Kinh tế Thiệu Hoá trong thời kỳ đổi mới (1996 2000) 26 2.1 Chủ trương phát triển kinh tế của Đảng bộ và chính quyền huyện Thiệu Hóa
Thiệu Hoá đẩy mạnh phát triển kinh tế trong thời kỳ
Giai đoạn 2000 2005
Trong giai đoạn này, nền kinh tế tiếp tục phát triển đúng hướng với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 8%, vượt chỉ tiêu Đại hội XVI Nông nghiệp tăng 7,8%, công nghiệp và xây dựng tăng 11,4%, trong khi dịch vụ thương mại tăng 7,5% Cơ cấu kinh tế gồm nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ thương mại lần lượt chiếm 55%, 17% và 28% Thu nhập bình quân đầu người đạt 5 triệu đồng/năm, góp phần cải thiện đời sống nhân dân và làm cho diện mạo nông thôn ngày càng khang trang và đổi mới.
3.2.1.1 Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Ngư nghiệp
Tiếp tục thực hiện phương châm mới, phát triển nông nghiệp được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế Các cấp ủy Đảng và chính quyền đang tập trung lãnh đạo, chỉ đạo để phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa Điều này bao gồm việc đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng và vật nuôi nhằm tạo động lực cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ.
XVI Trong 5 năm (2000 ), Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã xây dựng và tập trung chi đạo nhiều chương trình phát triển kinh tế như: chương trình lúa lai, dâu tằm, tơ, mở rộng vụ đông, vụ chiêm xuân, phát triển kinh tế trang trại, xây dựng cánh đồng 50 triệu/ha/năm Diện tích lúa lai vụ chiêm xuân hàng năm đạt 70% vụ mùa đã cơ cấu 60% lúa mùa sớm để dành quỹ đất cho vụ đông, hàng năm đã gieo trồng gần 5.000 ha cây màu vụ đông, trong đó có 3.600 ha ngô lai Đã tổ chức sản xuất thành công giống lúa lai F1, các cây trồng có giá tri kinh tế cao như : ớt, đậu tương, dưa bao tử… được đưa vào trồng ở nhiều cơ sở Thiệu Hoá là một trong những huyện có năng suất sản lượng lúa và bình quân lương thực đầu người đứng hàng đầu của tỉnh
Năm 2005, tổng sản lượng lương thực đạt 129.000 tấn, tăng 33.000 tấn so với năm 2000, vượt chỉ tiêu Đại hội XVI 19.000 tấn Giá trị thu nhập bình quân trên 1 ha canh tác đạt 29 triệu đồng, vượt chỉ tiêu 4 triệu đồng Để phát triển chăn nuôi thành ngành sản xuất chính, Huyện ủy đã ban hành Nghị quyết số 03 và Ủy ban nhân dân huyện đã triển khai các đề án, giữ tốc độ phát triển chăn nuôi ổn định Đàn trâu giảm, trong khi đàn bò sinh sản và bò thịt tăng, với mức tăng bình quân 16-17%/năm Hiện nay, tổng đàn trâu là 2.500 con và đàn bò là 29.650 con, trong đó có 6.789 con bò lai sin và 72 con bò lấy sữa Đàn lợn cũng tăng, đạt tổng số 72.000 con, tăng 3.000 con so với năm 2000 Chăn nuôi cá nước ngọt phát triển mạnh tại các xã Thiệu Tâm, Thiệu Hòa, Thiệu Viên, Thiệu Chính, mang lại hiệu quả kinh tế và tạo thêm việc làm cho người dân.
Huyện ủy và Ủy ban nhân dân huyện đã triển khai 47 vụ phát triển dâu tằm, tơ, duy trì nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ, dệt nhiễu tại nhiều xã, thị trấn, mang lại giá trị kinh tế cao Huyện đã trồng ổn định 600 ha dâu, chủ yếu trên đất bãi, góp phần tăng giá trị nông nghiệp hàng năm lên 7,8% Năm 2005, giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 55% trong tổng thu nhập của huyện, đáp ứng chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVI.
Diện tích lâm nghiệp của huyện hiện chỉ còn 130 ha, chủ yếu tập trung ở các khu vực núi sót và bãi bồi ven sông Chu, sông Mã Tính đến năm 2001, huyện mới chỉ có gần 30 ha rừng trồng, với các loại cây lâm nghiệp chủ yếu là bạch đàn, keo và tràm.
Ngư nghiệp: Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản nước ngọt toàn huyện là 274 ha năm 2000, tăng 352 ha năm 2005, cho sản lượng 675 tấn
Từ năm 2005, khu vực này đã phát triển mạnh mẽ với nhiều loại thủy hải sản như cá mè, cá trôi, cá trắm, cá chép và cá trôi trắng Trên các dòng sông Chu và sông Cầu Chày hiện có 188 lồng, bè nuôi cá Gần đây, một số hộ gia đình cũng đã bắt đầu nuôi baba, ếch và lươn, góp phần đa dạng hóa nguồn thủy sản tại địa phương.
Tính đến 1/7/2005, toàn huyện có 225 trang trại Trong đó 13 trại chăn nuôi, 3 trang trại nuôi thủy sản và 209 trang trại canh nông, lâm thủy sản kết hợp [18]
Tiểu thủ công nghiệp đã duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định, đặc biệt trong năm 2004 và 2005, với sự phát triển đáng kể về số lượng cơ sở sản xuất và giá trị thu nhập Các ngành nghề truyền thống như nuôi tằm ươm tơ, sản xuất cót nan, cót ép, mộc, mây giang xiên, thêu ren, và thêu móc đã được phát triển tại 13 xã, tạo thêm việc làm cho hơn 1.200 người và góp phần nâng cao thu nhập cho cộng đồng.
Tổng giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp năm 2005 đạt 59,6 tỷ đồng, tăng 16,2 tỷ đồng so với năm 2000 Các lĩnh vực sản xuất chủ yếu bao gồm cót nan, cót ép, chế biến lương thực thực phẩm, cùng với sản xuất và khai thác vật liệu xây dựng.
Tỷ trọng tiểu thủ công nghiệp xây dựng chiếm 17% GDP của huyện đạt chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVI [11;6]
3.2.1.3.Ngành dịch vụ thương mại Đây là một ngành có đóng góp không nhỏ trong việc quản lý và lưu thông hàng trên địa bàn huyện, nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, tạo thị trường mới để tiêu thụ nông sản, thực phẩm, đặc biệt là sản phấm có giá trị cao, do quá trình chuyển đổi cây trồng và vật nuôi trong nông nghiệp Trong thời gian này, hoạt động dịch vụ thương mại ngày càng phát triển đa dạng, nhiều hợp tác xã dich vụ nông nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển tiếp tục củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nông thôn Các dịch vụ nông nghiệp, dịch vụ thông tin liên lạc đạt kết quả tốt, đến nay 100% các xã, thị trấn, các cơ quan đơn vị đều có máy điện thoại, đạt bình quân 45 người/1 máy, bước đầu đáp ứng được công tác thông tin liên lạc giữa huyện với các cơ sở và nhu cầu giao tiếp của nhân dân Hoạt động thương mại phát triển khá mạnh với các mặt hàng phong phú cùng với sự ra đời của thị trấn Vạn Hà, cá thị tứ đã và đang được hình thành,phát triển tại nhiều xã: Thiệu Đô, Thiệu Lý, Thiệu Quang, Thiệu Chính….cơ bản đáp ứng được nhu cầu trao đổi hàng hóa và tiêu thụ sản phẩm của nhân dân Tổng giá trị dịch vụ thương mại năm 2005 đạt 210 tỷ, chiếm 28% GDP, vượt chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVI là 3% [10]
Dịch vụ tín dụng ngân hàng đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ với chất lượng tốt Đến năm 2005, giá trị xuất khẩu hàng hóa đạt 5,5 triệu USD, gấp 2,5 lần so với năm 2000 và vượt mục tiêu Đại hội XVI Các sản phẩm chủ yếu trong năm 2005 đều ghi nhận sự tăng trưởng.
Trong giai đoạn 2000-2005, Đảng bộ và nhân dân huyện Thiệu Hóa đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể nhờ vào việc quán triệt và vận dụng sáng tạo các chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước Các cấp ủy Đảng và chính quyền đã đề ra những nghị quyết sát thực, được nhân dân đồng thuận, từ đó tạo ra nội lực cho địa phương Huyện cũng đã tranh thủ sự hỗ trợ đầu tư từ tỉnh, Trung ương và các nguồn lực bên ngoài, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.
Mặc dù Thiệu Hóa đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng vẫn tồn tại một số yếu kém như tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm, chưa đạt chỉ tiêu đề ra Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở một số khu vực diễn ra chậm, trong khi diện tích cây trồng có giá trị kinh tế cao không đồng đều giữa các xã và chưa phát huy hết tiềm năng của huyện Hơn nữa, hiệu quả từ việc xây dựng cánh đồng 50 triệu/ha/năm chưa cao, và hoạt động dịch vụ thương mại vẫn chưa gắn kết với sản xuất, dẫn đến thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp còn hạn chế.
Nguyên nhân của những hạn chế trong lĩnh vực kinh tế chủ yếu do thời tiết không thuận lợi như rét đậm, nắng hạn, và cúm gia cầm Bên cạnh đó, một bộ phận đảng viên và nhân dân chưa nắm vững quan điểm đổi mới của Đảng, dẫn đến tư tưởng bảo thủ và thiếu tính chủ động trong thực hiện nhiệm vụ Để thúc đẩy phát triển kinh tế huyện, cần nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy tiềm năng sẵn có và khắc phục những thiếu sót hiện tại Chỉ có như vậy, kinh tế mới có thể tiến xa hơn trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Bài học kinh nghiệm và một số giải pháp chủ yếu 51
Một số bài học kinh nghiệm
Trong gần 15 năm thực hiện công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa từ 1996 đến 2010, Thiệu Hóa đã đạt được nhiều thắng lợi nhờ vào sự đoàn kết, nhất trí và nỗ lực không ngừng của Đảng bộ cùng các tầng lớp nhân dân Những thành tựu này không chỉ khẳng định sự vươn lên của địa phương mà còn để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho tương lai.
Bài học thứ nhất nhấn mạnh tầm quan trọng của sự đoàn kết và nhất trí trong Đảng cũng như trong quần chúng nhân dân để duy trì ổn định chính trị xã hội Cần tạo ra sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động giữa các ngành, các cấp, cũng như toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của huyện Đồng thời, cần chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ chủ chốt, với tinh thần trách nhiệm cao, chuyên môn vững vàng và phẩm chất đạo đức tốt Đây là yếu tố quyết định để bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững ngay từ cấp xã.
Bài học thứ hai nhấn mạnh rằng đường lối đúng đắn của Đảng là yếu tố quyết định thành công trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa tại địa phương Đường lối chính trị không chỉ là vấn đề cơ bản hàng đầu mà còn là yếu tố tiên quyết ảnh hưởng đến sự thành bại của công cuộc này, cả ở Thiệu Hóa và trên toàn quốc.
Đảng bộ huyện Thiệu Hóa đã sáng tạo trong việc áp dụng các chủ trương, đường lối của Đảng vào thực tiễn địa phương, từ đó xây dựng các chương trình và chính sách phát triển kinh tế xã hội phù hợp Huyện luôn chú trọng tổng kết thực tiễn để từng bước hoàn thiện đường lối phát triển, góp phần nâng cao hiệu quả công nghiệp hóa – hiện đại hóa tại địa phương.
Bài học thứ ba nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nắm bắt thời cơ và phát huy nội lực để khai thác tối đa tiềm năng địa phương trong phát triển kinh tế xã hội Trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa, công nghiệp hóa – hiện đại hóa của dân tộc cần phải kết hợp giữa việc phát triển nội lực và tận dụng nguồn lực bên ngoài Để đạt được hiệu quả trong quá trình này, chúng ta cần chủ động nắm bắt mọi cơ hội, từ đó thúc đẩy công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa ngày càng phát triển và đạt kết quả cao.
Bài học thứ 4 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đổi mới cơ chế chính sách nhằm thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế và hạ tầng kỹ thuật Cần mạnh dạn triển khai và nhân rộng các mô hình kinh tế tiên tiến, đồng thời giám sát chặt chẽ việc thực hiện các dự án đầu tư và các chỉ tiêu kinh tế để kịp thời phản ánh những mất mát và hao hụt tài sản của nhân dân và Nhà nước.
Những bài học kinh nghiệm ban đầu trong sự nghiệp đổi mới theo chủ trương của Đảng đã giúp Đảng bộ và nhân dân Thiệu Hóa phát huy thế mạnh, tiềm năng và khắc phục khó khăn Đến năm 2010, họ đã nỗ lực theo kịp thời kỳ mới của đất nước, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.
Để hướng tới công nghiệp hóa - hiện đại hóa, Thiệu Hóa cần kiên định và đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện, nhằm ổn định tình hình và thúc đẩy sự phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân.
Một số giải pháp
Để thực hiện đường lối công nghiệp hóa – hiện đại hóa, cán bộ và nhân dân Thiệu Hóa đã nỗ lực hoàn thành và vượt chỉ tiêu đề ra, với kinh tế phát triển toàn diện, cơ sở vật chất được tăng cường, và đời sống nhân dân từng bước được cải thiện Văn hóa xã hội phát triển lành mạnh, chính trị ổn định, và an ninh quốc phòng được giữ vững Để tiếp tục phát huy truyền thống quê hương và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, Thiệu Hóa cần chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ, cải thiện thu nhập và đời sống nhân dân, đồng thời củng cố quốc phòng an ninh Việc phát huy tiềm năng sẵn có và sử dụng hiệu quả các nguồn lực là rất quan trọng, và chính sách huyện cần phù hợp với điều kiện thực tế để đạt được những thắng lợi lớn hơn.
Dựa trên định hướng của Huyện ủy và điều kiện thực tế, Thiệu Hóa cần áp dụng các biện pháp phù hợp để phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn hiện nay Đại hội Đảng bộ lần thứ XVII đã đưa ra những giải pháp cần thiết để thực hiện mục tiêu này.
Cần tiến hành quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cho huyện, từ đó xây dựng kế hoạch phát triển cụ thể cho từng vùng và cơ sở Đồng thời, tiếp tục thúc đẩy phát triển các thị tứ để nâng cao chất lượng sống và thu hút đầu tư.
Việc vận động nhân dân dồn điền, đổi thửa nhằm phát triển các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng làng nghề và trang trại theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa là giải pháp quan trọng Giải pháp này không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn đảm bảo sự phát triển bền vững cho nền kinh tế xã hội của huyện.
Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả Mục tiêu là phát triển nền kinh tế với tốc độ cao, chất lượng và bền vững.
Xây dựng nông thôn mới theo hướng sản xuất hóa, công nghệ cao và bền vững là mục tiêu quan trọng, nhằm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Cần tập trung phát triển hạ tầng kinh tế – xã hội nông thôn để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đồng thời, thúc đẩy sản xuất hàng hóa, tổ chức các hình thức sản xuất phù hợp nhằm tăng hiệu quả, sức cạnh tranh sản phẩm và nâng cao thu nhập cho nông dân Ngoài ra, xây dựng nông thôn với đời sống văn hóa, tinh thần phong phú và bảo vệ môi trường nông thôn cũng là những yếu tố cần thiết trong quá trình phát triển.
Trong giai đoạn 2010-2015, mục tiêu phát triển công nghiệp hướng tới công nghiệp hóa với tỷ lệ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân hàng năm đạt 7,5% Để đảm bảo sự phát triển bền vững, cần tăng cường tập huấn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và đưa giống mới có chất lượng cao vào sản xuất, đồng thời bảo vệ cảnh quan môi trường và cải tạo môi sinh.
Để thúc đẩy phát triển nông nghiệp, cần xây dựng hệ thống tư vấn thông tin kinh tế kỹ thuật, thiết lập cơ chế phù hợp và phát triển các điểm dịch vụ vật tư nông nghiệp Đồng thời, tăng cường mối liên hệ với các cơ quan nghiên cứu khoa học kỹ thuật và đẩy mạnh công tác đào tạo, dạy nghề cho người lao động trong ngành.
Tập trung vào thâm canh lúa, mục tiêu đến năm 2013 là xây dựng vùng thâm canh lúa năng suất cao với diện tích ổn định 14.000 ha, đạt tổng sản lượng lương thực 120.000 tấn Chuyển đổi đất trồng lúa khó khăn về nước tưới sang trồng cây công nghiệp, cây xuất khẩu có giá trị cao Đồng thời, chuyển đổi đất sâu trũng, năng suất lúa thấp sang nuôi trồng thủy sản và phát triển kinh tế trang trại Đẩy mạnh sản xuất vụ đông với các loại cây có giá trị kinh tế cao, phát triển cây công nghiệp ngắn ngày trên vùng đất thuận lợi và mở rộng diện tích rau thực phẩm, ổn định diện tích dâu tằm 400 ha.
Để nâng cao hiệu quả chăn nuôi, cần chuyển đổi từ chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ sang hình thức chăn nuôi trang trại và gia trại, đồng thời chú trọng công tác phòng chống dịch bệnh Mục tiêu là tăng cường chăn nuôi thâm canh và bán thâm canh, đạt giá trị sản xuất thủy sản tăng trưởng từ 10% mỗi năm trở lên.
Để phát triển công nghiệp và xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, cần thực hiện hiệu quả các cơ chế và chính sách, đồng thời huy động và sử dụng nguồn lực đầu tư một cách hợp lý, hướng tới sự đồng bộ và hiện đại.
Phấn đấu tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng thời kỳ
Từ năm 2011 đến 2015, tỷ lệ mở rộng sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đạt 22,5% Mục tiêu là phát triển ngành thủ công mới và phấn đấu có 30% số xã có làng nghề Chúng ta cần tập trung vào các sản phẩm có lợi thế về nguyên liệu và khả năng cạnh tranh, như may mặc, tơ tằm, vật liệu xây dựng, sản xuất thủ công mỹ nghệ, cót nan, cót ép, mộc dân dụng, mây tre đan, chế biến nông sản và sản xuất thức ăn gia súc Lãnh đạo và chỉ đạo cần được tập trung để đạt được những mục tiêu này.
Quy hoạch các khu công nghiệp trên địa bàn huyện đến năm 2020 nhằm phát triển công nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, nâng cao thu nhập và đời sống nhân dân Hình thành hoàn chỉnh cụm công nghiệp Thiệu Dương, Thiệu Đô và cụm làng nghề Thiệu Trung để hoạt động hiệu quả Huyện sẽ phối hợp với các cơ sở, ngành liên quan của tỉnh để tạo điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư từ các tổ chức và cá nhân, ưu tiên các dự án tạo nhiều việc làm và sử dụng lao động tại chỗ.
Tỉnh đã tận dụng các nguồn vốn từ Trung ương và các thành phần kinh tế để đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật và xã hội, bao gồm điện, giao thông, thủy lợi, và các công trình công cộng Đến năm 2015, 100% đường liên thôn, liên xã được rải nhựa và bê tông hóa, cùng với 100% đường thôn xóm cũng được bê tông hóa Các công trình cấp nước tưới đã được tu sửa và nâng cấp, hoàn thành việc kiên cố hóa kênh mương nội đồng, và nâng cấp nhà máy nước sạch tại thị trấn Vạn.
Hà và có thêm 3 nhà máy nước sạch khởi công xây dựng, tỷ lệ đô thị hóa 15%
Thứ tư, đẩy nhanh tốc độ phát triển các dịch vụ:
Ngành dịch vụ đang phát triển nhanh chóng và đa dạng, góp phần tạo ra nhiều việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mục tiêu là tăng giá trị sản xuất của các ngành dịch vụ hàng năm lên 15,7% Đến năm 2015, giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ đạt 10 triệu USD.