Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
- Phương pháp liệt kê: Liệt kê các quy định của pháp luật quy định về vấn đề đăng kí kết hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014.
- Phương pháp so sánh: So sánh sự khác nhau về tình hình thực tiễn kết hôn và đăng kí kết hôn giữa các năm
Phương pháp phân tích được áp dụng trong bài viết này là nghiên cứu chi tiết về quy trình kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND phường Quyết Thắng Bài viết cũng sẽ phân tích tình hình đăng ký kết hôn của phường qua các năm, từ năm 1998 đến 2018, nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về xu hướng và sự thay đổi trong hoạt động này.
- Phương pháp tổng hợp: Sau khi nghiên cứu các vấn đề được triển khai và đưa ra kết luận cho từng vấn đề.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là:
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề kết hôn và đăng kí kết hôn tại UBND phường Quyết Thắng ;
- Chỉ ra những quy định trong pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện việc đăng kí kết hôn của phường Quyết Thắng ;
- Đưa ra các giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện công tác vận động đăng kí kết hôn tại địa phương một cách hiêu quả.
Ngoài phần mở đầu, mục lục và kết luận, bố cục nội dung của đề tài gồm có 3 chương:
Chương I: Tổng quan về UBND phường Quyết Thắng
Chương II: Cơ sở lý luận kết hôn và đăng ký kết hôn
Chương III: Thực tiễn về việc xác định điều kiện kết hôn tại UBND phường Quyết Thắng.
CHƯƠNG ITỔNG QUAN VỀ UBND PHƯỜNG QUYẾT THẮNG
QUAN VỀ UBND PHƯỜNG QUYẾT THẮNG
Điều kiện kinh tế và xã hội
Trước ngày 16/3/1975, phường Quyết Thắng, trước đây gọi là Làng Trung Lương, có nền kinh tế kém phát triển với người Ba Na chủ yếu làm nông nghiệp Họ trồng lúa, mì bắp và canh tác ở nương rẫy bằng công cụ sản xuất thô sơ, dẫn đến năng suất cây trồng thấp và vẫn còn nhiều tàn tích của nền kinh tế tự túc Nông nghiệp chủ yếu dựa vào lúa cạn và hoa màu trên đất rẫy ven sông Đak Bla, với ruộng nước chỉ trồng được một vụ trong năm Về chăn nuôi, gia súc và gia cầm được nuôi theo cách thả rông, trong khi nghề thủ công như dệt vải và rèn nông cụ phục vụ cho sinh hoạt gia đình Người Kinh có cách làm ăn khá hơn, tập trung vào nông nghiệp với quy mô đất rộng và tư liệu sản xuất hiện đại hơn, cũng như kinh doanh ở chợ Kon Tum, giúp cải thiện đời sống kinh tế, mặc dù vẫn chịu ảnh hưởng của thực dân phong kiến và Mỹ.
- Diệm kìm hãm, hạn chế nên cũng không phát triển.
Làng Trung Lương, hiện nay là phường Quyết Thắng, từng là nơi tiêu thụ hàng hóa từ nước ngoài và các tỉnh khác, phụ thuộc vào nền kinh tế chiến tranh của thực dân và đế quốc Người dân và các dân tộc tại đây bị kìm hãm trong nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, với công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp gần như không tồn tại, trong khi dịch vụ và thương mại chủ yếu là buôn bán nhỏ lẻ và manh mún.
Giai đoạn 1913 đến trước ngày 16/3/1975, dưới sự kiểm soát của chính quyền thực dân Pháp và Mỹ - Ngụy, mặc dù có sự phát triển về hạ tầng, công nghiệp và thương mại, nhưng mọi hoạt động đều nhằm phục vụ lợi ích của thực dân Người dân Làng Trung Lương không chỉ bị tước đoạt đất đai mà còn phải chịu đựng gánh nặng thuế và lao động khổ sai, dẫn đến tình trạng đói nghèo, cuộc sống ngày càng khó khăn hơn.
Ngày 16/3/1975, phường Quyết Thắng được thành lập và bắt đầu hành trình khôi phục kinh tế sau chiến tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính quyền Từ những khó khăn ban đầu, phường đã tập trung sản xuất, phát triển nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, đặc biệt từ khi thực hiện đường lối đổi mới (1986) và sau khi tái lập tỉnh Kon Tum (1991) Kinh tế phường Quyết Thắng đã phục hồi nhanh chóng với tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt từ 18% - 20%, cơ sở hạ tầng được cải thiện đáng kể, 100% đường nội thị được thảm nhựa và bê tông hóa Thương mại, dịch vụ và du lịch phát triển đa dạng, đáp ứng nhu cầu của người dân, với thu ngân sách tăng cao (18 tỷ đồng năm 2010) Chất lượng y tế, giáo dục và văn hóa được nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 0,53% vào cuối năm 2013, trong khi thu nhập bình quân đầu người ổn định ở mức 40.000.000 đồng/năm Những thành tựu này tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững của phường Quyết Thắng trong tương lai.
Cộng đồng dân tộc Ba Na (Bahnar) và Sédang sinh sống trong các làng, nơi thể hiện tổ chức xã hội truyền thống độc đáo Sự gắn kết của làng được xây dựng trên mối quan hệ họ hàng chặt chẽ, tinh thần bộ tộc và truyền thống tự quản Người dân trong làng tự nguyện liên kết với nhau vì lợi ích chung của cộng đồng.
Sau khi tỉnh Kon Tum được thành lập vào năm 1913, chính quyền thực dân đã áp dụng những biện pháp cai trị xa lạ với nền tảng dân chủ và cơ chế tự quản của xã hội truyền thống Điều này đã gây ra sự xáo trộn trong đời sống xã hội và hoạt động kinh tế của các Làng Ba Na (Bahnar) và Sédang, nhằm mục đích phá vỡ cộng đồng làng và khối đại đoàn kết, đồng thời xóa bỏ nền văn hóa cổ truyền của các dân tộc Mặc dù có những biến đổi nhất định, nhưng các Làng vẫn tồn tại cho đến ngày nay.
Nền văn hóa cổ truyền của người Ba Na (Bahnar) và Sédang ở phường Quyết Thắng, mặc dù bị mai một, vẫn tồn tại mạnh mẽ qua âm nhạc, ca múa, hoa văn trang trí và phong tục tập quán, đặc biệt là lễ hội cồng chiêng Người Sédang đã tích lũy kho tàng tri thức dân gian phong phú, thể hiện qua cách định thời gian theo lịch trăng để tổ chức trồng trọt và sắp xếp công việc hàng ngày dựa vào vị trí của mặt trời Văn hóa dân gian của họ nổi bật trong văn học, nghệ thuật và lễ hội, trong khi tín ngưỡng cổ truyền của người Ba Na với quan niệm "Vạn vật hữu linh" và thế giới đa thần đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo, giúp cộng đồng Làng duy trì sức sống bền lâu cho đến ngày nay.
Cộng đồng người Kinh tại phường Quyết Thắng, khi di cư đến Làng Trung Lương, đã hình thành các xóm riêng biệt như xóm Lò Kèn, xóm Trung Lương, xóm Huế, xóm Cá và xóm Võ Lâm Tại đây, lối sống và nếp sinh hoạt của người Kinh vẫn giữ vững những đặc trưng của các làng quê đồng bằng, hòa quyện cùng không gian sống lâu đời của các dân tộc bản địa.
Hầu hết các làng trong khu vực này theo đạo Phật, chiếm khoảng 75%, trong khi số còn lại theo đạo Thiên Chúa Các làng theo đạo Phật thường góp công xây dựng những ngôi chùa như Chùa Linh Sơn Tự và Chùa Tỉnh hội Ngược lại, các làng theo đạo Thiên Chúa đều có nhà thờ hoặc nhà vuông để sinh hoạt tín ngưỡng, ví dụ như nhà thờ Võ Lâm, hiện nằm trong phường Quang Trung Đối với những làng không theo đạo, Đình làng như đình Trung Lương và đình Võ Lâm được xây dựng làm nơi thờ cúng.
Tổ chức Làng tại phường Quyết Thắng vẫn giữ vai trò quan trọng trong cấu trúc xã hội của các dân tộc, tạo sự gắn kết giữa các thành viên trong cộng đồng Mọi người sống trong tình yêu thương gia đình và láng giềng, duy trì các giá trị văn hóa - xã hội truyền thống bên cạnh các thiết chế mới Già làng, với uy tín cao, luôn là người đại diện cho dân làng trong các Làng thuần nhất, trong khi ở các làng người Kinh, cơ cấu tổ chức được phân chia rõ ràng với các chức vụ như lý trưởng, phó lý, và các thành viên khác.
Trong xã hội làng, tồn tại hai tầng lớp chủ yếu: quần chúng lao động và tầng lớp thượng lưu Dưới thời phong kiến và thực dân, cơ cấu xã hội này đã trải qua nhiều biến đổi, dẫn đến việc tầng lớp quần chúng lao động, mặc dù chiếm số đông tuyệt đối, ngày càng rơi vào tình trạng nghèo khổ và bị bóc lột.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của UBND phường Quyết Thắng
Bộ máy này thực hiện các nhiệm vụ và hoạt động của cơ sở, đảm bảo các quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước được thực hiện đúng đắn tại địa phương Mục tiêu là xây dựng xã hội có nền kinh tế phát triển và đời sống văn hóa xã hội phong phú, lành mạnh theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Dưới đây là sơ đồ cơ cấu tổ chức của UBND phường quyết thắng:
1 an ờng Ban Quân sự
1.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của UBND phường Quyết Thắng
Theo sơ đồ, mỗi bộ phận và ban ngành đều đảm nhận những chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể Sự liên kết và điều hành giữa các bộ phận diễn ra theo một hệ thống nhất định.
Nội quy, quy chế làm việc của UBND phường Quyết Thắng
Dưới đây là nội quy, quy chế làm việc tại UBND phường Quyết Thắng
1 Ủy ban nhân dân phường làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy vai trò tập thể, đề cao trách nhiệm cá nhân và tinh thần chủ động, sáng tạo của Chủ tịch,
Phó Chủ tịch và các ủy viên Ủy ban nhân dân phường được giao nhiệm vụ rõ ràng, mỗi người chỉ phụ trách một lĩnh vực cụ thể và chịu trách nhiệm chính về công việc của mình Mỗi thành viên đều có trách nhiệm cá nhân đối với nhiệm vụ được phân công, đảm bảo sự hiệu quả trong quản lý và điều hành.
2 Chấp hành sự chỉ đạo, điều hành của cơ quan nhà nước cấp trên, sự lãnh đạo của Đảng ủy, sự giám sát của Hội đồng nhân dân phường; phối hợp chặt chẽ giữa Ủy ban nhân dân phường với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cùng cấp trong quá trình triển khai thực hiện mọi nhiệm vụ.
3 Giải quyết các công việc của công dân và tổ chức theo đúng pháp luật, đúng thẩm quyền và phạm vi trách nhiệm; bảo đảm công khai, minh bạch, kịp thời và hiệu quả; theo đúng trình tự, thủ tục, thời hạn quy định và Chương trình, kế hoạch công tác của Ủy ban nhân dân phường.
4 Cán bộ, công chức phải sâu sát cơ sở, lắng nghe mọi ý kiến đóng góp của nhân dân, có ý thức học tập để nâng cao trình độ, từng bước đưa hoạt động của Ủy ban nhân dân phường ngày càng chính quy, hiện đại, vì mục tiêu xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh, nâng cao đời sống nhân dân.
Khái quát về quá trình thực tập
Trường Đại học Đà Nẵng Phân hiệu tại Kon Tum đã thông báo tổ chức cho sinh viên đi thực tập từ ngày 10/02/2020 đến 10/05/2020 Tôi đã liên hệ và được sự đồng ý của nhà trường cũng như UBND phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum để thực tập Mục tiêu của tôi là nâng cao khả năng áp dụng kiến thức đã học, đặc biệt là kỹ năng chuyên môn về pháp luật vào thực tế công việc.
Đề tài em chọn là Đăng ký kết hôn, như đã nêu ở phần mở đầu Để làm rõ các vấn đề liên quan đến Đăng ký kết hôn và thực tiễn tại UBND phường Quyết Thắng từ khi thành lập đến nay, em sẽ trình bày chi tiết hơn ở chương 2 và chương 3 của đề tài.
SỞ LÝ LUẬN KẾT HÔN VÀ ĐĂNG KÝ KẾT HÔN
Lược sử hình thành kết hôn, khái niệm kết hôn và đăng kí kết hôn
2.1.1 Lược sử hình thành kết hôn theo quy định pháp luật Việt Nam
Lịch sử Việt Nam trải qua nhiều hình thái xã hội, bắt đầu từ Công xã Nguyên thủy, tiếp theo là chế độ Phong kiến kéo dài hàng nghìn năm, sau đó chuyển sang nửa phong kiến và cuối cùng xây dựng Chủ nghĩa xã hội Mỗi hình thái nhà nước đã tác động đến pháp luật Việt Nam, điều chỉnh các quan hệ xã hội, bao gồm cả quan hệ hôn nhân và gia đình Trong thời kỳ phong kiến, quy định về đăng ký kết hôn phản ánh những giá trị và tập quán của xã hội lúc bấy giờ.
Trước thời kỳ Pháp thuộc, Việt Nam có chế độ quân chủ với quyền lực tập trung vào vua, và xã hội phong kiến có những quan niệm riêng về hôn nhân Các Bộ Luật Hồng Đức (Triều Lê) và Bộ Luật Gia Long (Triều Nguyễn) quy định rằng giấy chứng nhận kết hôn là văn bằng pháp lý quan trọng, xác định quyền và nghĩa vụ của vợ chồng Nếu một hoặc cả hai bên vi phạm các điều cấm sau khi đăng ký kết hôn, hôn nhân sẽ bị coi là vô hiệu và có thể bị tiêu hủy, với các điều cấm được quy định rõ từ Điều 314 đến Điều 339 của Bộ luật Hồng Đức.
Từ năm 1858 đến 1945, Việt Nam trở thành một nước nửa thuộc địa dưới sự cai trị của thực dân Pháp, được chia thành ba miền: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ Trong thời gian này, thực dân Pháp đã áp dụng Bộ luật Dân sự Napolen 1804, quy định về quan hệ hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) trong quyển 1 - về người Bộ luật này bao gồm các quy định về chứng thư, hộ tịch, hôn nhân, ly hôn, và quyền của cha mẹ Để điều chỉnh quan hệ HN&GĐ, thực dân Pháp đã ban hành ba bộ luật tại ba miền: Bộ dân luật giản yếu Nam Kỳ (1883), Bộ dân luật Bắc Kỳ (1931), và Bộ Hoàng Việt Trung Kỳ (1939), trong đó Bộ dân luật Bắc Kỳ nổi bật với việc phản ánh chân thực phong tục tập quán của người Việt, đặc biệt là các quy định về đăng ký kết hôn Để được đăng ký kết hôn, nam và nữ cần tuân thủ một số điều kiện nhất định.
Kết hôn giữa những người thân thích và trực hệ bị cấm theo Điều 74 của Bộ dân luật Bắc Kỳ và Bộ Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật Ngoài ra, Bộ Hoàng Việt Trung Kỳ còn quy định cấm việc kết hôn giữa chồng và con gái riêng của vợ, cũng như giữa vợ góa và con trai riêng của chồng.
Thứ hai, Pháp quy định cấm lấy vợ thiếu nếu chưa lấy vợ chính (Điều 81 Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Điều 79 Bộ Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật)
Chế độ phong kiến ảnh hưởng đến Bộ dân luật Bắc Kỳ và Bộ Hoàng Việt Trung Kỳ với các quy định nghiêm ngặt về hôn nhân Cấm kết hôn khi một trong hai bên đang trong thời gian tang cha hoặc mẹ (27 tháng) Nếu lễ cưới diễn ra trước khi phát tang, hôn nhân vẫn được công nhận Người chồng chỉ có thể tái hôn sau khi hết tang vợ chính (1 năm), trong khi người vợ phải chịu tang chồng 27 tháng trước khi được tái giá Phụ nữ ly hôn chỉ được tái hôn sau 10 tháng kể từ khi ly dị (Điều 84 Bộ Hoàng Việt Trung Kỳ và Bộ dân luật Bắc Kỳ).
Việc kết hôn cần phải đảm bảo sự tự nguyện của cả hai bên nam nữ, đồng thời cũng phải có sự đồng ý từ cha mẹ Điều này được quy định tại Điều 77 của Bộ luật Bắc Kỳ.
Kết hôn cần có sự đồng ý của cha mẹ; nếu mẹ không đồng ý, sự chấp thuận của cha là đủ Trong trường hợp không có cha mẹ hoặc ông bà, người dưới 21 tuổi cần sự đồng ý của người giám hộ để kết hôn Ngoài ra, việc kết hôn có thể bị coi là vô hiệu nếu không được khai báo với cơ quan hộ tịch hoặc hương bộ theo quy định của Bộ luật Bắc Kỳ và Hoàng Việt Trung Kỳ.
Nếu kết hôn xảy ra do nhầm lẫn hoặc cưỡng ép, có thể xin Tòa án cho tiêu hôn Nhầm lẫn được coi là lý do hợp lệ khi người này nhầm lẫn với người khác hoặc bị lừa dối về vị trí vợ chính thức Người có quyền yêu cầu Tòa án tiêu hôn là người bị nhầm lẫn hoặc lừa dối, miễn là họ đã thành niên Đối với trường hợp chưa thành niên, quyền yêu cầu tiêu hôn thuộc về những người có thẩm quyền đồng ý cho hôn nhân đó Nếu hôn nhân không được sự đồng ý của ông bà, cha mẹ, thì họ có quyền xin Tòa án tiêu hôn Quy định về đăng ký kết hôn đã có sự thay đổi từ cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến nay.
Cách mạng tháng Tám đã đánh dấu sự khởi đầu mới cho hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) tại Việt Nam, với việc loại bỏ các phong tục lạc hậu Năm 1959, hai bộ luật HN&GĐ được ban hành: Luật HN&GĐ 1959 của Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và Luật I/59 của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Tiếp theo là Luật HN&GĐ năm 2000 và hiện tại là Luật HN&GĐ năm 2014, trong đó quy định rõ ràng về các điều kiện kết hôn, coi kết hôn trái pháp luật nếu vi phạm những điều kiện đã được đặt ra.
Theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, nam phải từ 20 tuổi trở lên và nữ từ 18 tuổi trở lên mới được phép kết hôn Điều này được quy định nhằm ngăn chặn tình trạng kết hôn sớm và tảo hôn, đặc biệt ở những vùng sâu, vùng xa, nơi có tập quán không lành mạnh, góp phần bảo vệ sức khỏe phụ nữ và giảm thiểu các hậu quả tiêu cực liên quan đến sinh nở quá sớm.
Kết hôn là sự lựa chọn tự nguyện của nam và nữ, không bị ép buộc hay lừa dối, theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 Việc này thể hiện sự tiến bộ trong việc xây dựng gia đình, đảm bảo hạnh phúc, bình đẳng và bền vững.
Người mất năng lực hành vi dân sự (NLHVDS) không được phép kết hôn, vì họ không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình Nếu vào thời điểm đăng ký kết hôn, quyết định tuyên bố của Tòa án về việc mất NLHVDS có hiệu lực, thì việc kết hôn sẽ bị coi là trái pháp luật Quy định này nhằm bảo vệ lợi ích của cả hai bên, ngăn chặn những hậu quả không lường trước do việc kết hôn với người mất NLHVDS có thể gây ra, như tình trạng bạo lực gia đình hoặc thậm chí nguy hiểm đến tính mạng Điều này được quy định tại Điều 22 của Bộ luật Dân sự 2015.
Cấm kết hôn trong một số trường hợp như kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo; tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối trong hôn nhân, và cản trở kết hôn Ngoài ra, không được kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đã có vợ hoặc chồng Các trường hợp cấm khác bao gồm hôn nhân hoặc chung sống giữa những người có quan hệ huyết thống trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời, và giữa cha mẹ nuôi với con nuôi Hơn nữa, những người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, và mẹ kế với con riêng của chồng cũng không được kết hôn với nhau.
Kết hôn phải được đăng ký và thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của luật và pháp luật về hộ tịch Nếu việc kết hôn không được đăng ký theo quy định này, thì sẽ không có giá trị pháp lý.
Sáu là, nhà nước không thừa nhận hôn nhân cùng giới tính.
Luật Hôn nhân và Gia đình (LHN&GĐ) đã trải qua nhiều giai đoạn đổi mới, xóa bỏ chế độ đa thê của thời phong kiến, tạo ra một trang sử mới cho hôn nhân, đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Ý nghĩa của việc đăng ký kết hôn
Đăng ký kết hôn là một thủ tục pháp lý quan trọng, giúp bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi cá nhân trong mối quan hệ hôn nhân Giấy đăng ký kết hôn, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, xác nhận tình trạng hôn nhân của một người.
Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng sẽ có quyền lợi và nghĩa vụ rõ ràng Nếu nam nữ sống chung mà không đăng ký kết hôn, họ sẽ gặp khó khăn trong việc xác định tài sản chung và riêng, cũng như trong việc chứng minh quyền lợi của mình.
Quy định của pháp luật đối với vấn đề kết hôn
Theo Điều 8 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, có những điều kiện bắt buộc phải có và không có để tiến hành hôn nhân Cụ thể, các điều kiện này được quy định tại Khoản 2, Điều 5 của cùng luật.
Thứ nhất, về độ tuổi kết hôn
Theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2014, độ tuổi kết hôn được xác định là nam từ hai mươi tuổi trở lên và nữ từ mười tám tuổi trở lên Quy định này dựa trên sự phát triển tâm sinh lý của con người cùng với các yếu tố kinh tế, văn hóa và xã hội.
Pháp luật hôn nhân và gia đình tại Việt Nam quy định độ tuổi là yếu tố quyết định để xác lập hôn nhân Sự hình thành và phát triển của gia đình cần phải phù hợp với quy luật xã hội, tự nhiên và nhân loại Độ tuổi kết hôn không chỉ ảnh hưởng đến sự tồn tại của gia đình mà còn đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc xã hội, vì gia đình được coi là tế bào của xã hội và là đơn vị kinh tế thiết yếu trong nền kinh tế hiện nay.
Gia đình có chức năng sinh đẻ để duy trì nòi giống, nhưng theo y học hiện đại, nam từ 16 tuổi và nữ từ 13 tuổi có khả năng sinh sản, chưa đủ để đảm bảo sức khỏe cho mẹ và con Độ tuổi này cũng không cho phép phát triển kinh tế gia đình, dẫn đến cuộc sống không đảm bảo cho trẻ Do đó, Luật hôn nhân và gia đình quy định nam phải từ 20 tuổi và nữ từ 18 tuổi trở lên để đảm bảo sức khỏe, trách nhiệm và sự phát triển tốt cho con cái, giúp chúng trở thành công dân có ích cho xã hội.
Độ tuổi kết hôn có vai trò quan trọng trong việc xác lập hôn nhân và đảm bảo sự tồn tại của gia đình Theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, tuổi kết hôn được quy định là độ tuổi tối thiểu mà pháp luật cho phép Khi đạt đến độ tuổi này, nam nữ có thể tham gia lao động để phát triển gia đình và nuôi dạy con cái, từ đó góp phần tạo ra một gia đình hạnh phúc, bền vững Việc lựa chọn độ tuổi kết hôn còn phụ thuộc vào hoàn cảnh, công tác và sở thích của mỗi cá nhân Hiện nay, nhà nước cũng thực hiện các chương trình vận động dân số - kế hoạch hóa gia đình nhằm đảm bảo lợi ích cho gia đình, xã hội và nhân loại.
Thứ hai, sự tự nguyện của hai bên nam nữ khi kết hôn
Việc kết hôn phải được quyết định tự nguyện giữa nam và nữ, không bên nào được ép buộc hay lừa dối bên kia, như quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2014 Điều này đảm bảo hôn nhân có giá trị pháp lý, với sự đồng ý chân thành từ cả hai phía, nhằm xây dựng một cuộc sống gia đình hạnh phúc và bền vững Sự tự nguyện trong việc kết hôn phải tuân thủ pháp luật và điều kiện theo Điều 39 Bộ luật Dân sự, khẳng định rằng nam nữ đủ điều kiện có quyền tự do kết hôn.
Pháp luật quy định sự tự nguyện giữa các bên trong hôn nhân và gia đình là yếu tố then chốt, quyết định sự tồn tại và phát triển của gia đình và xã hội Sự tự nguyện khi kết hôn không chỉ đảm bảo quyền tự do thể hiện ý chí và tình cảm của các bên mà còn góp phần vào sự bền vững của mối quan hệ gia đình Nhà nước khuyến khích tinh thần tự nguyện này, yêu cầu các cặp đôi phải trực tiếp đến UBND để đăng ký kết hôn và không được ký trước vào giấy chứng nhận Luật pháp nghiêm cấm việc kết hôn thông qua người đại diện hoặc khi một bên vắng mặt, nhằm bảo đảm rằng cả nam và nữ đều có thể thể hiện đầy đủ tình cảm và ý chí của mình trong việc kết hôn.
Theo Luật hôn nhân và gia đình 2014, những người mắc bệnh tâm thần không đủ năng lực hành vi dân sự sẽ không được phép kết hôn Luật này nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tự nguyện trong hôn nhân, nhằm loại bỏ chế độ hôn nhân cưỡng ép và phụ thuộc vào cha mẹ, hướng tới một chế độ hôn nhân xã hội chủ nghĩa tiến bộ, với nguyên tắc một vợ, một chồng, bình đẳng và có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong gia đình.
Kết hôn tự nguyện giữa các bên nhằm mục đích xây dựng một gia đình bền vững, ấm no và hạnh phúc Đây là hình thức hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Thứ ba, những trường hợp cấm kết hôn
Theo quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình có quy định
Kết hôn chỉ được thực hiện khi không rơi vào các trường hợp cấm theo quy định tại điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 Các trường hợp cấm kết hôn bao gồm những điều kiện cụ thể mà pháp luật đã quy định.
* Cấm kết hôn đối với người đang có vợ có chồng
Người đang có vợ, có chồng là người đang tồn tại một quan hệ hôn nhân được Nhà nước thừa nhận bao gồm:
- Người đã kết hôn theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và quan hệ hôn nhân đó vẫn đang tồn tại.
- Người chung sống với người khác như vợ chồng từ trước ngày 3/1/1987 và đang chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.
Chỉ những người chưa có vợ, có chồng hoặc đã ly hôn mới được phép kết hôn Việc kết hôn của người đang có vợ, có chồng với người khác, hoặc người chưa có vợ, có chồng với người đã có vợ, có chồng là trái pháp luật Quy định này nhằm bảo đảm nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng, góp phần xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc, xóa bỏ chế độ đa thê và nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội.
* Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn
Tảo hôn là việc kết hôn khi một hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 Quy định này dựa trên nghiên cứu y học về sự phát triển của con người và phù hợp với độ tuổi pháp luật quy định Mặc dù tảo hôn vẫn phổ biến, cần tăng cường tuyên truyền và phổ biến pháp luật để hạn chế tình trạng này Các trường hợp cưỡng ép, lừa dối hoặc cản trở kết hôn bị coi là vi phạm quy định, vì hôn nhân phải thể hiện ý chí tự nguyện của cả hai bên.
* Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời
Những người có quan hệ huyết thống trong cùng dòng máu trực hệ được định nghĩa là những người sinh ra người kế tiếp nhau, theo khoản 17 Điều 3 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Ví dụ về mối quan hệ này bao gồm ông bà với cháu và cha mẹ với con.
Những người có họ trong phạm vi ba đời bao gồm cha mẹ (đời thứ nhất), anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha (đời thứ hai), và anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì (đời thứ ba) Do đó, việc kết hôn giữa những người này bị cấm, cụ thể là cấm kết hôn giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; cấm kết hôn giữa bác, chú, cậu với cháu gái, và giữa bác, cô, dì với cháu trai; cũng như cấm kết hôn giữa anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì.
Nghiên cứu y học cho thấy việc kết hôn gần gũi về huyết thống trong phạm vi trực hệ hoặc ba đời có thể dẫn đến nhiều di chứng cho thế hệ sau, với tỷ lệ mắc bệnh về nhiễm sắc thể và tử vong sau sinh cao Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng dân số và làm suy giảm giống nòi Vì vậy, việc cấm kết hôn giữa những người có mối liên hệ huyết thống trong phạm vi ba đời là cần thiết, nhằm bảo tồn nòi giống, duy trì chức năng gia đình và thúc đẩy sự phát triển xã hội.
TIỄN VỀ XÁC ĐỊNH ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN TẠI UBND PHƯỜNG QUYẾT THẮNG
QUYẾT THẮNG 3.1 Thực tiễn đăng kí kết hôn tại phường Quyết Thắng
Tình trạng hôn nhân tại phường đã có nhiều tiến bộ và phát triển qua các năm, tuy nhiên vẫn tồn tại một số cặp vợ chồng kết hôn vì nhiều nguyên nhân khác nhau.
Công tác tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật về hôn nhân tại phường còn yếu kém, thiếu sự quan tâm từ chính quyền địa phương và nhà nước, dẫn đến nhiều vi phạm Luật hôn nhân và gia đình Việc tổng hợp và theo dõi số liệu kết hôn qua các năm sẽ giúp chúng ta nắm bắt tình hình thực tế, từ đó xác định những giải pháp hiệu quả và phù hợp cho địa phương.
Thực tiễn đăng ký kết hôn tại UBND phường Quyết Thắng cho thấy sự phát triển qua các năm Dựa trên số liệu lưu trữ hồ sơ của cán bộ Tư pháp - Hộ tịch, từ khi thành lập phường, quy trình và số lượng đăng ký kết hôn đã có những thay đổi đáng kể, phản ánh nhu cầu và xu hướng của người dân trong cộng đồng.
Dưới đây là quá trình tổng hợp các số liệu về đăng ký kết hôn qua 20 năm từ năm
1998 đến năm 2018 tại UBND phường Quyết Thắng
Năm Đăng ký kết hôn
Hôn nhân thực tế (Trường hợp)
Tỉ lệ hôn nhân thực tế
3.1 Thực tiễn đăng kí kết hôn của phường Quyết Thắng từ năn 1998 đến 2018
Theo thống kê, việc đăng ký kết hôn tại UBND phường Quyết Thắng có sự biến động rõ rệt qua các năm Năm 1998, chỉ có 99 trường hợp đăng ký kết hôn (nam-nữ), trong khi đó có 10 trường hợp hôn nhân thực tế, chiếm 51,4% - tỷ lệ cao nhất do người dân chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc đăng ký Từ năm 1999 đến 2001, số lượng đăng ký kết hôn tăng dần, trong khi hôn nhân thực tế giảm Từ năm 2002 đến 2018, số người đăng ký kết hôn tiếp tục tăng, và trường hợp hôn nhân thực tế gần như không còn.
Một số cặp vợ chồng sống chung mà không đăng ký kết hôn do thiếu hiểu biết về pháp luật hoặc không nhận được sự đồng thuận từ gia đình Họ có thể rời quê hương để lập nghiệp và chỉ sau khi có con cái mới nhận thức được tầm quan trọng của việc đăng ký kết hôn Tình trạng này dẫn đến việc hình thành hôn nhân thực tế, một vấn đề phổ biến trong xã hội hiện nay.
Dưới sự lãnh đạo kịp thời của Đảng ủy và UBND, cùng với nỗ lực của các ban ngành đoàn thể, công tác tuyên truyền về quy định pháp luật liên quan đến đăng ký kết hôn đã đạt được những chuyển biến tích cực Nhờ đó, tình trạng hôn nhân thực tế giảm, ý thức của người dân được nâng cao, dẫn đến sự gia tăng đáng kể trong việc các cặp vợ chồng thực hiện đăng ký kết hôn theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình trong suốt 20 năm qua.
1998 đến năm 2018 ban Tư Pháp phường đã nỗ lực vận động các cặp vợ chồng đến đăng ký kết hôn với tổng số 2098 trường hợp.
3.2 Một vài thực tế về kết hôn ở UBND phường Quyết Thắng
Anh Phạm Thế Công và Ngô Thanh Thảo, cả hai đều là công dân tại phường Quyết Thắng, đã tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn.
Cán bộ tư pháp yêu cầu anh Phạm Thế Công và chị Thảo cung cấp chứng minh nhân dân và hộ khẩu, sau đó phát tờ khai đăng ký kết hôn cho cả hai Hồ sơ đăng ký kết hôn sẽ được nhận khi anh chị hoàn tất kê khai, và cán bộ Tư pháp - Hộ tịch sẽ tiến hành xem xét Nếu không cần xác nhận tình trạng hôn nhân, cán bộ tư pháp sẽ dựa vào chứng minh nhân dân để xác định độ tuổi của mỗi bên Hộ khẩu cũng được sử dụng để xác định thời gian cư trú tại địa phương, làm cơ sở cho độ tuổi kết hôn.
Sau khi xem xét đầy đủ các điều kiện, cán bộ Tư pháp - Hộ tịch đã tiến hành làm giấy đăng ký kết hôn cho anh Công và chị Thảo, sau đó bàn giao cho chủ tịch UBND phường ký xác nhận Cán bộ tư pháp đã hỏi anh chị về tính tự nguyện trong hôn nhân, và cả hai đã khẳng định rằng họ đến với nhau hoàn toàn tự nguyện Cuối cùng, cán bộ tư pháp đề nghị anh Công và chị Thảo ký vào sổ đăng ký kết hôn và trao giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật.
Anh Nguyễn Thành Nam, sỹ quan quân đội tại phường Quyết Thắng, đã đăng ký kết hôn với chị Đỗ Thị Khánh Hiền, người có hộ khẩu thường trú tại cùng phường.
Anh chị đã đến gặp cán bộ tư pháp xã để làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 điều 27 nghị định 123 CP Cán bộ tư pháp yêu cầu anh Nguyễn Thành Nam và chị Đỗ Thị Khánh Hiền xuất trình giấy chứng minh nhân dân và hộ khẩu để xác định độ tuổi Đối với anh Nam, là sỹ quan quân đội, cần xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân từ thủ trưởng cơ quan quân sự Chị Hiền được phát tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định, vì đã chuyển hộ khẩu đến phường Quyết Thắng trước 17 tuổi, nên không cần xác định tình trạng hôn nhân tại nơi khác.
Sau khi hoàn tất các thủ tục theo hướng dẫn của cán bộ tư pháp, anh Nguyễn Thành Nam và chị Đỗ Thị Khánh Hiền đã nộp hồ sơ Cán bộ tư pháp đã kiểm tra và thực hiện các thủ tục cần thiết, sau đó trình Chủ tịch UBND phường Quyết Thắng ký xác nhận Sau khi nhận được chữ ký, cán bộ hộ tịch đã ghi vào sổ gốc và cấp cho anh Nam và chị Hiền hai giấy chứng nhận kết hôn.
3.3 Những thuận lợi và khó khăn trong việc đăng ký kết hôn tại UBND phường Quyết Thắng
3.3.1 Thuận lợi: Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước cung cấp thông tin về các văn bản pháp luật, nghị quyết, nghị định và các biểu mẫu phục vụ cho cán bộ Tư pháp hộ tịch ở phường hướng dẫn việc đăng ký kết hôn cho người dân Tuy nhiên, cùng với sự lãnh đạo như vậy cán bộ Tư pháp hộ tịch cần phải tích cực hơn nữa, đến tại điểm dân cư sinh sống hướng dẫn, giải thích cho người dân biết về việc đăng ký kết hôn và xây dựng gia đình tiến bộ và bình đẳng Đồng thời cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp các ngành thực hiện nhiệm vụ phổ biến giáo dục pháp luật, hòa giải, giải quyết việc đăng ký hộ tịch cũng như đăng ký kết hôn, nhằm giúp cho công việc của cán bộ Tư pháp hộ tích được triển khai một cách chính xác và hiệu quả mà công việc được cấp trên giao cho.
Công tác đăng ký kết hôn yêu cầu đội ngũ cán bộ Tư pháp hộ tịch tại UBND phường phải có nghiệp vụ vững vàng và tinh thần tận tụy Họ có trách nhiệm hướng dẫn người dân thực hiện đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền trong việc đăng ký kết hôn Để đảm bảo hiệu quả công việc, cán bộ cần có trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức tốt và nề nếp làm việc nghiêm túc, từ đó giúp UBND phường quản lý tình hình đăng ký kết hôn và hộ tịch một cách chính xác và thuận lợi.
Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác đăng ký kết hôn được đầu tư chu đáo, đảm bảo quản lý hồ sơ cẩn thận để không bị thất lạc Môi trường làm việc thuận lợi là điều kiện cần thiết giúp cán bộ Tư pháp hộ tịch hoàn thành nhiệm vụ bảo quản hồ sơ và quản lý hộ tịch một cách hiệu quả Tại trụ sở UBND phường, cơ sở vật chất khang trang và đầy đủ tiện nghi hỗ trợ cán bộ trong công việc, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ Các cán bộ Tư pháp hộ tịch, với tinh thần trách nhiệm và yêu nghề, luôn hướng dẫn người dân đăng ký kết hôn và thực hiện các thủ tục liên quan một cách tận tình, tạo dựng uy tín và niềm tin trong cộng đồng.