1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính Sách Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Cụm Ngành Tôm Sú Tỉnh Bạc Liêu

92 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính Sách Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Cụm Ngành Tôm Sú Tỉnh Bạc Liêu
Tác giả Liên Thu Trân
Người hướng dẫn PTS. Vũ Thành Tự Anh, Thầy Phan Chánh Dưỡng
Trường học Trường Đại học Kinh tế Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chính sách công
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 2,5 MB

Cấu trúc

  • BÌA

  • TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

  • MỤC LỤC

  • DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

  • DANH MỤC TỪ CHUYÊN NGÀNH

  • DANH MỤC HÌNH

  • DANH MỤC BẢNG

  • DANH MỤC PHỤ LỤC

  • CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

    • 1.1. Bối cảnh nghiên cứu

    • 1.2. Câu hỏi nghiên cứu

    • 1.3. Khung phân tích

    • 1.4. Phương pháp nghiên cứu

    • 1.5. Phạm vi nghiên cứu

    • 1.6. Cấu trúc dự kiến của luận văn

  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUANG CÁC NGHIÊN CỨU

    • 2.1. Lý thuyết về khung phân tích kết hợp cụm ngành và chuỗi giá trị

      • 2.1.1. Khái niệm về cụm ngành

      • 2.1.2. Khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu

      • 2.1.3. Đường cong nụ cười

      • 2.1.4. Cách tiếp cận kết hợp cụm ngành và chuỗi giá trị

    • 2.2. Khung phân tích mô hình kim cương của Michael Porter

    • 2.3. Phương pháp CCED

  • CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CỤM NGÀNH TÔM SÚ TỈNH BẠC LIÊU

    • 3.1. Quá trình hình thành và lịch sử phát triển của cụm ngành

    • 3.2. Phân tích bốn yếu tố cạnh tranh của cụm ngành tôm theo mô hình kim cương

      • 3.2.1. Điều kiện tự nhiên và nhân tố đầu vào

      • 3.2.3. Trình độ phát triển của cụm ngành

        • 3.2.3.1. Mạng lưới cung cấp nguyên liệu

        • 3.2.3.2. Các doanh nghiệp chế biến

        • 3.2.3.3. Mạng lưới hậu cần xuất khẩu

        • 3.2.3.4. Marketing và thương hiệu

        • 3.2.3.5. Ngành sản xuất tôm giống

        • 3.2.3.6. Ngành thuốc - Thức ăn cho tôm

        • 3.2.3.7. Ngành bao bì thực phẩm

        • 3.2.3.8. Các ngành phụ gia, máy móc chế biến và hóa chất

        • 3.2.3.9. Hạ tầng giao thông, vận tải, hậu cần

        • 3.2.3.10. Hạ tầng thương mại, xuất nhập khẩu

      • 3.2.4. Cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức hỗ trợ đối với ngành tôm

        • 3.2.4.1. Chi cục Thủy lợi

        • 3.2.4.2. Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư tỉnh Bạc Liêu

        • 3.2.4.3. Công ty bảo hiểm

        • 3.2.4.4. Ngân hàng, các tổ chức tín dụng

        • 3.2.4.5. Hiệp hội thủy sản

        • 3.2.4.6. Đại học Bạc Liêu

      • 3.2.5. Bối cảnh cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp

        • 3.2.5.1. Bối cảnh cạnh tranh trong nước

        • 3.2.5.2. Chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp

        • 3.2.5.3. Bối cảnh cạnh tranh thị trường toàn cầu

  • CHƯƠNG 4: KIẾN NGHỊ CHINH SÁCH VÀ KẾT LUẬN

    • 4.1. Thảo luận và kiến nghị chính sách

      • 4.1.1. Điều kiện cầu và bối cảnh cạnh tranh

      • 4.1.2. Các thảo luận và chính sách đối với cụm ngành

        • 4.1.2.1. Mạng lưới cung cấp nguyên liệu

        • 4.1.2.2. Ngành sản xuất tôm giống

        • 4.1.2.3. Bảo hiểm tôm

        • 4.1.2.4. Hệ thống thủy lợi

        • 4.1.2.5. Thức ăn và thuốc cho tôm

        • 4.1.2.6. Cụm ngành và chuỗi giá trị

      • 4.1.3. Vai trò của các tổ chức hỗ trợ

      • 4.1.4. Điều kiện đầu vào

    • 4.2. Kết luận

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Phụ lục 1 - Diện tích mặt nƣớc nuôi trồng so với cả nƣớc (nghìn ha)

  • Phụ lục 2 - Sản lƣợng tôm nuôi của ba tỉnh qua các năm

  • Phụ lục 3 - Nhiệt độ không khí trung bình các tháng trong năm

  • Phụ lục 4 - Lƣợng mƣa các tháng trong năm

  • Phụ lục 5 - GDP của thủy sản so với tổng GDP của tỉnh Bạc Liêu

  • Phụ lục 6 - Lao động ngành thủy sản trong tổng số lao động của tỉnh (ngƣời)

  • Phụ lục 6 - Thị trƣờng nhập khẩu tôm và tình hình xuất khẩu tháng 1 năm 2013

  • Phụ lục 7- iêu chuẩn chất lƣợng thành phẩm khách hàng

  • Phụ lục 8 - Danh mục chỉ tiêu hóa học (kháng sinh) chỉ định kiểm nghiệm đối với lô hàng thủy sản

  • Phụ lục 9- Danh mục chỉ tiêu vi sinh chỉ định kiểm tra đối với lô hàng thủy sản

  • Phụ lục 10- Phiếu phân tích kháng sinh

  • Phụ lục 11- Bảng giá mua tôm sú vỏ nguyên liệu

  • Phụ lục 12- Kết quả xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông tỉnh Bạc Liêu 15 năm(1997 – 2011)

  • Phụ lục 13- Sản phẩm công nghiệp chủ yếu của Bạc Liêu (2000 – 2010)

  • Phụ lục 14- Bảng câu hỏi phỏng vấn hộ nông dân

  • Phụ lục 15- Bảng câu hỏi phỏng vấn thƣơng lái/doanh nghiệp thu mua tôm nguyên liệu

  • Phụ lục 17- Danh sách nông dân đƣợc phỏng vấn

  • Phụ lục 18- Danh sách thƣơng lái (doanh nghiệp) thu mua tôm nguyên liệu đƣợc phỏng vấn

  • Phụ lục 19- Danh sách doanh nghiệp chế biến đƣợc phỏng vấn

  • Phụ lục 20- Danh sách chính quyền tỉnh, Sở ban ngành đƣợc phỏng vấn

  • Phụ lục 21- Bảng đo lƣờng nhân tố cạnh tranh trong mô hình kim cƣơng của Porter

  • Phụ lục 22- Bảng câu hỏi đánh giá các nhân tố

  • Phụ lục 23- Danh sách chuyên gia, lãnh đạo doanh nghiệp đƣợc phỏng vấn theophiếu khảo sát CCED

  • Phụ lục 24- Bảng kết quả đánh giá các nhân tố cạnh tranh

Nội dung

GIỚI THIỆU

Bối cảnh nghiên cứu

Bạc Liêu là một trong ba tỉnh hàng đầu về xuất khẩu tôm sú tại Việt Nam, cùng với Cà Mau và Sóc Trăng Tính đến năm 2011, tỉnh có diện tích nuôi tôm lên tới 126,9 nghìn ha, với sản lượng đạt 72.400 tấn Ngành xuất khẩu tôm sú không chỉ làm thay đổi diện mạo kinh tế của tỉnh mà còn nâng cao thu nhập cho nhiều hộ gia đình nông dân.

Mặc dù có điều kiện tự nhiên thuận lợi, ngành nuôi trồng thủy sản hiện đang đối mặt với nhiều khó khăn Hệ thống thủy lợi chưa đáp ứng đủ nhu cầu, và dịch bệnh như hội chứng tôm chết sớm (EMS) đã gây thiệt hại lớn về sản lượng và chất lượng tôm Năm 2012, nhiều nhà máy chế biến phải ngừng sản xuất do thiếu nguyên liệu, trong khi chi phí sản xuất tăng cao khiến giá tôm Việt Nam xuất khẩu cao hơn so với các nước cạnh tranh Thêm vào đó, rào cản kháng sinh và vi sinh tại thị trường nhập khẩu ngày càng nghiêm ngặt, làm giảm tính cạnh tranh của tôm xuất khẩu Năm 2012, xuất khẩu tôm của Việt Nam chỉ đạt 2.237,435 triệu USD, giảm 6,6% so với năm 2011, trong đó xuất khẩu tôm sú giảm 12,6%.

Liên kết lỏng lẻo giữa doanh nghiệp và người nuôi đang gây khó khăn cho việc kiểm soát chất lượng sản phẩm Nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu hình thành trang trại nuôi riêng nhằm giảm phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu bên ngoài và dễ dàng kiểm soát chất lượng Tuy nhiên, điều này đã dẫn đến việc người nông dân bị loại ra khỏi vai trò cung cấp tôm nguyên liệu trong chuỗi Để cải thiện tình trạng này, cần có các chính sách hỗ trợ từ chính quyền địa phương nhằm nâng cao tính liên kết giữa các tổ chức trong ngành và mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nhà nông.

Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu nguyên nhân gây ra khó khăn trong mối liên kết giữa doanh nghiệp, nhà khoa học và người nuôi, từ đó đưa ra các kiến nghị chính sách hợp lý cho chính quyền địa phương nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của cụm ngành này.

1 Xem Phụ lục 1 và Phụ lục 2

Câu hỏi nghiên cứu

Năng lực cạnh tranh của cụm ngành tôm sú tỉnh Bạc Liêu phụ thuộc vào nhiều yếu tố quan trọng, bao gồm chất lượng sản phẩm, công nghệ sản xuất, và khả năng tiếp cận thị trường Để nâng cao năng lực cạnh tranh, tỉnh cần triển khai các chính sách hỗ trợ như đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, cải thiện cơ sở hạ tầng, và khuyến khích hợp tác giữa các doanh nghiệp trong ngành Việc đào tạo nguồn nhân lực và tăng cường quảng bá sản phẩm cũng là những giải pháp cần thiết để nâng cao vị thế của ngành tôm sú trên thị trường trong nước và quốc tế.

Khung phân tích

Mô hình kim cương của Michael Porter là khung phân tích chính được sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh của cụm ngành Tác giả đặt cụm ngành ở vị trí trung tâm và phân tích bốn yếu tố của mô hình, từ đó xác định cách mà các yếu tố này ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của cụm ngành.

Tác giả áp dụng lý thuyết kết hợp cụm ngành với chuỗi giá trị nhằm đánh giá năng lực cạnh tranh của cụm ngành trong cả thị trường nội địa và toàn cầu.

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nghiên cứu, chúng tôi áp dụng phương pháp định tính, bao gồm phân tích mô tả, so sánh và tổng hợp dựa trên số liệu thu thập được Thông tin và số liệu thứ cấp được lấy từ Niên giám Thống kê và tài liệu do các sở, ban, ngành cung cấp Đối với thông tin sơ cấp, chúng tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu để thu thập dữ liệu cần thiết.

Bước 1: Phỏng vấn doanh nghiệp chế biến trong tỉnh:

Bài phỏng vấn tập trung vào những thách thức hiện tại liên quan đến năng lực sản xuất, sự biến động của thị trường, chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp và ảnh hưởng của các chính sách từ chính quyền địa phương.

Bước 2: Phỏng vấn hộ nông dân nuôi tôm:

Phỏng vấn nông dân cho thấy họ gặp nhiều khó khăn trong kỹ thuật nuôi trồng và sự biến động giá cả Chính sách hỗ trợ vay vốn của chính quyền địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc giúp nông dân vượt qua khó khăn Đồng thời, việc tăng cường liên kết giữa nông dân, nhà khoa học và doanh nghiệp là cần thiết để nâng cao hiệu quả sản xuất và ổn định thị trường.

Bước 3: Tiến hành phỏng vấn các sở, ban, ngành và chính quyền địa phương tại tỉnh Bạc Liêu Cần tìm hiểu các chính sách hỗ trợ mà các cơ quan này đưa ra nhằm thúc đẩy sự phát triển của cụm ngành.

Phạm vi nghiên cứu

Đề tài xem xét cụm ngành tôm sú xuất khẩu, phạm vi nghiên cứu ở địa bàn tỉnh Bạc Liêu trong giai đoạn từ năm 1996 đến nay.

Cấu trúc dự kiến của luận văn

Luận văn được cấu trúc thành 4 chương: Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài, Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết liên quan Nội dung chính của luận văn tập trung vào việc phân tích môi trường kinh doanh và các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của cụm ngành trong Chương 3 Cuối cùng, Chương 4 đưa ra các đề xuất chính sách và kết luận những vấn đề đã được thảo luận trong luận văn.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU

Lý thuyết về khung phân tích kết hợp cụm ngành và chuỗi giá trị

2.1.1 Khái niệm về cụm ngành

Cụm ngành là sự tập trung địa lý của các công ty và thể chế liên quan, kết nối với nhau qua sự tương đồng và hỗ trợ Phạm vi cụm ngành có thể là một thành phố, vùng, quốc gia hoặc nhóm quốc gia Cấu trúc cụm ngành đa dạng, bao gồm các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cuối cùng, doanh nghiệp ở thượng nguồn và hạ nguồn, các nhà cung cấp chuyên biệt, đơn vị cung cấp dịch vụ, cùng với các ngành liên quan về sản xuất, công nghệ, quan hệ khách hàng và các thể chế hỗ trợ như tài chính, giáo dục, nghiên cứu và cơ sở hạ tầng.

Cụm ngành ra đời và phát triển giúp doanh nghiệp tăng cường ưu thế cạnh tranh thông qua việc thúc đẩy đổi mới, nâng cao năng suất và thương mại hóa Chúng gia tăng năng suất bằng cách cải thiện tiếp cận các yếu tố đầu vào, giảm chi phí giao dịch và tạo động lực cạnh tranh, đồng thời khuyến khích sự đổi mới và chiến lược phân biệt hóa sản phẩm Sự hiện diện của nhiều nhà cung ứng, chuyên gia và thể chế hỗ trợ trong cụm ngành còn tăng cường khả năng đổi mới và mở rộng cơ hội công nghệ Ngoài ra, cụm ngành cũng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mới phát triển nhờ vào nguồn lực tài chính, kỹ năng và nhu cầu thị trường gia tăng.

Chuỗi giá trị là tổng thể các hoạt động cần thiết trong quá trình sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ, bao gồm từ nghiên cứu đến sản xuất, phân phối đến người tiêu dùng và xử lý rác thải sau sử dụng Khi chuỗi giá trị này diễn ra qua nhiều quốc gia, nó được gọi là chuỗi giá trị toàn cầu, cho phép các công đoạn được thực hiện tại nhiều địa điểm khác nhau với hiệu quả cao và chi phí thấp.

3 Vũ Thành Tự Anh (2012, tr.11)

4 Porter, 2008, trích trong Vũ Thành Tự Anh, 2012

5 Porter, 2008, trích trong Vũ Thành Tự Anh, 2012

Chuỗi giá trị điển hình thường rất phức tạp và bao gồm bốn phân khúc chính: thiết kế, sản xuất, tiếp thị, tiêu dùng và tái chế.

Các nhà nghiên cứu đã mô phỏng mức độ phân bố giá trị trong chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) của một số mặt hàng thông qua mô hình Parabol ngửa, hay còn gọi là đường cong nụ cười Mô hình này giúp minh họa sự phân bổ giá trị giữa các khâu khác nhau trong chuỗi cung ứng, từ đó làm nổi bật vai trò của từng giai đoạn trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

Hình 2-1 ường cong nụ cười

Nguồn: Vũ Thành Tự Anh, Lý thuyết kết hợp cụm ngành và chuỗi giá trị (2012, tr.30)

Theo mô hình chuỗi giá trị, các khâu thiết kế và tiêu thụ được xác định là có giá trị cao nhất Doanh nghiệp và quốc gia hướng tới việc chuyển dịch sản xuất từ các khâu có giá trị thấp sang các khâu có giá trị cao Tuy nhiên, việc đạt được mục tiêu này trong thời gian ngắn là thách thức lớn, do khâu thiết kế yêu cầu kiến thức và thông tin chuyên sâu, trong khi khâu tiêu thụ lại phức tạp với nhiều hoạt động như thiết kế kênh tiêu thụ, chiến lược giá cả và quảng bá.

Các quốc gia tham gia vào chuỗi giá trị cần tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh để tiến vào các phân khúc có giá trị gia tăng cao hơn, đồng thời phòng tránh nguy cơ bị loại ra khỏi chuỗi mà họ đang tham gia.

Thiết kế Sản xuất Quảng bá và phân Tiêu dùng/Dịch vụ Giá trị gia

2.1.4 Cách tiếp cận kết hợp cụm ngành và chuỗi giá trị

Hai cách tiếp cận cụm ngành và chuỗi giá trị có vẻ mâu thuẫn khi xem xét riêng lẻ Cụm ngành tập trung vào sự tương tác giữa các công ty và thể chế địa phương, trong khi chuỗi giá trị lại phân tích mối quan hệ giữa các thành viên trong chuỗi toàn cầu.

Khi kết hợp hai cách tiếp cận, doanh nghiệp trong cụm ngành có thể tận dụng ưu điểm của chuỗi giá trị toàn cầu và khắc phục những hạn chế của lý thuyết cụm ngành Các doanh nghiệp cần tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, phụ thuộc vào nhập khẩu và người mua toàn cầu, trong khi lý thuyết cụm ngành không xem xét sự tương tác với môi trường bên ngoài Ngược lại, các thành viên trong chuỗi giá trị chịu ảnh hưởng từ các yếu tố địa phương như môi trường cạnh tranh, thị trường lao động và cơ sở hạ tầng, nhưng lý thuyết chuỗi lại bỏ qua những tương tác này.

Cách kết hợp này giúp các nhà nghiên cứu có cái nhìn tổng quát về sự hỗ trợ giữa các thành phần trong cụm ngành, từ đó định hướng doanh nghiệp phát triển xa hơn trên đường cong nụ cười Điều này cho phép tiếp cận các hoạt động trong chuỗi giá trị gia tăng cao, trở thành công cụ hiệu quả để nâng cấp hoạt động và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong môi trường toàn cầu.

Khung phân tích mô hình kim cương của Michael Porter

Hình 2-2 ô hình kim cương của Michael Porter

Bốn thuộc tính của một quốc gia định hình môi trường kinh doanh và tạo thành liên kết

Hình thoi bao gồm các yếu tố sản xuất, điều kiện cầu, ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan, chiến lược công ty, cũng như cấu trúc và cạnh tranh nội địa.

Các yếu tố sản xuất quan trọng bao gồm vị trí địa lý, nguồn nhân lực, tài sản vật chất, kiến thức, vốn và cơ sở hạ tầng Doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh khi các yếu tố này kết hợp với nhau, mang lại chi phí thấp và chất lượng cao Ví dụ, vị trí địa lý của Singapore trên tuyến vận chuyển chính từ Nhật Bản qua Trung Đông đã giúp nước này phát triển thành cảng quốc tế và trung tâm sửa chữa tàu biển.

Các điều kiện cầu bao gồm kết cấu, quy mô và hình mẫu tăng trưởng, cùng với mức độ đòi hỏi của khách hàng và dự báo cầu ở các thị trường tiêu thụ Nếu cầu trong nước không kịp thời phản ứng với nhu cầu mới từ các quốc gia khác, các công ty nội địa sẽ gặp bất lợi, vì các quốc gia này có khả năng thích nghi nhanh hơn và dễ dàng chiếm lĩnh thị trường nhờ vào việc thay đổi và nâng cao chất lượng sản phẩm.

Các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế của một quốc gia Chẳng hạn, Thụy Điển nổi bật trong lĩnh vực sản phẩm thép chế tạo như vòng bi và máy cắt nhờ sự phát triển của các ngành thép đặc biệt Theo Porter trong "Lợi thế cạnh tranh quốc gia", lợi ích từ các ngành phụ trợ nằm ở khả năng đổi mới và cải tiến Mối quan hệ giữa nhà cung cấp và nhà sản xuất cho phép các công ty áp dụng công nghệ mới từ nhà cung cấp địa phương, trong khi đó, các công ty cũng tác động đến nỗ lực cải tiến công nghệ của nhà cung cấp và trở thành người kiểm tra chất lượng sản phẩm.

Nhân tố quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia trong một ngành bao gồm chiến lược công ty, cấu trúc và cạnh tranh nội địa Điều này phản ánh hoàn cảnh hình thành, tổ chức và quản lý các công ty cũng như bản chất cạnh tranh trong nước Ví dụ, các công ty Ý dẫn đầu thế giới trong nhiều lĩnh vực như đèn chiếu sáng, đồ nội thất và giày, thường áp dụng chiến lược phân biệt hóa sản phẩm và lựa chọn thị trường cụ thể để cạnh tranh hiệu quả.

Cạnh tranh nội địa yêu cầu các công ty phải giảm chi phí, cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ, đồng thời đổi mới quy trình sản xuất bằng công nghệ tiên tiến.

Phương pháp CCED

Tác giả áp dụng phương pháp CCED để nghiên cứu phát triển kinh tế thành phố dựa vào cụm ngành, sử dụng 39 yếu tố đo lường năng lực cạnh tranh của cụm ngành tại Châu Á Những yếu tố này được phân loại thành 5 nhóm theo mô hình kim cương của Porter, bao gồm điều kiện về nhân tố sản xuất, điều kiện cầu, ngành công nghiệp hỗ trợ, chiến lược và cấu trúc cạnh tranh, cùng với vai trò của chính quyền Tác giả cũng thu thập ý kiến để đánh giá mức độ cạnh tranh của các cụm ngành.

Bài viết đề cập đến 39 nhân tố được đánh giá theo thang điểm Likert từ 1 đến 5 bởi các chuyên gia và lãnh đạo doanh nghiệp Điểm trung bình tổng lớn hơn 3,75 cho thấy cụm ngành rất mạnh và có sức cạnh tranh quốc tế, trong khi điểm 3,0 chỉ ra sức cạnh tranh trong nước Điểm 2,5 cho thấy cụm ngành nhỏ, mới nổi và mạnh trong một vùng, còn điểm 2,0 trở xuống thể hiện cụm ngành yếu và mới được hình thành.

10 Choe, Roberts và các cộng sự, 2011, trích trong Vũ Thành Tự Anh, 2012

PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CỤM NGÀNH TÔM S TỈNH BẠC LIÊU

Quá trình hình thành và lịch sử phát triển của cụm ngành

Hình 3-1 ơ đồ kết hợp cụm ngành và chuỗi giá trị xuất khẩu tôm sú

Tốt Khá Trung bình Kém

Nguồn: Tác giả tự vẽ

Cụm ngành tôm sú xuất khẩu: các thành phần trong khung gạch nối màu đỏ

Chuỗi giá trị tôm sú xuất khẩu: các thành phần trong khung gạch nối màu xanh.

Hình 3-2 Diện tích mặt nước nuôi thủy sản của Bạc Liêu so với các vùng trong nước

Nguồn: Niên giám Thống kê (NGTK) Việt Nam 2011

Ngành nuôi tôm sú (Penaeus monodon) tại Cà Mau, Bạc Liêu và Sóc Trăng đã hình thành nhờ điều kiện đất đai và khí hậu lý tưởng Cà Mau dẫn đầu với diện tích nuôi lên tới 300,5 nghìn hecta, tiếp theo là Bạc Liêu với 126,9 nghìn ha và Sóc Trăng với 68,4 nghìn ha Khu vực này có nguồn thủy sản dồi dào, phục vụ cho chế biến xuất khẩu Nhờ thiên nhiên ưu đãi, ngành tôm sú xuất khẩu đã phát triển công nghệ cao tại ba tỉnh này.

Ngành thủy sản Việt Nam, ban đầu chỉ phục vụ nhu cầu tiêu thụ nội địa với lượng xuất khẩu hạn chế, đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ nhờ vào sự gia tăng nhu cầu từ các thị trường quốc tế như Nhật Bản, Mỹ và Châu Âu Sự kiện Mỹ ký Hiệp định thương mại song phương (BTA) với Việt Nam vào năm 2001 đã tạo điều kiện thuận lợi cho cụm ngành tôm Bạc Liêu và ngành chế biến thủy sản xuất khẩu tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) mở rộng và phát triển.

Hình 3-3 Giá trị xuất khẩu thủy sản Bạc Liêu

Nguồn: NGTK Bạc Liêu 2000, 2005, 2009, 2011 Đồng bằng sông Hồng

Trung du và miền núi phía Bắc

BTB và duyên hải miền Trung

Tây Nguyên Đông Nam Bộ ĐBSCL Kiên

Bạc Liêu Cà Mau Diện tích 126.4 41.7 81.8 12.2 52.8 127.9 116.1 68.4 126.9 300.5

Giá trị xuất khẩu Nghìn USD

Từ năm 1996 đến 2001, giá trị xuất khẩu tôm của Việt Nam dao động từ 14 triệu USD đến hơn 60 triệu USD Kể từ đó, giá trị xuất khẩu tôm đã tăng mạnh, đạt từ 63 triệu USD lên 237 triệu USD trong năm tiếp theo.

2002 - 2011 Kết quả thể hiện sự tăng vọt giá trị xuất khẩu đến 17 lần, chứng tỏ cụm ngành đã tăng trưởng rất nhanh trong 15 năm

Hình 3-4 GDP thủy sản so với GDP tổng của tỉnh

Giai đoạn 1996 - 2000, tỷ lệ GDP thủy sản chiếm từ 20% đến 22% tổng GDP của tỉnh, trong khi từ năm 2005 trở đi, con số này đã tăng đáng kể, dao động từ 35% đến 40% Sự tăng trưởng này cho thấy ngành thủy sản đã đóng góp quan trọng vào việc nâng cao GDP tỉnh và cải thiện thu nhập cho người dân.

Hình 3-5 Sản lƣợng tôm nuôi của à au, ạc Liêu, óc răng

Nguồn: NGTK Cà Mau, Bạc Liêu và Sóc Trăng 2000, 2005, 2009, 2011

Tỷ đồng GDP thủy sản

Bạc Liêu có tiềm năng sản xuất tôm cao hơn Sóc Trăng nhưng vẫn thấp hơn Cà Mau, nơi sản lượng tôm nuôi đạt 117.352 tấn vào năm 2011, so với 72.400 tấn của Bạc Liêu và 47.753 tấn của Sóc Trăng Nguồn tôm dồi dào là lợi thế lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu tôm, giúp tăng doanh thu Tuy nhiên, hiện nay, nguồn tôm cho chế biến xuất khẩu đang bị thiếu hụt nghiêm trọng do mùa vụ thất bát liên tiếp, gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu.

Hình 3-6 Sản lƣợng thủy sản các tỉnh L

Sản lượng thủy sản của tỉnh Bạc Liêu vẫn còn thấp so với mức trung bình của khu vực ĐBSCL, với giai đoạn 2009 - 2011 dao động từ 200.000 tấn/năm đến 250.000 tấn/năm, trong khi tỉnh Kiên Giang đạt sản lượng cao nhất từ 470.000 tấn/năm đến 500.000 tấn/năm Điều này cho thấy ngành chế biến thủy sản và xuất khẩu tôm của Bạc Liêu chưa khai thác hết tiềm năng, mặc dù có diện tích nuôi lớn lên tới 126,9 nghìn ha.

Sóc Trăng Cà Mau Bạc

Phân tích bốn yếu tố cạnh tranh của cụm ngành tôm theo mô hình kim cương

Hình 3-7 ôi trường kinh doanh ở tỉnh Bạc Liêu theo mô hình kim cương của Porter

Nguồn: Tác giả tự tính/vẽ

3.2.1 Điều kiện tự nhiên và nhân tố đầu vào

Hình 3-8 Bản đồ vị trí địa lý và mối quan hệ liên vùng tỉnh Bạc Liêu

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bạc Liêu (2012)

Tỉnh Bạc Liêu, nằm trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, có vị trí địa lý thuận lợi khi giáp với các tỉnh Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Cà Mau và biển Đông Cách thành phố Hồ Chí Minh 280 km về phía Bắc, Bạc Liêu gần các trung tâm kinh tế lớn như Cần Thơ và TP.HCM, tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế Đặc biệt, với việc Đồng bằng sông Cửu Long dẫn đầu cả nước về chế biến và xuất khẩu thủy sản, Bạc Liêu có cơ hội tận dụng lợi thế cạnh tranh để phát triển ngành chế biến tôm sú xuất khẩu.

Bạc Liêu có khí hậu nhiệt đới gió mùa, cận xích đạo, với ảnh hưởng rõ rệt từ biển Thời tiết ở đây được chia thành hai mùa, trong đó mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng

Tháng 4 dương lịch là thời điểm lý tưởng cho việc nuôi trồng thủy sản, trong khi mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 với lượng mưa trung bình đạt 1.800 mm, rất phù hợp cho sản xuất nông nghiệp Nhiệt độ trung bình hàng năm là 28,5°C, với nhiệt độ thấp nhất vào mùa mưa là 21°C và nhiệt độ cao nhất vào mùa nắng là 36°C.

Bạc Liêu có địa hình bằng phẳng với đồng bằng rộng lớn, sông rạch và kênh đào chằng chịt Bờ biển ở đây cũng thấp và trải dài, tạo nên một cảnh quan thiên nhiên độc đáo.

Với diện tích 56 km, khu vực này rất lý tưởng cho việc nuôi trồng các loài thủy sản như tôm, cá, ốc và sò huyết Hàng năm, sản lượng thủy sản khai thác tại đây đạt gần 100 nghìn tấn.

Hình 3-9 Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bạc Liêu đến 2020

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bạc Liêu (2012)

Quốc lộ 1A kết nối Cà Mau, Bạc Liêu và TP.HCM, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển sản phẩm thủy sản từ Bạc Liêu đến cảng TP.HCM Bên cạnh đó, Kênh Xáng cũng hỗ trợ giao thông đường bộ và đường thủy giữa hai tỉnh Điều này đã dẫn đến sự hình thành cụm doanh nghiệp chế biến thủy sản dọc theo Quốc lộ 1A Tỉnh Bạc Liêu có ba vùng kinh tế rõ rệt: vùng Nam Quốc lộ 1A, nơi phát triển nuôi tôm với hơn 15.000 ha diện tích, và vùng Bắc Quốc lộ 1A, chia thành vùng nông nghiệp ổn định và vùng chuyển đổi sản xuất tôm lúa Tính đến năm 2011, diện tích nuôi thủy sản đạt 126,9 nghìn ha, sản lượng tôm tăng từ 58.400 tấn năm 2006 lên 72.400 tấn năm 2011, nhờ vào dòng hải lưu ven biển mang phù sa.

Dòng sông Mê Kông đổ ra biển Bạc Liêu đã làm gia tăng quá trình bồi lắng và mở rộng diện tích đất lấn biển Vùng nước biển trong xanh chỉ cách bờ khoảng 10 hải lý (15 km) Ông Lai Thanh Ẩn từ Chi cục Thủy lợi cho biết, dòng hải lưu mang theo phù sa và nước từ Mê Kông chảy qua Sóc Trăng, Cần Thơ, Hậu Giang về Bạc Liêu và Cà Mau, khiến nước dễ dàng lây lan mầm bệnh từ các tỉnh phía trên xuống hạ nguồn Ông cũng đã đề xuất các biện pháp để ngăn chặn sự lây lan này từ dòng hải lưu.

Lực lượng lao động dồi dào trong ngành thủy sản tại Bạc Liêu tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp chế biến thủy sản Việc này không chỉ giúp tăng cường năng lực sản xuất mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương.

2011 là 187.496 người chiếm 40,1% trong tổng số lao động của tỉnh là 466.985 người

13 Phụ lục 1 và phụ lục 2

Hình 3-10 Lao động trong ngành thủy sản tỉnh Bạc Liêu

Nguồn: NGTK Bạc Liêu năm 2011

Hình 3-11 Thị trường nhập khẩu tôm tháng 01 năm 2013

Nguồn: Nguồn: Vasep (2013), Xuất khẩu tôm tháng 1 năm 2013

Năm 2013, thị trường nhập khẩu tôm của Việt Nam chủ yếu gồm Mỹ (22,2%), Nhật Bản (22,1%), Châu Âu (13,6%) và Trung Quốc (17,4%) Các thị trường lớn này yêu cầu rất cao về chất lượng tôm sú, đặc biệt là Mỹ với các tiêu chuẩn nghiêm ngặt từ cảm quan bên ngoài đến cấu trúc và mùi vị sản phẩm sau chế biến Tiêu chuẩn thành phẩm bao gồm kích cỡ, số con trong một pound, độ đồng đều giữa các thân tôm và tỷ lệ áo băng bề mặt để bảo quản tôm.

Nông lâm nghiệp và thủy sản đóng vai trò quan trọng trong ngành chế biến thực phẩm Tổng số sản phẩm bị hư hỏng là 15, điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo chất lượng Khách hàng thường chú ý đến các tiêu chuẩn cảm quan như màu sắc tôm, độ tươi, tình trạng vỏ có bị biến đen hay không, cũng như mùi vị và cấu trúc sản phẩm khi nếm thử.

Các tiêu chuẩn về kỹ năng chế biến thực phẩm rất nghiêm ngặt, với quy định cụ thể về tỷ lệ phần trăm sai lỗi cho phép trong quá trình chế biến Cụ thể, đầu làm sạch chưa tốt cho phép tối đa 5%, con thiếu đuôi từ 5% đến 6%, cắt sai cũng từ 5% đến 6%, trong khi tạp chất lạ và mất nước đều không được phép xuất hiện (0%).

Hình 3-12 iêu chuẩn cảm quan thành phẩm khách hàng

Nguồn: Lấy từ biểu mẫu kiểm tra chất lượng cảm quan của Công ty C Phần Thủy Sản Minh Hải

(theo yêu cầu của khách hàng Mỹ)

Các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm liên quan đến kháng sinh và vi sinh vật rất nghiêm ngặt và tùy thuộc vào yêu cầu của từng thị trường nhập khẩu Nồng độ các chất kháng sinh bị giới hạn như Chloramphenicol (50 ppt/1g sản phẩm), Trifluralin (300 ppt/1g sản phẩm) và Enpro hoặc Cipro (1000 ppt/1g sản phẩm) Để đáp ứng yêu cầu của khách hàng, nhà máy thực hiện kiểm tra kháng sinh và vi sinh hàng ngày trước khi chế biến, nhằm loại bỏ các lô tôm nguyên liệu không đạt tiêu chuẩn.

16 Phụ lục 8 và Phụ lục 9

Chấm đen trên vỏ vừa phải

Có chấm nhiều quá trên vỏ Đầu làm sạch chƣa tốt

Biến màu Dấu hiệu phân hủy thịt Biến đen quá mức( thâm vào thịt)

Cắt sai Lột không tốt (còn vỏ ở đốt 1-5)

Sót tim Tạp chất lạ( bên ngoài) Tạp chất của tôm (chân, vỏ, râu, chân bơi)

Mất nước Tổng các điểm ngoài qui cách

Kiểm tra chất lượng thành phẩm là bước quan trọng trước khi xuất khẩu, với tỷ lệ kiểm tra 31/40 và 26/30 Quy trình này bao gồm một lần kiểm mẫu cuối cùng từ tổ chức kiểm tra chất lượng thủy sản vùng 5 (Nafivaqed) nhằm đảm bảo sản phẩm đủ điều kiện xuất khẩu Tuy nhiên, việc kiểm tra chất lượng từng lô hàng trước khi xuất khẩu làm tăng chi phí sản xuất, dẫn đến giá tôm thành phẩm cao hơn so với các nước khác.

Hình 3-13 Việt Nam xuất khẩu tôm sang hật năm 2011 – 2012

Nguồn: VASEP, Báo cáo xuất khẩu thủy sản Việt Nam năm 2012 (2013, tr.35)

Năm 2012, Nhật Bản áp dụng rào cản nhập khẩu nghiêm ngặt, đặc biệt là với kháng sinh cấm Ethoxyquin, dẫn đến sự sụt giảm mạnh trong xuất khẩu, với tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu tháng 12 năm 2012 giảm 26,9% so với năm 2011 Nhật Bản kiểm tra Ethoxyquin trên hơn 30% lô tôm từ Việt Nam, với giới hạn cho phép là 0,01 ppm (10 ppb).

Việc doanh nghiệp Việt Nam không dám xuất khẩu tôm sang Nhật Bản do lệnh cấm sử dụng Ethoxyquin trong nuôi trồng và bảo quản thủy sản chưa được thực thi kịp thời đã dẫn đến tình trạng hầu hết tôm nuôi ở nước ta đều chứa kháng sinh này Hệ quả là ngành tôm Việt Nam đang dần mất thị trường Nhật Bản Nếu không cải thiện chất lượng sản phẩm để đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường Nhật, Việt Nam có thể phải chuyển hướng sang các thị trường có tiêu chuẩn thấp hơn, từ đó làm giảm sức cạnh tranh của thủy sản Việt Nam và có nguy cơ bị loại khỏi thị trường toàn cầu.

18 Nội dung phỏng vấn Giám Đốc doanh nghiệp chế biến Trường Phú, tỉnh Bạc Liêu

3.2.3 Trình độ phát triển của cụm ngành

3.2.3.1 Mạng lưới cung cấp nguyên liệu

Mối liên kết giữa cụm ngành và chuỗi giá trị

Hình 3-21 Chuỗi giá trị tôm sú aw D - IQF xuất khẩu

Giá trị gia tăng Sản phẩm trung gian

Nguồn: Tác giả tự tính/vẽ từ nội dung phỏng vấn doanh nghiệp

Người nuôi Đại lý vận chuyển

Nhà nhập khẩu/Siêu thị

Trong chuỗi giá trị tôm sú Raw PD - IQF xuất khẩu, giá trị gia tăng cao nhất được ghi nhận ở hoạt động bán buôn của nhà nhập khẩu và bán lẻ tại hệ thống siêu thị Các hoạt động thượng nguồn như cung cấp giống và thức ăn cũng mang lại giá trị gia tăng đáng kể, với công ty tôm giống đạt 125% và công ty thức ăn đạt 27,5% Ngược lại, giá trị gia tăng ở hạ nguồn, bao gồm bán buôn và bán lẻ, chỉ dao động từ 10% đến 20% Tuy nhiên, cụm ngành tỉnh chủ yếu tập trung vào hoạt động nuôi, cung cấp nguyên liệu và chế biến, những hoạt động này có giá trị gia tăng thấp hơn so với các hoạt động ở hạ nguồn và thượng nguồn.

Do các thành phần hỗ trợ trong cụm ngành địa phương còn yếu, các doanh nghiệp không thể tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị gia tăng cao Ngành phụ gia và hóa chất chưa phát triển, dẫn đến tỉnh không tự chủ được trong sản xuất thức ăn và thuốc cho tôm Sản xuất con giống cũng chưa đáp ứng đủ nhu cầu, buộc tỉnh phải nhập khẩu thức ăn và thuốc từ nước ngoài, cũng như tôm giống từ miền Trung Nguyên nhân chính là do thiếu vốn và ứng dụng khoa học kỹ thuật kém, khiến doanh nghiệp không thể chủ động sản xuất thức ăn và con giống đạt chất lượng, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ lớn của tỉnh.

Bảng 3.5 Quan hệ liên kết dọc trong chuỗi giá trị tôm sú xuất khẩu

Liên kết giữa các tác nhân Dạng liên kết Mức độ chặt chẽ của quan hệ hân bổ quyền lực: tác nhân quyết định

01 Nông dân - Thương lái/Đại lý Quan hệ thời điểm + Thương lái

02 Nông dân - Công ty chế biến Quan hệ thời điểm + Công ty chế biến

03 Thương lái/Đại lý - Công ty chế biến

Quan hệ thời điểm + Công ty chế biến

04 Công ty chế biến – Nhà nhập khẩu/ Siêu thị

Quan hệ thời điểm ++ Nhà nhập khẩu/ Siêu thị Quan hệ mạng lưới +++ hú thích: + liên kết lỏng lẻo; ++ liên kết chặt; +++ liên kết rất chặt

Mối liên kết giữa nông dân, thương lái và công ty chế biến trong chuỗi cung ứng tôm hiện còn lỏng lẻo, gây khó khăn trong việc kiểm soát chất lượng an toàn thực phẩm Công ty chế biến nắm bắt thông tin thị trường nhanh chóng, nhưng chưa hiệu quả trong việc truyền đạt yêu cầu về an toàn thực phẩm đến thương lái và nông dân Điều này dẫn đến việc một số nông dân vẫn sử dụng kháng sinh cấm trong nuôi tôm, trong khi thương lái và đại lý chưa kiểm soát chất lượng tốt trong quá trình thu mua và bảo quản Quy trình kiểm soát chất lượng chưa được đảm bảo từ khâu nuôi tôm đến thu gom, khiến doanh nghiệp chỉ có thể đảm bảo chất lượng ở giai đoạn chế biến Do đó, việc kiểm soát chất lượng an toàn thực phẩm kém là nguyên nhân chính làm giảm tính cạnh tranh của tôm sú Việt Nam trên thị trường toàn cầu.

Các thành phần ở thượng nguồn hoạt động kém làm suy giảm tính cạnh tranh của chuỗi giá trị và ảnh hưởng đến các yếu tố hạ nguồn Doanh nghiệp chưa đủ khả năng sản xuất giống và thức ăn địa phương, cùng với việc kiểm soát chất lượng sản phẩm trong nuôi trồng và thu mua nguyên liệu còn hạn chế, khiến họ khó khăn trong việc mở rộng vào phân phối và bán lẻ quốc tế Để cải thiện tình hình, các doanh nghiệp cần nỗ lực khắc phục yếu kém nội bộ, tăng cường liên kết dọc trong chuỗi và phát triển từng bước vào các hoạt động có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Đo lường các nhân tố cạnh tranh của cụm ngành tôm Bạc Liêu so với cụm ngành tôm Thái

Bảng kết quả khảo sát đánh giá các doanh nghiệp về các nhân tố cạnh tranh trong cụm ngành tôm Bạc Liêu và cụm ngành tôm Thái Lan đã được tác giả tự vẽ, cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự cạnh tranh giữa hai khu vực này.

Hình 3-22 ác nhân tố điều kiện đầu vào Hình 3-23 ác nhân tố điều kiện cầu

Hình 3-24 Chiến lƣợc, cấu trúc và đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp Hình 3-25 ác ngành hỗ trợ và vai trò của chính phủ

Theo kết quả khảo sát, cụm ngành tôm Bạc Liêu đang gặp khó khăn trong cạnh tranh so với Thái Lan, với mức chênh lệch từ 1 đến 2,5 điểm ở nhiều chỉ số Cụ thể, Bạc Liêu thua kém Thái Lan 2 điểm trong các yếu tố như cơ sở giáo dục và đào tạo, mở rộng thị trường, và chất lượng sản phẩm dịch vụ Ngoài ra, chi phí nguyên liệu thô nội địa của Bạc Liêu cũng thấp hơn Thái Lan 2,33 điểm, trong khi chất lượng dịch vụ logistics kém hơn 1,83 điểm Bạc Liêu còn thiếu hụt trong hợp tác doanh nghiệp, lãnh đạo quốc gia, năng lực dịch vụ hỗ trợ kinh doanh, và phát triển bền vững, với mức chênh lệch từ 2 điểm trở lên Tóm lại, để theo kịp Thái Lan, cụm ngành Bạc Liêu cần cải thiện đáng kể ở tất cả các nhân tố cạnh tranh.

Sức cạnh tranh của cụm ngành Bạc Liêu giảm sút so với Thái Lan do sự khác biệt trong chiến lược cạnh tranh Thái Lan tập trung vào chất lượng và có sự kiểm soát hiệu quả từ Chính phủ, với doanh nghiệp liên kết chặt chẽ, trong khi đó, Bạc Liêu lại gặp phải tình trạng cạnh tranh tiêu cực, giảm giá bán và tranh mua nguyên liệu đầu vào Liên kết giữa các doanh nghiệp tại Bạc Liêu còn lỏng lẻo, và các ngành cung ứng chưa phát triển tốt để hỗ trợ cụm ngành Hơn nữa, sự hỗ trợ từ Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương chưa đủ để tạo ra một cụm ngành phát triển bền vững.

Tôm Việt Nam đang gặp khó khăn trong việc cạnh tranh với tôm Thái Lan, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế suy thoái và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt Điều này dẫn đến sự sụt giảm trong kim ngạch xuất khẩu tôm, làm cho ngành tôm có dấu hiệu tụt dốc Do đó, Chính phủ Việt Nam và các chính quyền địa phương cần có sự quan tâm và hỗ trợ kịp thời để giúp ngành tôm vượt qua khó khăn và phát triển bền vững.

KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN

Ngày đăng: 01/08/2021, 15:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN