưng vẫn thấp hơn các ngành khác do năng suất và hiệu quả lao động còn hạn chế Tuy nhiên, các số liệu gần đây cho thấy tỷ trọng việc làm trong nông nghiệp giảm nhanh hơn tỷ trọng trong GDP, cho thấy năng suất lao động đang có xu hướng tăng Xu hướng này chủ yếu nhờ vào sự phát triển và ứng dụng công nghệ, kỹ thuật mới vào lĩnh vực nông nghiệp.

Khởi nghiệp nông nghiệp là việc bắt đầu kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, bao gồm các lĩnh vực như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản và thủy sản.

Sinh viên Hà Nội là những người đang theo học tại các trường Đại học và Cao đẳng trong khu vực thủ đô Họ có nguồn gốc từ cả nông thôn và thành phố, bao gồm Hà Nội và các tỉnh khác Đây là lực lượng trẻ năng động, có khả năng tiếp cận và áp dụng nhanh chóng các kỹ thuật mới trong nông nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao.

Theo thống kê của Bộ Giáo dục năm 2018, Hà Nội có 505.627 sinh viên, chiếm 33,13% tổng số sinh viên cả nước (1.526.111 sinh viên) Điều này cho thấy Hà Nội là trung tâm giáo dục lớn, thu hút nhiều sinh viên từ các tỉnh miền Bắc Đặc biệt, nhiều sinh viên đến từ các vùng nông thôn, điều này mang lại lợi thế cho họ trong việc khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp.

Các nghiên cứu lý thuyết

Hiện nay, có nhiều lý thuyết về ý định và hành vi khởi nghiệp, trong đó nổi bật là lý thuyết “hành vi dự định” (TPB) của Ajzen (1991) và thuyết “Sự kiện khởi nghiệp” (SEE) của Shapero và Sokol (1982) Luận văn này được xây dựng dựa trên hai lý thuyết quan trọng này.

1.2.1 Thuyết hành vi dự định (TPB – Theory of Planned Behavior)

In 1975, Ajzen and Fishbein introduced the Theory of Reasoned Action (TRA), which laid the groundwork for understanding human behavior By 1991, Ajzen expanded upon this concept with the Theory of Planned Behavior (TPB), incorporating additional factors to enhance the model's predictive power regarding intentional actions.

“nhận thức kiểm soát hành vi” vào mô hình TRA

Theo thuyết hành vi dự định Ý định hành vi do ba yếu tố Thái độ, Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi

Hình 1.1 Mô hình thuyết hành vi dự định TPB

Thái độ của một cá nhân đối với kết quả đạt được sau khi thực hiện hành vi có thể là tích cực hoặc tiêu cực Những đánh giá này bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm tâm lý và mức độ quen thuộc với hành vi đó.

Sức ép xã hội là những ảnh hưởng từ người xung quanh, bao gồm cả sự ủng hộ và phản đối đối với hành vi của cá nhân Những ý kiến đánh giá này có thể tác động mạnh mẽ đến quyết định và hành động của mỗi người.

Nhận thức kiểm soát hành vi

Mức độ khó khăn trong việc thực hiện hành vi được đánh giá dựa trên sự tự tin của cá nhân và các yếu tố hỗ trợ như nguồn tài chính và mối quan hệ Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định khả năng thực hiện hành vi một cách hiệu quả.

1.2.2 Mô hình sự kiện khởi nghiệp (Entrepreneurial – SEE)

Mô hình SEE, được giới thiệu bởi Shapero và Sokol vào năm 1982, xem khởi nghiệp như một sự kiện kinh doanh chịu ảnh hưởng từ ba yếu tố chính: hoàn cảnh, cảm nhận mong muốn và cảm nhận tính khả thi.

Theo SEE, con người thường không muốn thay đổi tình trạng hiện tại và chỉ thay đổi khi phải đối mặt với sự lựa chọn Quyết định khởi sự kinh doanh của mỗi cá nhân bị ảnh hưởng bởi các yếu tố đẩy (tích cực) và kéo (tiêu cực) Các yếu tố đẩy bao gồm sự không hài lòng với công việc, bị sa thải, hoặc có thời gian rảnh rỗi Trong khi đó, các yếu tố kéo bao gồm nguồn tài chính, sự hợp tác với người khác, và mối quan hệ sẵn có với khách hàng.

Khởi nghiệp kinh doanh mang đến sức hấp dẫn mạnh mẽ, hình thành từ trải nghiệm cá nhân và quá trình giáo dục Ảnh hưởng từ xã hội và bạn bè cũng đóng vai trò quan trọng trong việc định hình nhận thức về khởi nghiệp Những yếu tố này kết hợp lại tạo nên niềm đam mê và động lực cho những ai muốn bước vào con đường kinh doanh.

Shapero cho rằng, khi xã hội đánh giá cao vai trò của doanh nhân, điều này sẽ thúc đẩy cá nhân có mong muốn trở thành chủ doanh nghiệp Do đó, cảm nhận về khát khao khởi nghiệp sẽ bị ảnh hưởng qua lại với những đánh giá từ môi trường xung quanh.

Cảm nhận tính khả thi

Khi một cá nhân quyết định khởi nghiệp, họ thường xem xét khả năng thành công của dự án Theo Shapero, nhiều yếu tố như nguồn tài chính, kinh nghiệm cá nhân, sự hỗ trợ từ người thân và chính sách của chính phủ đều có tác động lớn đến tính khả thi của việc khởi nghiệp.

Hình 1.2 Thuyết sự kiện khởi nghiệp - SEE

Các mô hình TPB và SEE, dù cổ điển, vẫn giữ giá trị cao trong nghiên cứu hành vi khởi nghiệp Chúng đã được kiểm định thực tế và áp dụng rộng rãi, nhấn mạnh các yếu tố cá nhân, nguồn lực và môi trường như những biến số chính ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp Sự khác biệt giữa hai mô hình này không làm giảm tầm quan trọng của chúng trong việc hiểu rõ động lực khởi nghiệp.

Tổng quan các công trình nghiên cứu về ý định khởi nghiệp

Mô hình nghiên cứu của Luthje và Franke (2004)

Nghiên cứu của tác giả áp dụng mô hình thuyết hành vi dự định TPB của Ajzen (1991) để phân tích ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học tại Canada Kết quả cho thấy ý định khởi nghiệp của sinh viên bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm tính cách cá nhân, cảm nhận về môi trường giáo dục, cũng như điều kiện thị trường và tài chính Đặc biệt, nghiên cứu nhấn mạnh vai trò quan trọng của yếu tố tài chính và cảm nhận môi trường giáo dục trong việc hình thành ý định khởi nghiệp của sinh viên.

Hình 1.3 Mô hình ý định khởi nghiệp của sinh viên Đại học tại Canada

Nghiên cứu của Haris và cộng sự (2016)

Haris và cộng sự đã nghiên cứu trên mẫu gồm 81 sinh viên của Học viện Công nghệ Thông tin và Trường Đại học Kuala Lumpur, Malaysia và đưa đến

Nghiên cứu chỉ ra rằng có năm yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, bao gồm khả năng tiếp cận tài chính, cơ hội việc làm, nhận thức về tính khả thi của ý tưởng, tác động từ gia đình và bạn bè, cùng với giáo dục tinh thần khởi nghiệp.

Hình 1.4 Nghiên cứu ý định khởi nghiệp của sinh viên Học viện Công nghệ Thông tin và trường Đại học Kuala Lumpur

(nguồn: Haris và cộng sự, 2016)

Nghiên cứu của Francisco Linan và cộng sự (2011)

Nghiên cứu này xác định năm yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên, bao gồm sự sẵn sàng kinh doanh, thái độ cá nhân, hoạch định, liên minh và hình thành nhân viên.

Hình 1.5 Mô hình nghiên cứu ý định khởi nghiệp của Francisco Linan và cộng sự

(nguồn: Francisco Linan và cộng sự, 2011)

1.3.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

Hình 1.6.Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên TP.HCM (2018)

(Nguồn: Ngô Thị Mỵ Châu, 2018)

Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 424 sinh viên năm cuối tại các trường Đại học ở thành phố Hồ Chí Minh và xác định 6 yếu tố ảnh hưởng đến khởi nghiệp, bao gồm: Hỗ trợ khởi nghiệp, nhận thức về tính khả thi, môi trường giáo dục khuyến khích tinh thần khởi nghiệp, đặc điểm tính cách, khả năng tiếp cận tài chính, và thái độ đối với khởi nghiệp.

Nguyễn Quốc Nghi, Lê Thị Diệu Hiền, Mai Võ Ngọc Thanh (2016)

Nghiên cứu khảo sát 400 sinh viên tại các trường Đại học và Cao đẳng ở TP Cần Thơ cho thấy có 4 yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp, bao gồm thái độ và đam mê, sự sẵn sàng kinh doanh, quy chuẩn chủ quan và giáo dục Trong số đó, thái độ và đam mê được xác định là yếu tố có tác động mạnh nhất.

Hình 1.7 Mô hình nghiên cứu ý định khởi nghiệp của sinh viên Đại học/Cao đẳng tại TP Cần Thơ

(Nguồn: Nguyễn Quốc Nghi, Lê Thị Diệu Hiền, Mai Võ Ngọc Thanh, 2016)

Phan Anh Tú và Trần Quốc Huy (2017)

Hình 1.8 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ Cần Thơ

(nguồn: Phan Anh Tú và Trần Quốc Huy, 2017)

Nghiên cứu dựa trên khảo sát 166 sinh viên tại Đại học Kỹ thuật Công nghệ Cần Thơ đã xác định 7 nhân tố chính ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, bao gồm: đặc điểm tính cách, thái độ cá nhân, nhận thức và thái độ, giáo dục khởi nghiệp, nhận thức điều khiển hành vi, quy chuẩn và thái độ, cùng với quy chuẩn chủ quan.

1.3.3 Đánh giá các nghiên cứu trước

Các nghiên cứu trước đây chưa tập trung vào sinh viên tại Hà Nội khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp, mặc dù ngành này đang trở thành một mũi nhọn sản xuất với nhiều tiềm năng phát triển Sự gia tăng khát vọng khởi nghiệp của giới trẻ, cùng với sự cạnh tranh gay gắt trong các lĩnh vực kinh doanh khác, cho thấy khởi nghiệp từ nông nghiệp là một hướng đi mới đáng được chú ý và khai thác.

Nhiều nghiên cứu trước đây đã áp dụng các biến độc lập khác nhau trong các mô hình phân tích Tuy nhiên, có một số biến chung quan trọng như đặc điểm tính cách cá nhân, thái độ cá nhân đối với khởi nghiệp và chuẩn chủ quan, phản ánh quan điểm của những người xung quanh.

16 người xung quanh), Môi trường giáo dục khởi nghiệp, Khả năng tiếp cận tài chính, đánh giá cá nhân về tính khả thi

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC TÁC GIẢ

Phan Anh Tú và Trần Quốc Huy (2017) Nguyễn Quốc Nghi (2016) Ngô Thị Mỵ Châu (2018) Francisco Linan (2011) Haris và cộng sự (2016) Luthje và Franke (2014)

Môi trường giáo dục x x x x x Điều kiện thị trường/Tính khả thi x x x

Sự sẵn sàng kinh doanh x

Bảng 2.1 Bảng tổng hợp kết quả các nghiên cứu trước

(nguồn: Tác giả tổng hợp)

Mô hình nghiên cứu đề xuất

1.4.1 Các giả thiết nghiên cứu Đặc điểm tính cách Đặc điểm tính cách là những đặc điểm của cá nhân có sự tương đồng với tính cách của một doanh nhân Bao gồm: (1) Nhu cầu thành đạt, (2) sự tự tin

Nghiên cứu của Phan Anh Tú và Trần Quốc Huy (2017) cùng với Ngô Thị Mỵ Châu (2018) chỉ ra rằng đặc điểm tính cách ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh Do đó, giả thuyết H1 của nghiên cứu được đưa ra là khả năng tự tin vào bản thân và chấp nhận rủi ro là những yếu tố quan trọng trong việc hình thành ý định khởi nghiệp.

H1: Đặc điểm tính cách có tác đông cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành nông nghiệp học tại Hà Nội

Thái độ đối với hoạt động khởi nghiệp

Thái độ cá nhân đối với khởi nghiệp thể hiện qua những nhận thức tích cực và tiêu cực về việc trở thành doanh nhân Theo Phan Anh Tú và Trần Quốc Huy (2017), có năm biến có thể đo lường thái độ này: lợi ích từ việc làm doanh nhân, sự hấp dẫn của nghề doanh nhân, mong muốn trở thành doanh nhân khi có cơ hội, sự thỏa mãn các yêu cầu cá nhân khi làm doanh nhân, và những đóng góp của doanh nhân cho xã hội Từ đó, giả thuyết H1 được đưa ra.

H2: Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp tác động cùng chiều với ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên học tập tại Hà Nội

Môi trường giáo dục khởi nghiệp

Môi trường giáo dục tinh thần khởi nghiệp bao gồm các chương trình giáo dục khởi nghiệp tại các trường Đại học, khóa học ngoại khóa về kinh doanh, cùng với các chương trình truyền hình và sách báo cung cấp kiến thức khởi nghiệp Những yếu tố này không chỉ giúp sinh viên nắm vững kiến thức mà còn khơi gợi cảm hứng để họ tự kinh doanh Nghiên cứu của Luthje và Franke đã chỉ ra tầm quan trọng của những yếu tố này trong việc phát triển tinh thần khởi nghiệp.

(2004), môi trường giáo dục khởi nghiệp có tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Từ đó, nghiên cứu đưa ra giả thiết H3 như sau:

H3: Môi trường giáo dục có tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên học tại Hà Nội

Chuẩn chủ quan đề cập đến ý kiến của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và quan điểm chung của xã hội, tạo ra áp lực đối với sinh viên khởi nghiệp.

Nhiều bậc phụ huynh, như những người làm nông nghiệp, thường không muốn con cái khởi nghiệp trong lĩnh vực này do thấy sự vất vả và rủi ro Họ lo lắng về việc con cái ra khỏi vùng an toàn để theo đuổi khởi nghiệp Nghiên cứu của Haris và cộng sự (2016) cùng với Ngô Thị Mỵ Châu (2018) chỉ ra rằng chuẩn chủ quan có ảnh hưởng lớn đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Từ đó, chúng ta đưa ra giả thuyết H4.

H4: Chuẩn chủ quan tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên học tập tại Hà Nội

Nhận thức tính khả thi

Nhận thức tính khả thi là mức độ khó khăn hoặc dễ dàng mà cá nhân cảm nhận về việc khởi sự doanh nghiệp, phản ánh sự tự tin trong hành động của họ Theo Ajzen (1991), yếu tố này có ảnh hưởng trực tiếp đến xu hướng hành vi, từ đó tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Càng đánh giá cao tính khả thi của hoạt động khởi nghiệp, cá nhân càng có ý định kinh doanh mạnh mẽ và quyết tâm hành động cao hơn Do đó, chúng ta có giả thuyết H5 như sau:

H5: Nhận thức tính khả thi tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên học tại Hà Nội

Trong giai đoạn khởi đầu của doanh nghiệp, nguồn vốn là yếu tố then chốt, bởi đây là thời điểm đầu tư mà lợi nhuận còn hạn chế Nhiều bạn trẻ với ý tưởng kinh doanh tiềm năng gặp khó khăn trong việc huy động vốn, dẫn đến việc không thể thành lập doanh nghiệp Nghiên cứu của Haris và cộng sự (2016) cùng Ngô Thị Mỵ Châu (2018) chỉ ra rằng khả năng tiếp cận tài chính có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, từ đó hình thành giả thuyết H6.

H6: Tiếp cận tài chính có tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên học tại Hà Nội

1.4.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Dựa trên các lý thuyết và nghiên cứu trước đây, tác giả đã kế thừa và điều chỉnh để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên tại Hà Nội Các nhân tố này được lựa chọn từ các nghiên cứu của Luthje và Franke (2004), Haris và cộng sự (2016), Phan Anh Tú và Trần Quốc Huy (2017), Ngô Thị Mỵ Châu (2018) và Nguyễn Quốc Nghi cùng các cộng sự.

Năm 2016, tác giả đã dựa trên các nghiên cứu trước đó để xây dựng nền tảng lý thuyết cho việc khảo sát ý định khởi nghiệp Nghiên cứu này được áp dụng vào việc tìm hiểu ý định khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp của sinh viên tại Hà Nội.

Tác giả đề xuất một mô hình gồm 06 yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên tại các trường Đại học ở Hà Nội, bao gồm: (1) Đặc điểm tính cách, (2) Thái độ đối với khởi nghiệp, (3) Môi trường giáo dục khởi nghiệp, (4) Chuẩn chủ quan, (5) Nhận thức tính khả thi, và (6) Tiếp cận tài chính.

Mô hình được trình bày như Hình 1.9 sau đây:

Hình 1.9 Mô hình nghiên cứu đề xuất

(nguồn: Tác giả đề xuất)

Trong chương 2, tác giả giới thiệu các khái niệm cơ bản về nghiên cứu và tóm tắt lý thuyết hành vi dự định, cùng với các ứng dụng cụ thể Chương này cũng xem xét các nghiên cứu trước đây về ý định khởi nghiệp cả trong và ngoài nước Cuối cùng, tác giả thiết lập mô hình nghiên cứu với 6 yếu tố: đặc điểm tính cách, thái độ đối với khởi nghiệp, môi trường giáo dục khởi nghiệp, chuẩn chủ quan, nhận thức tính khả thi và tiếp cận tài chính, với biến phụ thuộc là ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên tại Hà Nội.

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Quy trình nghiên cứu

Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu

(Nguồn: Tác giả nghiên cứu và đề xuất)

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả áp dụng hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để khảo sát Đối tượng nghiên cứu là sinh viên năm cuối từ một số trường Đại học tại Hà Nội.

Mục đích của nghiên cứu định tính là xác định các biến quan sát, điều chỉnh và bổ sung các thành phần, khái niệm và thuật ngữ cho sự phù hợp, đồng thời làm rõ ý nghĩa của các câu hỏi và điều chỉnh chúng cho rõ ràng hơn.

Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua việc khám phá các lý thuyết và nghiên cứu trước đây trong và ngoài nước, cùng với việc tổ chức thảo luận nhóm Nhóm thảo luận bao gồm 15 sinh viên năm cuối thuộc ngành nông nghiệp và các ngành liên quan từ nhiều trường đại học khác nhau.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Trường Đại học Lâm Nghiệp Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội Đại học Kinh tế Quốc Dân

Kết quả thảo luận cho thấy đa số người tham gia đều đồng ý rằng các yếu tố và thang đo được đưa ra là đầy đủ và dễ hiểu Dựa trên ý kiến đóng góp, tác giả đã điều chỉnh bảng câu hỏi để sử dụng thuật ngữ và ngữ pháp đơn giản, rõ ràng hơn, và bảng câu hỏi đã được hiệu chỉnh sẽ được áp dụng trong nghiên cứu định lượng.

Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu

Nghiên cứu này áp dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện, phi xác suất, và theo hướng dẫn của Hair và cộng sự (2006), kích thước mẫu tối thiểu cần đạt 50, trong khi 100 mẫu sẽ mang lại kết quả tốt hơn.

Để đạt được độ tin cậy cao trong khảo sát, cỡ mẫu nên lớn gấp 5 đến 10 lần số biến quan sát Với bảng khảo sát gồm 30 câu hỏi, cỡ mẫu tối thiểu cần thiết là 30*50, tuy nhiên, cỡ mẫu lý tưởng nên đạt 30*1000 để đảm bảo độ chính xác và tính đại diện.

Tác giả đã gửi 500 bảng hỏi đến sinh viên năm cuối của các trường Đại học và thu về 373 bảng trả lời Sau khi loại bỏ 53 bảng không hợp lệ do có nhiều ô trống hoặc đối tượng không phù hợp, tác giả đã nhận được 320 bảng trả lời hợp lệ.

Bước 1: Lập bảng tần số thống kê để mô tả mẫu (theo giới tính, ngành học, trường học)

Bước 2: Để đảm bảo độ tin cậy của từng thành phần trong thang đo, cần kiểm tra hệ số Cronbach’s Alpha, đo lường mức độ tương quan giữa các biến Các biến có hệ số tương quan với biến tổng dưới 0,3 sẽ bị loại bỏ Chỉ những thang đo có hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,6 mới được chấp nhận.

Bước 3: Phân tích nhân tố khám phá EFA là giai đoạn quan trọng sau khi kiểm định độ tin cậy của thang đo Các thang đo đạt chuẩn sẽ được đưa vào phân tích để xác định và điều chỉnh lại thang đo, nhằm loại bỏ các biến không cần thiết Mục tiêu của bước này là kiểm tra sự tồn tại mối liên hệ giữa các biến trong nghiên cứu.

Bước 4: Dùng phần mềm SPSS kiểm định các giả thuyết của mô hình hồi quy.

Thiết kế thang đo

Nghiên cứu này sử dụng các thang đo được phát triển bởi Haris và cộng sự (2016), Phan Anh Tú và Trần Quốc Huy (2017), Ngô Thị Mỵ Châu (2018), Lenan (2011), Nguyễn Quốc Nghi (2016), và Luthje và Franke (2014) Tác giả đã điều chỉnh và bổ sung các biến quan sát để làm rõ hơn vấn đề khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp.

Đặc điểm tính cách là yếu tố tâm lý thể hiện qua thái độ và hành vi đối với sự vật hoặc hành động Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những đặc điểm chung trong tính cách của các doanh nhân, cho thấy sự quan trọng của tính cách trong việc đạt được thành công trong kinh doanh.

Nghiên cứu này sử dụng thang đo “đặc điểm tính cách” dựa trên nghiên cứu của Ngô Thị Mỵ Châu (2018) và bổ sung thêm hai biến liên quan đến tính cách trong lĩnh vực nông nghiệp, tạo thành tổng cộng năm biến quan sát được mã hóa từ DDTC1 đến DDTC5.

Ký hiệu Biến quan sát

DDTC1 Bạn thích công việc có tính sáng tạo

DDTC2 Bạn luôn nâng cao hiệu quả xử lý công việc

DDTC3 Bạn sẵn sàng chấp nhận rủi ro khi kinh doanh

DDTC4 Bạn yêu thích môi trường, quanh cảnh thiên nhiên

DDTC5 Bạn thích sáng tạo trong nông nghiệp

Bảng 2.1 Thang đo đặc điểm tính cách

(nguồn: Tác giả dựa vào nghiên cứu trước, có chỉnh sửa và bổ sung)

Thang đo “Thái độ đối với khởi nghiệp”

Thái độ khởi nghiệp phản ánh mức độ hấp dẫn của việc khởi sự kinh doanh đối với cá nhân, thể hiện qua sự hứng thú, khát khao và quyết tâm trong việc kinh doanh Dựa trên thang đo của Francisco Lenan (2011) và Ngô Thị Mỵ Châu (2018), thái độ khởi nghiệp bao gồm 5 biến quan sát được mã hóa từ TDKN1 đến TDKN5.

Ký hiệu Biến quan sát

TDKN1 Doanh nhân có nhiều lợi thế

TDKN2 Bạn thấy nghề doanh nhân hấp dẫn

TDKN3 Bạn sẽ lập công ty khi có cơ hội

TDKN4 Bạn thấy thỏa mãn khi trở thành doanh nhân

TDKN5 Doanh nghiệp nông nghiệp có thể công hiến, giúp đỡ nông dân, người tiêu dùng và xã hội

Bảng 2.2 Thang đo Thái độ khởi nghiệp

(nguồn: Tác giả dựa vào nghiên cứu trước và có chỉnh sửa)

Thang đo “Chuẩn chủ quan”

Thang đo "Chuẩn chủ quan" đánh giá áp lực từ môi trường xung quanh đối với cá nhân khởi nghiệp, bao gồm những ý kiến và nhận định từ gia đình, bạn bè, và đồng nghiệp.

Bài viết này trình bày 25 quan điểm chung của xã hội về khởi nghiệp, đặc biệt là khởi nghiệp nông nghiệp Thang đo được xây dựng dựa trên nghiên cứu của Haris và cộng sự (2016), với sự điều chỉnh và bổ sung thêm 3 biến quan sát nhằm đo lường mức độ ủng hộ từ gia đình và bạn bè đối với hành vi khởi nghiệp Tổng cộng, thang đo này bao gồm 6 biến được mã hóa từ CCQ1 đến CCQ6.

Ký hiệu Biến quan sát

CCQ1 Gia đình bạn ủng hộ quyết định khởi nghiệp

CCQ2 Bạn bè ủng họ quyết định lập công ty của bạn

CCQ3 Nhận thức chung của xã hội là ủng hộ các thanh niên khởi nghiệp CCQ4 Gia đình ủng hộ bạn làm nông nghiệp

CCQ5 Bạn bè ủng hộ bạn làm nông nghiệp

CCQ6 Xã hội đánh giá cao các doanh nhân nông nghiệp

Bảng 2.3 Thang đo Chuẩn chủ quan

(nguồn: Tác giả dựa vào các nghiên cứu trước và có chỉnh sửa, bổ sung)

Thang đo “Nhận thức tính khả thi”

Thang đo “Nhận thức tính khả thi” được sử dụng để đánh giá khả năng thành công của cá nhân trong khởi nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp Dựa trên mô hình của Luthje và Franke (2014), thang đo này đã được điều chỉnh và bổ sung thêm 3 biến quan sát liên quan đến đánh giá khả năng thành công trong nông nghiệp Tổng cộng, thang đo này bao gồm 6 biến quan sát, được mã hóa từ NTKT1 đến NTKT6.

Ký hiệu Biến quan sát

NTKT1 Bạn tin mình sẽ khởi nghiệp thành công

NTKT2 Bạn sẽ phát huy được ưu thế của khi khởi nghiệp

NTKT3 Bạn đã có đủ kiến thức, kỹ năng quản lý công ty

NTKT4 Bạn cho rằng nông nghiệp có nhiều tiềm năng phát triển

NTKT5 Bạn tin mình có ưu thế khi làm nông nghiệp

NTKT6 Bạn đã đủ kiến thức để điều hành một dự án nông nghiệp

Bảng 2.4 Thang đo “Nhận thức tính khả thi”

(nguồn: Tác giả dựa trên các nghiên cứu trước, có chỉnh sửa và bổ sung)

Thang đo “Tiếp cận tài chính”

Thang đo này đánh giá khả năng huy động vốn của cá nhân trong việc khởi nghiệp nông nghiệp, được xây dựng dựa trên thang đo của Ngô Thị.

Mỵ Châu (2018) đã bổ sung một biến quan sát mới liên quan đến kênh huy động vốn từ việc kêu gọi cổ đông góp vốn Do đó, thang đo “Tiếp cận tài chính” hiện bao gồm tổng cộng 5 biến quan sát, được mã hóa từ TCTC1 đến TCTC5.

Ký hiệu Biến quan sát

TCTC1 Bạn đã có vốn tích lũy từ trước

TCTC2 Bạn có thể vay tiền từ bạn bè, người thân

TCTC3 Bạn có thể vay tiền từ ngân hàng

TCTC4 Bạn có thể kêu gọi đối tác góp vốn

TCTC5 Bạn cho rằng ít vốn vẫn có thể khởi nghiệp nông nghiệp

Bảng 2.5 Thang đo về Tiếp cận tài chính

(nguồn: Tác giả dựa trên nghiên cứu Ngô Thị Mỵ Châu (2018), có chỉnh sửa và bổ sung)

Thang đo Môi trường giáo dục khởi nghiệp

Thang đo này sử dụng thang đo của Nguyễn Quốc Nghi (2016), Phan Anh

Tú và Trần Quốc Huy (2017) đã thực hiện việc sửa đổi và bổ sung các biến quan sát nhằm đo lường hiệu quả của Môi trường giáo dục khởi nghiệp Thang đo này bao gồm 3 biến quan sát, được mã hóa từ GDKN1 đến GDKN3.

Ký hiệu Biến quan sát

GDKN1 Trường học đã cung cấp kiến thức cần thiết về khởi nghiệp

GDKN2 Các khóa học thêm đã cùng cấp kiến thức khởi nghiệp

GDKN3 Các chương trình truyền hình, sách báo đã tạo cảm hứng khởi nghiệp cho bạn

Bảng 2.6 Thang đo Môi trường giáo dục tinh thần khởi nghiệp

(nguồn: Tác giả dựa trên các nghiên cứu trước, có chỉnh sửa và bổ sung)

Thang đo “Ý định khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp”

Tác giả dựa trên thang đo Haris và cộng sự (2016), tổng cộng có 3 biến quan sát, mã hóa từ YDKN1 đến YDKN3

Ký hiệu Biến quan sát

YDKN1 Bạn luôn xác định sẽ lập công ty khi có cơ hội

YDKN2 Bạn đã suy nghĩ nghiêm túc trong việc khởi nghiệp

YDKN3 Bạn sẽ cố gắng đề doanh nghiệp nông nghiệp của mình sớm thành lập

Bảng 2.7 Thang đo Ý định khởi nghiệp nông nghiệp

(nguồn: Tác giả dựa trên các nghiên cứu của Haris và cộng sự (2016), có chỉnh sửa và bổ sung)

Chương này mô tả phương pháp nghiên cứu cho luận văn, bao gồm cả nghiên cứu định tính và định lượng Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua thảo luận nhóm, trong khi nghiên cứu định lượng sử dụng bảng câu hỏi khảo sát đối với sinh viên năm cuối ngành nông nghiệp tại một số trường Đại học ở Hà Nội Kết quả thu thập sẽ được phân tích bằng phần mềm SPSS.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thống kê mô tả dữ liệu

3.1.1 Thống kê mô tả mẫu theo giới tính

Hình 3.1 Mô tả mẫu theo giới tính

(Nguồn: Tác giả phân tích từ dữ liệu điều tra)

Mẫu khảo sát gồm 320 sinh viên năm cuối ngành học nông nghiệp và gần nông nghiệp Tỷ lệ nữ chiếm 55,6% (178 sinh viên), sinh viên nam chiếm

Trong số sinh viên có ý định khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp, tỷ lệ nam và nữ gần như ngang bằng, với 44,4% (142 sinh viên) mong muốn tham gia Điều này khác biệt so với các lĩnh vực khác, như trong nghiên cứu của Ngô Thị Mỵ Châu năm 2018, cho thấy tỷ lệ sinh viên nam có ý định khởi nghiệp trong công nghệ thông tin lên tới 83%, trong khi tỷ lệ nữ chỉ ở mức thấp hơn.

3.1.2 Thống kê mô tả mẫu theo quê quán

Hình 3.2 Mô tả mẫu theo quê quán

(Nguồn: Tác giả phân tích từ dữ liệu điều tra)

Thống kê mẫu cho thấy số lượng sinh viên quê ở nông thôn chiếm 83,1%

(266 sinh viên) lớn hơn hẳn so với tỷ lệ sinh viên sống ở thành phố là 16,9%

(54 sinh viên) Tỷ lệ này phù hợp với thực tế đa số người Việt Nam sống ở nông thôn

3.1.3 Thống kê mô tả mẫu theo trường học

Hình 3.3 Mô tả mẫu theo trường học

(Nguồn: Tác giả phân tích từ dữ liệu điều tra)

Trong 320 mẫu khảo sát, Học viện Nông nghiệp Việt Nam chiếm 38,1%

Trong số 122 sinh viên, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân chiếm 25% với 80 sinh viên, tiếp theo là Trường ĐH Lâm nghiệp với 21,6% tương đương 69 sinh viên, và cuối cùng là Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường Hà Nội với 15,3%, tức 49 sinh viên.

3.1.4 Thống kê mô tả mẫu theo ngành học

Hình 3.4 Mô tả mẫu theo ngành học

(Nguồn: Tác giả phân tích từ dữ liệu điều tra)

Mẫu khảo sát cho thấy có 10 ngành học, trong đó ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên và Công nghệ sinh học đều có 48 sinh viên, theo sau là Khoa học cây trồng với 47 sinh viên và chăn nuôi với 44 sinh viên Các ngành có số lượng sinh viên thấp hơn bao gồm Công nghệ sau thu hoạch (34 sinh viên), Sinh học ứng dụng (32 sinh viên), và Quản lý tài nguyên và môi trường (18 sinh viên) Hai ngành có số lượng sinh viên ít nhất là Du lịch sinh thái (10 sinh viên) và Công nghệ và kinh doanh thực phẩm (8 sinh viên).

Trong tổng số sinh viên, ngành nông nghiệp chiếm ưu thế với 270 sinh viên, tương đương 84,4% Trong khi đó, các ngành gần nông nghiệp như Công nghệ sinh học, Du lịch sinh thái và Sinh học ứng dụng có 50 sinh viên, chiếm 15,6%.

3.1.5 Tổng hợp mô tả mẫu

Bảng 3.1 Tổng hợp thống kê mô tả mẫu

(Nguồn: Tác giả phân tích từ dữ liệu điều tra)

Đánh giá độ tin cậy của thang đo

Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha được sử dụng để phân tích các thang đo, trong đó các biến quan sát đạt chuẩn phải có hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0,3; những biến có hệ số tương quan thấp hơn sẽ bị loại bỏ Để được chấp nhận, thang đo cần có độ tin cậy Cronbach’s Alpha tối thiểu từ 0,6.

3.2.1 Đánh giá độ tin cậy đối với thang đo Đặc điểm tính cách

Thang đo đặc điểm tính cách đạt hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha là 0,809, vượt mức 0,6, cho thấy độ tin cậy cao Tất cả các biến quan sát đều có hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0,3, và không có biến nào có thể loại bỏ để làm tăng Cronbach’s Alpha Do đó, các biến quan sát này được chấp nhận và sẽ được đưa vào phân tích nhân tố.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam 122 38,13%

Trường ĐH KTQD 80 25,00% Đại học Lâm Nghiệp 69 21,56% ĐH Tài nguyên và Môi trường Hà Nội 49 15,31% Kinh tế Tài nguyên thiên nhiên 48 15,00%

Công nghệ sau thu hoạch 34 10,63%

Quản lý Tài nguyên và Môi trường 18 5,63%

Công nghệ và Kinh doanh thực phẩm 8 2,50%

Trường đào tạo Đặc điểm

Trung bình thang đo nếu loại biến

Phương sai thang đo nếu loại biến

Cronbach's Alpha nếu loại biến

Thang đo "Đặc điểm tính cách": Cronchbach's Alpha: 0,809

Bảng 4 2 Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo Đặc điểm tính cách

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả bằng phần mềm SPSS)

3.2.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo Thái độ khởi nghiệp

Thang đo Thái độ khởi nghiệp có hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha là 0,795

Các biến quan sát trong thang đo có hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0,3 và không có biến nào có thể làm tăng Cronbach’s Alpha vượt quá 0,795 Do đó, tất cả các biến quan sát được chấp nhận và sẽ được đưa vào phân tích nhân tố.

Trung bình thang đo nếu loại biến

Phương sai thang đo nếu loại biến

Cronbach's Alpha nếu loại biến

Thang đo "Thái độ khởi nghiệp": Cronchbach's Alpha: 0,795

Bảng 3.3 Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo Thái độ khởi nghiệp

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả bằng phần mềm SPSS)

3.2.3 Đánh giá độ tin cậy của thang đo Chuẩn chủ quan

Thang đo Chuẩn chủ quan đạt hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha là 0,886, vượt mức 0,6 Tất cả các biến quan sát đều có hệ số tương quan với biến tổng lớn hơn 0,3, và không có biến nào có thể làm tăng Cronbach’s Alpha lên trên 0,886 Do đó, các biến quan sát này được chấp nhận và sẽ được đưa vào phân tích nhân tố.

Trung bình thang đo nếu loại biến

Phương sai thang đo nếu loại biến

Cronbach's Alpha nếu loại biến

Thang đo "Chuẩn chủ quan": Cronchbach's Alpha: 0,886

Bảng 3.4 Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo Chuẩn chủ quan

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả bằng phần mềm SPSS)

3.2.4 Đánh giá độ tin cậy của thang đo Nhận thức khả thi

Trung bình thang đo nếu loại biến

Phương sai thang đo nếu loại biến

Cronbach's Alpha nếu loại biến

Thang đo "Nhận thức khả thi": Cronchbach's Alpha: 0,931

NTKT1 16,31 32,020 0,797 0,919 Biến phù hợp NTKT2 16,27 32,054 0,837 0,915 Biến phù hợp NTKT3 16,04 32,212 0,741 0,926 Biến phù hợp NTKT4 16,18 30,262 0,775 0,922 Biến phù hợp NTKT5 16,05 31,003 0,818 0,916 Biến phù hợp

Bảng 3.5 Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo Nhận thức khả thi

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả bằng phần mềm SPSS)

Thang đo Nhận thức khả thi đạt được hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha là 0,931, vượt quá ngưỡng 0,6 Tất cả các biến quan sát đều có hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0,3, và không có biến nào có thể làm tăng Cronbach’s Alpha lên trên 0,931 Do đó, các biến quan sát trong thang đo này được chấp nhận và sẽ được đưa vào phân tích nhân tố.

3.2.5 Đánh giá độ tin cậy của thang đo Tiếp cận tài chính

Thang đo Tiếp cận tài chính đạt hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha là 0,804, vượt ngưỡng 0,6 Tất cả các biến quan sát đều có hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0,3 và không có biến nào có thể làm tăng Cronbach’s Alpha vượt quá 0,804 Do đó, các biến quan sát này được chấp nhận và sẽ được đưa vào phân tích nhân tố.

Trung bình thang đo nếu loại biến

Phương sai thang đo nếu loại biến

Cronbach's Alpha nếu loại biến

Thang đo "Tiếp cận tài chính": Cronchbach's Alpha: 0,804

Bảng 3.6 Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo Tiếp cận tài chính

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả bằng phần mềm SPSS)

3.2.6 Đánh giá độ tin cậy của thang đo Môi trường giáo dục

Thang đo Môi trường giáo dục có hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha là 0,853

Các biến quan sát trong thang đo có hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0,3, và không có biến nào có thể làm tăng Cronbach’s Alpha vượt quá 0,853 Do đó, tất cả các biến quan sát này đều được chấp nhận và sẽ được đưa vào phân tích nhân tố.

Trung bình thang đo nếu loại biến

Phương sai thang đo nếu loại biến

Cronbach's Alpha nếu loại biến

Thang đo "Môi trường giáo dục": Cronchbach's Alpha: 0,853

Bảng 3.7 Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo Môi trường giáo dục

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả bằng phần mềm SPSS)

3.2.7 Đánh giá độ tin cậy của thang đo Ý định khởi nghiệp nông nghiệp

Thang đo Ý định khởi nghiệp nông nghiệp đạt hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha là 0,880, cao hơn mức 0,6 Tất cả các biến quan sát đều có hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0,3, và không có biến nào có thể cải thiện hệ số Cronbach’s Alpha vượt quá 0,880 Do đó, các biến quan sát này được chấp nhận và sử dụng trong phân tích nhân tố.

Trung bình thang đo nếu loại biến

Phương sai thang đo nếu loại biến

Cronbach's Alpha nếu loại biến

Thang đo "Ý định khởi nghiệp nông nghiệp" có Cronchbach's Alpha =

Bảng 3.8 Kết quả phân tích độ tin cậy của thang đo Ý định khởi nghiệp nông nghiệp

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả bằng phần mềm SPSS)

Các thang đo của biến độc lập và biến phụ thuộc đều đạt hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha cao (> 0,8) Tất cả các biến quan sát có hệ số tương quan với biến tổng lớn hơn 0,3, do đó chúng được chấp nhận và đưa vào phân tích nhân tố EFA.

Phân tích nhân tố khám phá EFA

Sau khi các thang đo được đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha cho thấy

30 biến quan sát của 6 thang đo đều đạt chuẩn, các thang đo sẽ tiếp tục được đánh giá bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp trích yếu tố phân tích thành phần chính với phép xoay Varimax cho 30 biến quan sát

Giả thiết H01 là: Các biến quan sát trong tổng thể không có mối tương quan với nhau

3.3.1 Phân tích nhân tố khám phá cho các biến độc lập

Kiểm định KMO và Bartlet cho các biến độc lập

Kiểm định Bartlett của thang đo

Giá trị Chi bình phương 5235,149 df 435

Sig (Mức ý nghĩa quan sát) 0,000

Bảng 3.9 Kết quả kiểm định KMO và Bartlett các biến độc lập

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả bằng phần mềm SPSS)

Ta thấy sig.= 0,000 < 0,005 như vậy giả thiết H01 bị bác bỏ

Hệ số KMO là 0,907 > 0,5 do đó các biến quan sát trong tổng thể có mối tương quan với nhau và thích hợp cho phân tích nhân tố EFA

Kiểm định EFA cho các biến độc lập

Sử dụng phương pháp rút trích Principal Component và phép quay Varimax, nghiên cứu đã xác định được 6 nhóm biến từ 30 biến quan sát, với tất cả các biến đều có hệ số tải nhân tố lớn hơn 0,5 Các nhân tố này giải thích 65,658% sự biến thiên của dữ liệu, vượt quá ngưỡng 50% sự biến thiên cần thiết.

Kết quả phân tích nhân tố khám phá

Hệ số nhân tố tải

Eigenvalue 8,980 3,426 2,727 1,821 1,641 1,102 Phương sai trích (%) 29,935 11,419 9,091 6,069 5,471 3,674 Tổng phương sai trích (%) 29,935 41,354 50,445 56,514 61,985 65,658

Bảng 3.10 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả bằng phần mềm SPSS)

Như vậy mô hình hồi quy sẽ gồm 6 biến độc lập như sau:

STT Tên biến Ký hiệu

1 Đặc điểm tính cách DDTC

2 Thái độ khởi nghiệp TDKN

4 Nhận thức tính khả thi NTKT

5 Tiếp cận tài chính TCTC

6 Môi trường giáo dục khởi nghiệp MTGD

Bảng 3.11 Sáu biến độc lập sẽ đưa vào mô hình hồi quy

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

3.3.2 Phân tích nhân tố khám phá cho biến phụ thuộc

Kiểm định KMO và Bartlett

Mục đích: Xem xét sự phù hợp sử dụng phân tích nhân tố đối với biến phụ thuộc

Kiểm định Bartlett của thang đo

Giá trị Chi bình phương 557,012 df 3,00

Sig (Mức ý nghĩa quan sát) 0,000

Bảng 3.12 Kết quả kiểm định KMO và Bartlett thang đo Ý định khởi nghiệp nông nghiệp

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả)

Giả thiết H03: 3 biến quan sát trong tổng thể không có mối quan hệ với nhau

Dựa vào bảng kết quả, giá trị sig = 0,000 nhỏ hơn 0,005, điều này dẫn đến việc bác bỏ giả thuyết H03 Hệ số KMO đạt 0,710, lớn hơn 0,5, cho thấy các biến quan sát trong tổng thể có mối tương quan với nhau, phù hợp với phương pháp phân tích nhân tố EFA.

Kiểm định nhân tố EFA cho thang đo Ý định khởi nghiệp nông nghiệp

Phân tích nhân tố EFA sử dụng phương pháp trích nhân tố Principal Component và phép xoay Varimax cho thang đo Ý định khởi nghiệp cho thấy có thể trích được một nhân tố với 3 biến quan sát, như được trình bày trong bảng 3.13.

39 phương sai trích tích lũy được là 81,324% (> 50%) Giá trị Eigenvalue = 2,440

Hệ số nhân tố tải của các biến quan sát trong thang đo Ý định khởi nghiệp nông nghiệp đều lớn hơn 0,5, cho thấy thang đo này đạt yêu cầu Các biến quan sát thành phần sẽ được áp dụng cho phân tích tương quan và hồi quy.

Hệ số nhân tố tải

Phương sai trích tích lũy (%) 81,324

Bảng 3.13 Kết quả phân tích nhân tố EFA cho thang đo ý định khởi nghiệp nông nghiệp

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả)

Phân tích tương quan

Sử dụng phân tích tương quan Pearson’s, nghiên cứu này xem xét mối tương quan giữa Ý định khởi nghiệp nông nghiệp (YDKN) và các biến độc lập như Đặc điểm tính cách (DDTC), Thái độ khởi nghiệp (TDKN), Chuẩn chủ quan (CCQ), Nhận thức tính khả thi (NTKT), Tiếp cận tài chính (TCTC), và Môi trường giáo dục (MTGD) Kết quả được trình bày trong Bảng 3.14.

Kết quả ma trận tương quan cho thấy hệ số Pearson giữa Ý định khởi nghiệp và các biến độc lập đều lớn hơn 0,5, cho thấy mối liên hệ chặt chẽ Trong đó, mối liên hệ mạnh nhất là giữa Môi trường giáo dục và Ý định khởi nghiệp nông nghiệp với hệ số Pearson đạt 0,672, trong khi mối liên hệ yếu nhất là giữa Chuẩn chủ quan và Ý định khởi nghiệp nông nghiệp.

Bảng 3.14 Bảng ma trận tương quan giữa các biến

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả)

Phân tích hồi quy

3.5.1 Đánh giá độ phù hợp của mô hình

Hệ số xác định R2 (R Square) được sử dụng để đánh giá độ phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính bội, thể hiện tỷ lệ biến thiên của biến phụ thuộc do tổng mức biến thiên của các biến giải thích gây ra.

1 0,863 a 0,744 0,739 0,489 0,791 a Biến độc lập: (Hằng số), MTGD, NTKT, DDTC, TCTC, CCQ, TDKN b Biến phụ thuộc: YDKN

Bảng 3.15 Mức độ phù hợp của mô hình

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả)

DDTC TDKN CCQ NTKT TCTC MTGD YDKN Pearson Correlation 1 0,378 ** 0,272 ** 0,184 ** 0,309 ** 0,422 ** 0,577 **

** Tương quan với mức ý nghĩa < 0,01 (2 - đuôi)

Hệ số R2 hiệu chỉnh là 0,739, thấp hơn R2 (0,744), cho thấy việc sử dụng R2 hiệu chỉnh để đánh giá độ phù hợp của mô hình là hợp lý hơn Mô hình hồi quy đã giải thích 73,9% sự biến thiên của biến phụ thuộc Ý định khởi nghiệp, dựa trên 6 yếu tố: Đặc điểm tính cách, Thái độ khởi nghiệp, chuẩn chủ quan, Nhận thức khả thi, Tiếp cận tài chính và Môi trường giáo dục.

Trung bình bình phương F Sig

Tổng 292,299 319 a Biến độc lập: (Hằng số), MTGD, NTKT, DDTC, TCTC, CCQ, TDKN b Biến phụ thuộc: YDKN

Bảng 3.16 Bảng phân tích phương sai ANOVA

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả)

Bảng phân tích phương sai ANOVA cho thấy giá trị F có mức ý nghĩa với Sig 0,000 < 0,005, chứng tỏ mô hình hồi quy tuyến tính phù hợp với dữ liệu điều tra Tất cả các biến đưa vào mô hình đều có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5%.

3.5.2 Kiểm định phân phối chuẩn

Hình 3.5 minh họa phân phối chuẩn của phần dư với giá trị trung bình gần bằng 0 (Mean = 9,15E – 16) và độ lệch chuẩn xấp xỉ 1 (Std Dev = 0,991) Dựa trên bảng số liệu này, có thể khẳng định rằng phân phối chuẩn của phần dư không bị sai phạm, cho thấy mô hình hồi quy tuyến tính là phù hợp với dữ liệu thu được.

Hình 3.6 cho thấy tần số P-P, với các điểm của phần dư phân tán nằm ngẫu nhiên xung quanh đường chéo kỳ vọng, cho thấy giả định về phân phối chuẩn của phần dư đã được đáp ứng.

Hình 3.5 Biểu đồ tần số phần dư chuẩn hóa

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả)

Hình 3.6 Biểu đồ tần số P – P

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả)

Hình 3.7 Đồ thị phân tán giữa giá trị dự đoán và phần dư từ hồi quy

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả)

3.5.3 Kiểm định đa cộng tuyến

Hệ số phóng đại phương sai VIF có giá trị lớn nhất bằng 1,842 (nhỏ hơn

Các biến độc lập không có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, do đó hiện tượng đa cộng tuyến không xảy ra Điều này có nghĩa là sự liên hệ giữa các biến độc lập không ảnh hưởng đáng kể đến kết quả giải thích của mô hình hồi quy Thông tin chi tiết được trình bày trong Bảng 3.17.

3.5.4 Kiểm định các giả thiết nghiên cứu

Bảng 3.17 Bảng thống kê phân tích các hệ số hồi quy

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả)

Bảng 3.17 cho thấy tất cả các biến độc lập đều có hệ số chuẩn hóa Beta dương và có giá trị Sig < 0,05, chứng tỏ chúng đều có ý nghĩa trong mô hình hồi quy Phương trình hồi quy chưa được chuẩn hóa có dạng:

Phương trình hồi quy chưa chuẩn hóa có dạng:

YDKN = 0,288*DDTC + 0,070*TDKN + 0,081*CCQ + 0,356*NTKT + 0,139*TCTC + 0,313*MTGD

Kết quả kiểm định các giả thiết

H1: Đặc điểm tính cách tác động cùng chiều (+) đến ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên học tại Hà Nội

H2: Thái độ khởi nghiệp tác động cùng chiều (+) đến ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên học tại Hà Nội

H3: Chuẩn chủ quan tác động cùng chiều (+) đến ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên học tại Hà Nội

H4: Nhận thức khả thi tác động cùng chiều (+) đến ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên học tại Hà Nội

H5: Tiếp cận tài chính tác động cùng chiều (+) đến ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên học tại Hà Nội

H6: Môi trường giáo dục khởi nghiệp tác động cùng chiều (+) đến ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên học tại Hà Nội

Bảng 3.18 Kết quả kiểm định các giả thiết

(Nguồn: tác giả tự tổng hợp)

Dựa trên bảng kết quả, mô hình lý thuyết đã chứng minh tính phù hợp với dữ liệu nghiên cứu, với 6 giả thuyết H1, H2, H3, H4, H5 và H6 được chấp nhận Hình 3.7 thể hiện mô hình kết quả nghiên cứu với mức ý nghĩa 5% (độ tin cậy 95%).

Mức độ tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc Ý định khởi nghiệp nông nghiệp theo thứ tự giảm dần như sau:

1 Nhận thức tính khả thi (Với Beta = + 0,356)

2 Môi trường giáo dục tinh thần khởi nghiệp (Với Beta = +0,313)

3 Đặc điểm tính cách (Với Beta = +0,288)

4 Tiếp cận tài chính (Với Beta = +0,139)

5 Chuẩn chủ quan (Với Beta = +0,081)

6 Thái độ đối với khởi nghiệp (Với Beta = +0,070)

Hình 3.8 Mô hình kết quả nghiên cứu

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

Kiểm định sự khác biệt

Để đánh giá sự khác biệt trong Ý định khởi nghiệp nông nghiệp dựa trên các đặc điểm cá nhân của sinh viên tại Hà Nội, tác giả áp dụng phương pháp kiểm định Anova một chiều (one-way Anova).

3.6.1 Kiểm định Ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên học tại

Hà Nội theo giới tính

Tác giả áp dụng phương pháp kiểm định mẫu độc lập T-test nhằm so sánh sự khác biệt về ý định khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp giữa hai giới tính Nam và Nữ.

Giới tính N Trung bình Độ lệch chuẩn

Bảng 3.19 Bảng thống kê mô tả theo giới tính

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả)

Bảng 3.20 Kết quả kiểm định T-test mẫu độc lập với giới tính

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả)

Kết quả kiểm định F cho thấy Sig = 0,928 > 0,05, do đó chúng ta chấp nhận giả thuyết rằng phương sai của hai mẫu là bằng nhau Chúng ta sẽ sử dụng dòng 3 trong Bảng 3.20 để làm kết quả cho kiểm định t.

Kiểm định t có Sig.=0,000 < 0,05 dẫn đến kết luận có sự khác biệt giữa trung bình của hai nhóm giới tính Do vậy chúng ta chấp nhận giả thuyết H0:

Có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê về Ý định khởi nghiệp nông nghiệp giữa nhóm Nam và Nữ

Giới hạn trên Phương sai bằng nhau

Khác biệt sai số chuẩn Khác biệt sai số chuẩn

Kiểm định Levene về sự bằng nhau của phương sai

Kiểm định t về sự bằng nhau của các trung bình

3.6.2 Kiểm định Ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên học tại

Hà Nội theo quê quán

Tác giả áp dụng phương pháp kiểm định T-test độc lập nhằm so sánh ý định khởi nghiệp nông nghiệp giữa hai nhóm đối tượng: cư dân thành phố và nông thôn.

Quê quán N Trung bình Độ lệch chuẩn

Bảng 3.21 Bảng thống kê mô tả theo quê quán

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả)

Bảng 3.22 Kết quả kiểm định T-test mẫu độc lập với quê quán

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả)

Kết quả kiểm định F cho thấy Sig = 0,078, lớn hơn 0,05, do đó chúng ta chấp nhận giả thuyết rằng phương sai của hai mẫu là bằng nhau Dựa trên điều này, chúng ta sẽ sử dụng dòng 3 trong Bảng 3.20 để làm kết quả cho kiểm định t.

Kiểm định t có Sig.= 0,000 < 0,05 dẫn đến kết luận có sự khác biệt giữa trung bình của hai nhóm quê quán Do vậy chúng ta chấp nhận giả thuyết H0:

Có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê về Ý định khởi nghiệp nông nghiệp giữa nhóm quê quán ở Nông thôn và Thành phố

Giới hạn trên Phương sai bằng nhau

Khác biệt sai số chuẩn Khác biệt sai số chuẩn

Kiểm định Levene về sự bằng nhau của phương sai

Kiểm định t về sự bằng nhau của các trung bình

F Sig t df Sig (2- tailed)Khác biệt trung bình

3.6.3 Kiểm định Ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên học tại

Hà Nội theo trường học

Kiểm tra tính đồng nhất của các phương sai

Kiểm định Levene df1 df2 Sig

Bảng 3.23 Bảng kiểm định Leneve tính đồng nhất của các phương sai

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả)

Với kết quả mức ý nghĩa Sig.= 0,000 < 0,05 có thể nói phương sai của Ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên theo các trường là khác nhau

Tổng bình phương df Trung bình bình phương F Sig

Khác biệt giữa các nhóm 171,712 3 57,237 149,991 0,000

Khác biệt trong từng nhóm 120,587 316 0,382

Bảng 3.24 Bảng kiểm định ANOVA với các trường đào tạo

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả)

Kết quả phân tích One-Way ANOVA cho thấy có sự khác biệt đáng kể về Ý định khởi nghiệp nông nghiệp giữa các sinh viên thuộc các trường đào tạo khác nhau, với mức ý nghĩa kiểm định phương sai là 0.000, nhỏ hơn 0.05.

Theo biểu đồ Hình 3.9, sinh viên ĐH Tài nguyên và Môi trường Hà Nội có ý định khởi nghiệp nông nghiệp thấp nhất, trong khi Học viện Nông nghiệp Việt Nam và ĐH Kinh tế Quốc dân dẫn đầu về ý định này Đặc biệt, nhóm sinh viên ĐH Lâm nghiệp thể hiện mức độ khởi nghiệp nông nghiệp thấp nhất trong số các trường.

Hình 3.9 Sự khác nhau về ý định khởi nghiệp nông nghiệp giữa sinh viên các trường

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả)

3.6.4 Kiểm định Ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên học tại

Hà Nội theo ngành học

Kiểm tra tính đồng nhất của các phương sai

Kiểm định Levene df1 df2 Sig

Bảng 3.25 Bảng kiểm định sự đồng nhất của phương sai các ngành học

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả)

Với kết quả mức ý nghĩa Sig.=0,000 < 0,05 có thể nói phương sai của Ý định khởi nghiệp nông nghiệp theo các ngành học là khác nhau

Tổng bình phương df Trung bình bình phương F Sig

Khác biệt giữa các nhóm 171,712 3 57,237 149,991 0,000

Khác biệt trong từng nhóm 120,587 316 0,382

Bảng 3.26 Bảng kiểm định ANOVA với các ngành học

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả)

Kết quả phân tích One-Way ANOVA cho thấy có sự khác biệt đáng kể về ý định khởi nghiệp nông nghiệp giữa các ngành học, với mức ý nghĩa 0.000 < 0.05.

Hình 3.10 Sự khác nhau về ý định khởi nghiệp nông nghiệp giữa các ngành học

(Nguồn: Phân tích dữ liệu khảo sát của tác giả)

Theo biểu đồ Hình 3.10, ngành Công nghệ sau thu hoạch dẫn đầu về ý định khởi nghiệp nông nghiệp, tiếp theo là Công nghệ và kinh sinh học, Công nghệ và kinh doanh thực phẩm, Chăn nuôi, Kinh tế nông nghiệp, cùng với Quản lý tài nguyên và môi trường Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên có mức ý định khởi nghiệp trung bình, trong khi các ngành như Du lịch sinh thái, Khoa học cây trồng, và Sinh học ứng dụng có ý định khởi nghiệp nông nghiệp thấp.

Chương 4 đã trình bày mẫu nghiên cứu ở dạng mô tả thống kê theo nhân khẩu học, trình bày các kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy

Sau khi phân tích hồi quy, ta thấy có 6 biến độc lập gồm: DDTC, TDKN, CCQ, NTKT, TCTC, MTGD có tác động cùng chiều (+) đến biến phụ thuộc YDKN

Mức độ tác động của các biến này vào biến YDKN được sắp xếp từ mạnh nhất đến yếu nhất như sau:

1 Nhận thức tính khả thi (Với Beta = + 0,356)

2 Môi trường giáo dục tinh thần khởi nghiệp (Với Beta = +0,313)

3 Đặc điểm tính cách (Với Beta = +0,288)

4 Tiếp cận tài chính (Với Beta = +0,139)

5 Chuẩn chủ quan (Với Beta = +0,081)

6 Thái độ đối với khởi nghiệp (Với Beta = +0,070)

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Phần kết luận và kiến nghị sẽ tổng hợp kết quả nghiên cứu, đưa ra các hàm ý cụ thể cho nhà quản trị theo từng nhóm yếu tố, đồng thời chỉ ra những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Kết luận

Dựa trên lý thuyết tổng quan và các mô hình nghiên cứu trước đó, tác giả đã phát triển một mô hình nghiên cứu và tiến hành kiểm định với mẫu khảo sát gồm 320 sinh viên năm cuối thuộc các ngành nông nghiệp và gần nông nghiệp từ các trường như Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Trường Đại học Lâm Nghiệp, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.

Mô hình sau kiểm định có những đóng góp tích cực trong thực tiễn quản lý như sau:

Nghiên cứu về ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên tại Hà Nội cho thấy sự quan tâm đáng kể từ phía sinh viên đối với lĩnh vực này Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp bao gồm kiến thức, kỹ năng và môi trường hỗ trợ Kết quả nghiên cứu cung cấp cái nhìn sâu sắc về tiềm năng khởi nghiệp nông nghiệp trong cộng đồng sinh viên, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết của các chương trình đào tạo và hỗ trợ khởi nghiệp.

Hà Nội đang ở mức độ trung bình và trên trung bình về ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên Để cải thiện tình hình này, các nhà quản trị cần triển khai những giải pháp thiết thực và hiệu quả hơn.

Kết quả kiểm định cho thấy các thang đo trong nghiên cứu đạt hệ số Cronbach’s Alpha cao, từ 0,795 đến 0,931, cho thấy độ tin cậy cao Do đó, các nghiên cứu sau có thể áp dụng các thang đo này.

Mô hình hồi quy của nghiên cứu cho thấy có 6 yếu tố chính ảnh hưởng đến Ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên tại Hà Nội Cụ thể, Nhận thức tính khả thi (NTKT) có ảnh hưởng mạnh nhất với hệ số β = + 0,356, tiếp theo là Môi trường giáo dục tinh thần khởi nghiệp (MTGD) với β = + 0,313, và Đặc điểm tính cách (DDTC) với β = + 0,288 Các yếu tố khác bao gồm Tiếp cận tài chính (β = + 0,139), Chuẩn chủ quan (CCQ) (β = + 0,081), và Thái độ đối với khởi nghiệp (TDKN) (β = + 0,070).

Nghiên cứu đã phân tích sự khác biệt về ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên tại Hà Nội, dựa trên các yếu tố như giới tính, quê quán, trường đào tạo và ngành học.

Khuyến nghị

2.1 Khuyến nghị với Chính phủ

Sinh viên năm cuối và sinh viên đã tốt nghiệp thường thiếu vốn để khởi nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp Để biến ý tưởng kinh doanh thành hiện thực, họ cần tiếp cận nguồn tài chính Nghiên cứu cho thấy yếu tố tiếp cận tài chính có tác động quan trọng đến ý định khởi nghiệp nông nghiệp, với hệ số Beta = +0,139, đứng thứ tư trong sáu nhóm yếu tố Để tăng cường ý định khởi nghiệp nông nghiệp cho sinh viên, chính phủ cần cải thiện môi trường hành chính cho doanh nghiệp nhỏ, thiết lập chính sách định hướng kinh tế rõ ràng và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nông nghiệp vay vốn khởi nghiệp.

Nhóm yếu tố Chuẩn chủ quan có tác động xếp thứ năm trong 6 yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp nông nghiệp của sinh viên tại Hà Nội, với Beta = +0,081 Điều này cho thấy khởi nghiệp nông nghiệp chưa được xã hội công nhận đúng mức vai trò của nó, khi nhiều người vẫn giữ lối suy nghĩ cũ cho rằng nông nghiệp là ngành nghề vất vả Tuy nhiên, nếu nhìn vào các nước phát triển như Mỹ, Israel hay Úc, ta sẽ thấy nhiều mô hình nông nghiệp hiện đại và quy mô nhỏ Mặc dù giai đoạn đầu khởi nghiệp nông nghiệp tại Việt Nam vẫn liên quan đến công việc vất vả, nhưng với xu hướng công nghiệp hóa và áp dụng công nghệ mới, nông nghiệp Việt Nam đang mở ra nhiều cơ hội phát triển tiềm năng cho những ai biết nắm bắt.

Để khuyến khích ý định khởi nghiệp nông nghiệp trong sinh viên, nhà nước cần triển khai các chương trình truyền thông nhằm nâng cao nhận thức và cải thiện đánh giá của xã hội về lĩnh vực nông nghiệp.

Hiện nay, các game show về khởi nghiệp và kinh doanh, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, đã cung cấp nhiều kiến thức và kỹ năng thiết yếu Tuy nhiên, số lượng chương trình vẫn còn hạn chế và chưa đáp ứng đủ nhu cầu về kiến thức chuyên sâu Cần thiết phải tạo ra môi trường giao lưu cho sinh viên, giúp họ học hỏi từ doanh nhân và trải nghiệm thực tế trong hoạt động kinh doanh.

Các ấn phẩm kinh tế và kinh doanh về khởi nghiệp cần đa dạng hơn để truyền cảm hứng cho sinh viên, khuyến khích họ sáng tạo và dám theo đuổi ý tưởng của mình.

Môi trường Internet cung cấp nhiều thông tin hữu ích cho sinh viên khởi nghiệp, đặc biệt qua các Group Facebook chia sẻ kiến thức thực tế về nông nghiệp, kỹ thuật mới và xu hướng phát triển toàn cầu Tuy nhiên, các Group này thường hoạt động tự phát, do đó cần có sự quản lý từ các cơ quan nhà nước để đảm bảo tính chính thống và giảm thiểu rủi ro lừa đảo cho sinh viên.

2 2 Khuyến nghị với các trường Đại học, Cao đẳng

Môi trường giáo dục tinh thần khởi nghiệp đóng vai trò quan trọng, đứng thứ hai trong 6 yếu tố ảnh hưởng với Beta = + 0,313 Các trường Đại học và Cao đẳng cần trang bị cho sinh viên kiến thức kinh doanh thiết yếu, giúp họ đánh giá cơ hội và phát triển kỹ năng cần thiết để biến ý tưởng kinh doanh thành hiện thực.

Các trường Đại học cần trang bị cho sinh viên những kỹ năng mềm thiết yếu như kỹ năng lãnh đạo, giao tiếp, thương lượng và làm việc nhóm, vì đây là những kỹ năng quan trọng trong quá trình khởi nghiệp Bên cạnh đó, việc cung cấp kiến thức chuyên môn về quản trị kinh doanh, quản trị tài chính và quản trị chuỗi cũng rất cần thiết để sinh viên có thể thành công trong sự nghiệp.

Để nâng cao chất lượng đào tạo, cần chú trọng đến thực hành và vận dụng kiến thức, đồng thời cần có giảng viên có kinh nghiệm thực tế và kiến thức sâu rộng Đặc điểm tính cách là yếu tố quan trọng, đứng thứ ba trong 6 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển doanh nhân, với hệ số Beta = +0,288 Tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm rèn luyện tính cách và tố chất của doanh nhân, bao gồm việc tăng cường các hoạt động thực tiễn và phát triển kỹ năng mềm.

Các cơ sở giáo dục, bao gồm cả Đại học, Cao đẳng và các cấp phổ thông, cần phối hợp chặt chẽ với gia đình để phát triển cho thanh thiếu niên những phẩm chất như độc lập, sáng tạo và khả năng chấp nhận rủi ro.

Thái độ của sinh viên đối với khởi nghiệp nông nghiệp tại Hà Nội có ảnh hưởng đáng kể đến ý định khởi nghiệp, với hệ số Beta = +0,070 Do đó, các cơ sở giáo dục cần hợp tác với doanh nghiệp để tạo ra môi trường thực tế, giúp sinh viên hiểu rõ hơn về công việc của doanh nhân và những đóng góp của họ cho xã hội Mặc dù sinh viên có thể tiếp thu kiến thức qua lý thuyết, sách báo hay truyền hình, nhưng việc trải nghiệm thực tế và tiếp xúc với doanh nhân là điều cần thiết Kể từ những năm 2000, nhà nước Việt Nam đã nhận ra vai trò quan trọng của doanh nhân trong phát triển kinh tế, thông qua các chương trình truyền hình vinh danh những doanh nhân và doanh nghiệp thành công, từ đó nâng cao giá trị nghề doanh nhân và khuyến khích giới trẻ theo đuổi các ngành học kinh tế.

Từ năm 2003 đến 2004, chúng ta đã chứng kiến sự thay đổi rõ rệt trong các kỳ thi Đại học, đặc biệt là tại các trường kinh tế Số lượng thí sinh đăng ký vào các ngành kinh tế tăng cao, với điểm trúng tuyển cũng dần cao hơn, thậm chí vượt xa các trường kỹ thuật Điều này phản ánh sự ảnh hưởng mạnh mẽ của thái độ khởi nghiệp trong giới trẻ Do đó, nhà nước và các trường học cần phát huy hơn nữa các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp.

56 vậy và không ngừng đổi mới để các chương trình này ngày càng sống động và thiết thực hơn

Để trở thành doanh nhân thành công, sinh viên cần phát triển các tố chất như sáng tạo, khả năng chịu áp lực và chấp nhận rủi ro Những tố chất này sẽ giúp họ dễ dàng thích ứng với môi trường khởi nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp Do đó, sinh viên nên tích lũy và rèn luyện những đặc tính này, đồng thời làm quen với công việc có áp lực cao Việc nâng cao hiểu biết thực tiễn cũng rất quan trọng để đánh giá tính khả thi của các ý tưởng khởi nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu đã giải quyết được mục tiêu đề ra, tuy nhiên các hạn chế là không tránh khỏi, gồm các yếu tố sau:

Nghiên cứu này chỉ khảo sát 320 sinh viên năm cuối từ 4 trường Đại học, bao gồm Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Trường ĐH Lâm nghiệp, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân và Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường Hà Nội Số lượng sinh viên tham gia còn hạn chế và số trường được khảo sát cũng không nhiều.

Nghiên cứu này chỉ giải thích được 66,658% sự biến thiên của Ý định khởi nghiệp nông nghiệp, cho thấy vẫn còn một phần lớn chưa được lý giải Điều này mở ra khả năng tồn tại các yếu tố chưa được phát hiện Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc khám phá và bổ sung các nhân tố khác để hoàn thiện hơn về vấn đề này.

Ngày đăng: 27/09/2021, 08:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP, xuất khẩu và tạo việc làm - LUAN VAN NEW
Bảng 1.1. Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP, xuất khẩu và tạo việc làm (Trang 11)
Hình 1.1. Mô hình thuyết hành vi dự định TPB - LUAN VAN NEW
Hình 1.1. Mô hình thuyết hành vi dự định TPB (Trang 20)
Hình 1.2. Thuyết sự kiện khởi nghiệp - SEE - LUAN VAN NEW
Hình 1.2. Thuyết sự kiện khởi nghiệp - SEE (Trang 21)
Hình 1.5. Mô hình nghiên cứ uý định khởi nghiệp của Francisco Linan và cộng sự  - LUAN VAN NEW
Hình 1.5. Mô hình nghiên cứ uý định khởi nghiệp của Francisco Linan và cộng sự (Trang 23)
Hình 1.8. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ Cần Thơ  - LUAN VAN NEW
Hình 1.8. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ Cần Thơ (Trang 25)
Hình thành đội ngũ x - LUAN VAN NEW
Hình th ành đội ngũ x (Trang 26)
1.4.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất - LUAN VAN NEW
1.4.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất (Trang 29)
Hình 2.1. Mô hình nghiên cứu - LUAN VAN NEW
Hình 2.1. Mô hình nghiên cứu (Trang 31)
Bảng 2.1. Thang đo đặc điểm tính cách - LUAN VAN NEW
Bảng 2.1. Thang đo đặc điểm tính cách (Trang 34)
Hình 3.3. Mô tả mẫu theo trường học - LUAN VAN NEW
Hình 3.3. Mô tả mẫu theo trường học (Trang 39)
Hình 3.4. Mô tả mẫu theo ngành học - LUAN VAN NEW
Hình 3.4. Mô tả mẫu theo ngành học (Trang 40)
Bảng 3.1. Tổng hợp thống kê mô tả mẫu - LUAN VAN NEW
Bảng 3.1. Tổng hợp thống kê mô tả mẫu (Trang 41)
Bảng 4.2. Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo Đặc điểm tính cách - LUAN VAN NEW
Bảng 4.2. Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo Đặc điểm tính cách (Trang 42)
Bảng 3.3. Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo Thái độ khởi nghiệp - LUAN VAN NEW
Bảng 3.3. Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo Thái độ khởi nghiệp (Trang 42)
Bảng 3.4. Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo Chuẩn chủ quan - LUAN VAN NEW
Bảng 3.4. Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo Chuẩn chủ quan (Trang 43)
Bảng 3.6. Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo Tiếp cận tài chính - LUAN VAN NEW
Bảng 3.6. Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo Tiếp cận tài chính (Trang 44)
Bảng 3.7. Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo Môi trường giáo dục - LUAN VAN NEW
Bảng 3.7. Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo Môi trường giáo dục (Trang 45)
Bảng 3.14. Bảng ma trận tương quan giữa các biến - LUAN VAN NEW
Bảng 3.14. Bảng ma trận tương quan giữa các biến (Trang 50)
3.5.1. Đánh giá độ phù hợp của mô hình - LUAN VAN NEW
3.5.1. Đánh giá độ phù hợp của mô hình (Trang 50)
Hình 3.6. Biểu đồ tần số P - LUAN VAN NEW
Hình 3.6. Biểu đồ tần số P (Trang 52)
Hình 3.5. Biểu đồ tần số phần dư chuẩn hóa - LUAN VAN NEW
Hình 3.5. Biểu đồ tần số phần dư chuẩn hóa (Trang 52)
Hình 3.7. Đồ thị phân tán giữa giá trị dự đoán và phần dư từ hồi quy - LUAN VAN NEW
Hình 3.7. Đồ thị phân tán giữa giá trị dự đoán và phần dư từ hồi quy (Trang 53)
Bảng 3.17. Bảng thống kê phân tích các hệ số hồi quy - LUAN VAN NEW
Bảng 3.17. Bảng thống kê phân tích các hệ số hồi quy (Trang 53)
Bảng 3.19. Bảng thống kê mô tả theo giới tính - LUAN VAN NEW
Bảng 3.19. Bảng thống kê mô tả theo giới tính (Trang 56)
Bảng 3.21. Bảng thống kê mô tả theo quê quán - LUAN VAN NEW
Bảng 3.21. Bảng thống kê mô tả theo quê quán (Trang 57)
Bảng 3.22. Kết quả kiểm định T-test mẫu độc lập với quê quán - LUAN VAN NEW
Bảng 3.22. Kết quả kiểm định T-test mẫu độc lập với quê quán (Trang 57)
Hình 3.9. Sự khác nhau về ý định khởi nghiệp nông nghiệp giữa sinh viên các trường  - LUAN VAN NEW
Hình 3.9. Sự khác nhau về ý định khởi nghiệp nông nghiệp giữa sinh viên các trường (Trang 59)
Bảng 3.26. Bảng kiểm định ANOVA với các ngành học - LUAN VAN NEW
Bảng 3.26. Bảng kiểm định ANOVA với các ngành học (Trang 60)
15 Các chương trình truyền hình, sách báo đã tạo cảm - LUAN VAN NEW
15 Các chương trình truyền hình, sách báo đã tạo cảm (Trang 78)
w