CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Năng lực cạnh tranh và cụm ngành
NLCT là vấn đề quan trọng đối với chính phủ ở các cấp khác nhau, từ quốc gia đến tỉnh Khái niệm NLCT chủ yếu liên quan đến năng suất, yếu tố quyết định chính cho mức sống bền vững và thu nhập bình quân đầu người Để đạt được tăng trưởng năng suất bền vững, nền kinh tế cần phải liên tục cải tiến và nâng cấp GDP đầu người được coi là chỉ số phản ánh chính xác nhất về năng suất và NLCT của một quốc gia, vùng hoặc tỉnh.
Cụm ngành được định nghĩa là một nhóm doanh nghiệp, nhà cung cấp, ngành công nghiệp liên quan và các thể chế chuyên môn hóa trong những lĩnh vực cụ thể tại các vùng địa lý nhất định Cụm ngành không chỉ giúp giảm chi phí giao dịch và nâng cao hiệu quả, mà còn tạo động lực, hình thành tài sản chung, thúc đẩy sáng tạo và nâng cao năng suất Đồng thời, chúng còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành các doanh nghiệp mới.
Lý thuyết năng lực cạnh tranh của Porter ở cấp độ địa phương
2.2.1 Các nhân tố nền tảng quyết định năng lực cạnh tranh của địa phương
Năng suất là sự kết hợp của các yếu tố hình thành dưới ảnh hưởng của các tác nhân trong nền kinh tế, tạo ra một môi trường tổng thể Vị thế tương đối của một nền kinh tế được xác định thông qua sự so sánh với các nền kinh tế khác.
Các nhân tố thuộc NLCT cấp độ địa phương, bao gồm chính sách kinh tế, hạ tầng xã hội và thể chế chính trị, đóng vai trò quan trọng trong việc xác định môi trường và bối cảnh chung, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng năng suất.
3 CIEM - Dự án VIE 01/025 (2003, Tr.15), Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Nxb, 2003, GTVT
4 Porter, Michael E (1998, Tr.13), Lợi thế cạnh tranh quốc gia, Nxb Trẻ, Tp.HCM, 2008 khóa lun, tài liu 14 of 102.
Nhóm nhân tố khác thuộc NLCT cấp độ DN bao gồm các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động và cách thức vận hành của doanh nghiệp Những yếu tố này bao gồm chất lượng môi trường kinh doanh, trình độ phát triển của cụm ngành và độ tinh thông của doanh nghiệp.
- Nhóm nhân tố cuối cùng là các lợi thế tự nhiên có thể hỗ trợ tạo nên sự thịnh vượng
NLCT ở cấp độ địa phương có tiềm năng nâng cao năng suất, nhưng vẫn chưa đủ để đạt được hiệu quả tối ưu Năng suất cuối cùng phụ thuộc vào năng lực vi mô của nền kinh tế và mức độ cạnh tranh trong nước.
Hình 2.1 Các nhân tố nền tảng quyết định NLCT địa phương
Nguồn: Porter và Ketels (2010), đã được điều chỉnh bởi TS Vũ Thành Tự Anh (2011)
Môi trường cạnh tranh của doanh nghiệp được định hình bởi bốn đặc tính chính: các điều kiện về nhân tố đầu vào, các điều kiện cầu, các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan, cùng với bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh của công ty.
Các yếu tố lợi thế có sẵn của địa phương
Năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp
Hoạt động và chiến lược của doanh nghiệp
Môi trường kinh doanh và cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Trình độ phát triển cụm ngành
Năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phương
Chính sách tài khóa, tín dụng, và cơ cấu kinh tế
Hạ tầng văn hóa, xã hội y tế, giáo dục
Vị trí địa lý Quy mô địa phương
Hình 2.2 Mô hình kim cương
Nguồn: Porter và Ketels (2010), đã được điều chỉnh bởi TS Vũ Thành Tự Anh (2011)
Áp dụng khái niệm cạnh tranh và cụm vào hoạt động du lịch
Du lịch có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy vào hoàn cảnh và góc độ nghiên cứu Trong luận văn này, tác giả đưa ra một định nghĩa ngắn gọn về du lịch: “Du lịch là sự kết hợp và tương tác của bốn nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách, bao gồm: Du khách, nhà cung cấp dịch vụ du lịch, cư dân địa phương và chính quyền địa phương nơi đón khách.”
6 Michael Coltman (Mỹ), trích từ tác phẩm Các khái niệm cơ bản về du lịch, truy cập ngày 12/10/2011, tại địa chỉ http://giaoan.violet.vn/present/show/entry_id/209443
Bối cảnh chiến lược và cạnh tranh c.ty
Vai trò chính quyền địa phương
Ngành CN phụ trợ, liên quan
Các yếu tố điều kiện cầu Điều kiện yếu tố đầu vào khóa lun, tài liu 16 of 102.
Du lịch không chỉ đơn thuần là việc di chuyển mà còn là hành trình khám phá, giúp du khách cảm nhận và tận hưởng những giá trị văn hóa cao cả về vật chất lẫn tinh thần.
Từ góc độ quốc sách phát triển du lịch, cần dựa vào tài nguyên du lịch hiện có để xây dựng chiến lược phát triển hiệu quả Việc lựa chọn các sản phẩm du lịch độc đáo và đặc trưng sẽ giúp nâng cao giá trị trải nghiệm cho du khách Đồng thời, xác định phương hướng phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ du lịch là yếu tố then chốt để thu hút và giữ chân du khách.
Sản phẩm du lịch bao gồm các chương trình du lịch kết hợp di tích lịch sử, văn hóa và cảnh quan thiên nhiên với cơ sở vật chất kỹ thuật như lưu trú, ăn uống và vận chuyển.
Từ góc độ thị trường du lịch, các nhà tiếp thị du lịch chủ yếu tập trung vào việc xác định và khai thác nhu cầu của du khách để thúc đẩy việc "mua chương trình du lịch".
2.3.3 Điểm đến cạnh tranh và cụm du lịch
Trong quá khứ, sự cạnh tranh trong ngành du lịch chủ yếu dựa vào giá cả Tuy nhiên, từ đầu thập niên 90, các nhà nghiên cứu đã nhận ra rằng bên cạnh lợi thế về giá, "điểm đến cạnh tranh" (bao gồm Điểm đến và Sức cạnh tranh) cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định sức cạnh tranh của một điểm đến du lịch.
Điểm đến du lịch có thể là một quốc gia, một vùng, hoặc một địa điểm cụ thể với sức hút mạnh mẽ Tuy nhiên, hầu hết du khách thường chỉ quan tâm đến các địa phương và thành phố nghệ thuật, thay vì khám phá một khu vực rộng lớn hay cả một quốc gia Do đó, có thể định nghĩa du lịch là "một nhóm các yếu tố thu hút du khách, bao gồm các doanh nghiệp và tổ chức liên quan, tập trung vào một vùng địa lý nhất định."
Sức cạnh tranh trong du lịch là khả năng gia tăng chi tiêu của du khách, thu hút họ bằng những trải nghiệm đáng nhớ và sự thỏa mãn, đồng thời mang lại lợi nhuận và nâng cao phúc lợi cho cộng đồng địa phương Điều này còn góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên tự nhiên cho các thế hệ tương lai.
7 AIEST và Poon (1993); Goeldner (2000), trích từ tác phẩm Cạnh tranh và điểm đến du lịch, Cliff Shultz
8 Ritchie và Crouch (2003), trích từ tác phẩm Cạnh tranh và điểm đến du lịch, Cliff Shultz
9 Ritchie và Crounch (2003), trích từ tác phẩm Cạnh tranh và điểm đến du lịch, Cliff Shultz
Môi trường du lịch bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nhân văn, nơi diễn ra các hoạt động du lịch Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố như địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và cảnh quan thiên nhiên Trong khi đó, môi trường xã hội nhân văn liên quan đến các thể chế chính sách, tình trạng bảo tồn và phát triển các giá trị truyền thống, mức độ thân thiện và chất lượng cuộc sống của cộng đồng, cũng như môi trường kinh doanh và tình trạng của đội ngũ nhân lực du lịch.
Phát triển bền vững
Mọi vấn đề môi trường đều xuất phát từ quá trình phát triển, và để giải quyết mâu thuẫn giữa hai yếu tố này, cần chấp nhận phát triển nhưng phải đảm bảo không gây tác động tiêu cực đến môi trường Phát triển bền vững được định nghĩa là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại của con người mà không làm tổn hại đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai.
Du lịch bền vững là việc di chuyển và tham quan các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường, nhằm tận hưởng và đánh giá cao vẻ đẹp thiên nhiên theo cách bảo tồn, giảm thiểu tác động từ du khách và tạo ra lợi ích cho sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương Nó bao gồm ba thành phần chính: thân thiện với môi trường, gần gũi về xã hội và văn hóa, và có tính kinh tế.
10 Điều 4 Luật Du lịch (2005, Tr.1-3)
Cục Tài nguyên môi trường Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của sự phát triển bền vững, một khái niệm thiết yếu trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường Để đạt được mục tiêu này, cần có các chính sách và hành động cụ thể nhằm cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường Thông tin chi tiết có thể được tìm thấy trên trang web chính thức của Cục tại địa chỉ http://vea.gov.vn, truy cập ngày 15/3/2012.
Uỷ ban Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc (1987) đã định nghĩa sự phát triển bền vững trong tác phẩm "Thế nào là sự phát triển bền vững" Tài liệu này được Cục Tài nguyên môi trường Việt Nam công bố và có thể truy cập tại địa chỉ http://vea.gov.vn, với thông tin cập nhật đến ngày 15/3/2012.
The World Conservation Union (1996) emphasizes the principles of sustainable tourism, highlighting its importance for environmental preservation and community benefit Sustainable tourism aims to minimize negative impacts on ecosystems while promoting conservation efforts and enhancing the well-being of local communities For more insights, refer to the document "Concepts of Sustainable Tourism," accessed on March 15, 2012, at http://sanctuaries.noaa.gov/management/international/pdfs/day1_concepts_manual_viet.pdf.
14 International Ecotourism Society (2004), trích từ tác phẩm Khái niệm du lịch bền vững, truy cập ngày
12/02/2012, tại địa chỉ http://sanctuaries.noaa.gov/management/international/pdfs/day1_concepts_manual_viet.pdf khóa lun, tài liu 18 of 102.
PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Các yếu tố lợi thế sẵn có của địa phương
Bình Thuận được thiên nhiên ban tặng nhiều tài nguyên phong phú cho du lịch, nhưng hiện tại chỉ khai thác hiệu quả du lịch biển Thay vì phát triển chiến lược du lịch dựa trên nền tảng này, tỉnh vẫn gặp khó khăn trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng và dịch vụ du lịch chất lượng Doanh thu từ du lịch biển chiếm 88.8% tổng doanh thu du lịch của tỉnh, trong đó khách nội địa và quốc tế đóng góp phần lớn Tuy nhiên, các địa phương như Phan Thiết, La Gi và các huyện xung quanh đều có nhiều tiềm năng để phát triển các loại hình du lịch độc đáo khác, bên cạnh du lịch biển.
Bảng 3.1 Nhận diện thế mạnh du lịch từng vùng trên địa bàn tỉnh Bình Thuận
15 Cục thống kê tỉnh Bình Thuận (2010), Kết quả hoạt động du lịch giai đoạn 2005 – 2010
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ thông tin của Sở VHTT&DL Bình Thuận
Bình Thuận nằm trên các trục hành lang kinh tế đô thị quan trọng, bao gồm đường bộ, đường sắt và đường thủy, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch Với khí hậu nhiệt đới gió mùa và nhiệt độ ôn hòa, nơi đây sở hữu hệ sinh thái động thực vật phong phú, thu hút du khách đến tham quan và nghiên cứu Đặc biệt, không có mùa Đông là một lợi thế lớn để thu hút du khách quốc tế đến nghỉ dưỡng trong mùa đông Lượng mưa thấp và phân bổ hợp lý giúp tổ chức các hoạt động du lịch quanh năm, cùng với nắng gió ấm áp, Bình Thuận trở thành điểm đến lý tưởng cho các loại hình thể thao biển được ưa chuộng bởi du khách châu Âu.
3.1.2.2 Mối quan hệ không gian du lịch quốc tế
Bình Thuận là cửa ngõ kết nối các huyện phía Nam tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đắk Nông với thế giới, thông qua Quốc lộ 28 và cửa khẩu Bu Prăng Tỉnh cũng giáp biển Đông ở phía Đông, gần với các tuyến đường hàng hải quốc tế.
3.1.2.3 Mối quan hệ không gian du lịch quốc gia
Bình Thuận có vị trí chiến lược là cửa ngõ giao lưu về kinh tế, văn hóa và xã hội giữa các khu vực Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Nằm trong tam giác du lịch TP.HCM – Bình Thuận – Lâm Đồng, tỉnh đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và đồng bằng Sông Cửu Long Bình Thuận kết nối với các trung tâm du lịch lớn như Vũng Tàu, TP.HCM, Nha Trang và Đà Lạt, chỉ trong khoảng cách từ 200 km đến 250 km, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển du lịch.
3.1.3.1 Quy mô dân số và lao động
Năm 2010, dân số Bình Thuận đạt 1,176,913 người, với tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm xuống còn 1.15%, so với 1.46% vào năm 2005 Giai đoạn 2001 – 2010, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, tỷ lệ dân số đô thị tăng từ 30.6% năm 2000 lên 39.29% vào năm 2010.
Từ năm 2010, áp lực về việc giải quyết việc làm và các vấn đề xã hội nhạy cảm gia tăng trong khu vực này Dân số trong độ tuổi lao động giai đoạn 2001 – 2005 tăng trung bình 2.34% mỗi năm, trong khi giai đoạn 2006 – 2010 tăng 2.55% mỗi năm Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã dẫn đến sự gia tăng tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp xây dựng và dịch vụ, trong khi tỷ trọng lao động trong ngành nông lâm thủy sản giảm.
3.1.3.2 Lao động ngành du lịch 18
Ngành du lịch Việt Nam năm 2010 có khoảng 1,359,100 lao động, chiếm 2.39% tổng số lao động cả nước Trong số này, chỉ 42% được đào tạo chuyên sâu về du lịch, 38% là lao động chuyển từ các ngành khác, và 20% chưa qua đào tạo Đặc biệt, lao động có trình độ đại học trở lên chỉ chiếm 7.4% trong tổng số lao động chuyên môn du lịch.
Lao động ngành Du lịch Bình Thuận: Năm 2005 là 6,792 người, năm 2010 là 8,610 người, tốc độ tăng giai đoạn 2005–2010 là 4.86%/năm Lao động chuyên môn có trình độ
16 Ông Nguyễn Văn Ba (2012), Sở VHTT&DL Bình Thuận
17 UBND Tỉnh Bình Thuận (2011, Tr.10), Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011 – 2020
18 Sở VHTT&DL Bình Thuận (2011, Tr.45), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Nguồn: Tác giả tự lập theo số liệu Cục thống kê tỉnh Bình Thuận
Hình 3.1 Thu nhập bình quân tháng theo giá thực tế của 5 nhóm thu nhập
Hình 3.2 Tỷ lệ (%) hộ nghèo tỉnh Bình
Tại Bình Thuận, tỷ lệ lao động có trình độ đại học trở lên chỉ đạt 4.59%, trong khi đó, 33.95% lao động làm việc trực tiếp được đào tạo về du lịch, 44.47% chưa qua đào tạo, và 21.58% chỉ được bồi dưỡng ngắn hạn Điều này cho thấy ngành du lịch tại Bình Thuận đang thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực có chuyên môn nghiệp vụ.
Năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phương
3.2.1 Hạ tầng văn hóa – xã hội, y tế, giáo dục
3.2.1.1 Hạ tầng văn hóa – xã hội
Chất lượng cuộc sống cộng đồng đang bị ảnh hưởng bởi sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo, với hệ số chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% thấp nhất và cao nhất vẫn duy trì ở mức 5 lần từ 2002 đến 2006 và tăng lên 6.4 lần vào năm 2010 Mặc dù tỷ lệ hộ nghèo có giảm từ năm 2002, nhưng sự cải thiện không đáng kể và đã tăng cao lên 9.3% vào năm 2010, so với 4.9% năm 2009 Điều này cho thấy chính quyền tỉnh cần nghiêm túc xem xét lại vấn đề này trong chiến lược tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Lực lượng công an tỉnh đang tích cực bảo vệ an ninh và trật tự xã hội, đồng thời phối hợp với các doanh nghiệp du lịch để kiểm tra hộ chiếu và chứng minh nhân dân, cũng như cung cấp thông tin về tình hình tội phạm Điều này giúp các doanh nghiệp có biện pháp phòng chống hiệu quả Tuy nhiên, hiện tại chưa có kênh tiếp nhận và phản ứng nhanh chuyên biệt cho ngành du lịch nhằm bảo vệ quyền lợi và tài sản của du khách.
Kết quả khảo sát cho thấy thái độ phục vụ và sự thân thiện của cư dân địa phương đóng vai trò quan trọng trong quyết định lựa chọn điểm đến du lịch của du khách.
Mặc dù Bình Thuận có tiềm năng du lịch lớn, nhưng vẫn chưa tạo được sự an tâm và tin cậy cho du khách Năm 2010, tình hình an ninh đã có cải thiện, tuy nhiên mức độ cản trở tăng 0.5% so với năm trước Tình trạng đánh nhau, trộm cắp, chèo kéo và bán vé số gây khó chịu cho du khách vẫn diễn ra thường xuyên tại các khu vực ẩm thực và vui chơi giải trí.
Tập huấn văn hóa du lịch cho cư dân là cần thiết, vì hiện tại tại một số điểm du lịch như xã Thiện Nghiệp và xã Hàm Tiến, chưa có lớp tập huấn nào về thái độ ứng xử với khách du lịch Người dân chủ yếu tự tìm hiểu thông tin qua báo chí và nhiều người vẫn chưa nhận thấy lợi ích cụ thể từ du lịch, mà chỉ thấy mất đất, việc làm và giá cả tăng cao Sở VHTT&DL Bình Thuận cần xem xét vấn đề này, bởi hình ảnh điểm đến cạnh tranh không chỉ phụ thuộc vào cảnh quan mà còn vào nếp sống văn hóa và thái độ phục vụ của cư dân Theo khảo sát, 42.07% du khách cho rằng thái độ phục vụ rất quan trọng và 52.14% quan tâm đến sự thân thiện của người dân địa phương Hiện nay, Bình Thuận cần cải thiện không gian du lịch hấp dẫn hơn để thu hút du khách.
Năm 2010, tỉnh có 76/127 trạm y tế có bác sĩ, với tỷ lệ bình quân 5 bác sĩ/1 vạn dân Đến thời điểm này, 108/127 xã, phường đạt Chuẩn Quốc gia y tế và công suất sử dụng giường bệnh đạt 95% Tỷ lệ hộ gia đình chỉ khám chữa bệnh tại cơ sở y tế nhà nước là 41.7%, trong khi ở cơ sở tư nhân là 13.9% Nguyên nhân chọn cơ sở nhà nước thường là do có bảo hiểm y tế, gần nhà hoặc bệnh nặng, trong khi y tế tư nhân được ưu tiên vì sự thuận tiện, thái độ phục vụ tốt và thủ tục nhanh chóng Về chất lượng y tế, 53.9% hộ gia đình cho rằng chất lượng cải thiện so với năm trước, trong khi 45.8% cho rằng vẫn giữ nguyên.
Du khách đến Bình Thuận thường chọn y tế tư nhân do thời gian hạn chế và vấn đề bảo hiểm trái tuyến, với 83.88% là khách ngoài tỉnh Đối với khách quốc tế, nhiều resort tại Mũi Né hợp tác với bác sĩ địa phương, nhưng bác sĩ chỉ có mặt khi có thông báo từ quản lý resort, dẫn đến tình trạng không kịp thời trong một số trường hợp Điều này ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách về an toàn y tế, với chỉ 14.61% hài lòng, 17.88% không hài lòng và 53.65% cảm thấy bình thường.
19 Cục thống kê tỉnh Bình Thuận (2010)
Hình 3.4 Cơ cấu khách du lịch theo nơi thường trú
Hình 3.5 Đánh giá chất lượng dịch vụ mang lại sự an toàn cho du khách
Nguồn: Khảo sát của tác giả khóa lun, tài liu 24 of 102.
3.2.1.3 Hạ tầng giáo dục Đến năm 2011, tỉnh có 5 trường đào tạo và dạy nghề Nguồn nhân lực du lịch được quan tâm đào tạo dưới nhiều hình thức Tuy nhiên kết quả còn rất hạn chế Đội ngũ giảng viên thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng Chương trình đào tạo chưa chuẩn, nặng về lý thuyết, ít thực hành là nguyên nhân khiến lao động ngành du lịch vừa thiếu vừa yếu Đa số người học khi ra trường, DN đều phải đào tạo lại mới làm việc được (Phụ lục 8 Hiện trạng cơ sở vật chất của các cơ sở đào tạo năm 2011)
3.2.2 Chính sách tài khóa tín dụng và cơ cấu kinh tế
3.2.2.1 Cơ cấu kinh tế địa phương
Giai đoạn 2000 – 2010, cơ cấu GDP của tỉnh đã có sự chuyển dịch rõ rệt giữa ba nhóm ngành kinh tế chủ lực Cụ thể, tỷ trọng ngành nông lâm thủy sản giảm từ 42,0% năm 2000 xuống còn 21,0% năm 2010 Ngược lại, tỷ trọng ngành công nghiệp xây dựng tăng từ 22,7% lên 34,2% trong cùng thời gian, trong khi tỷ trọng ngành dịch vụ tăng từ 35,3% lên 44,8%, trở thành nhóm chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu GDP.
Giai đoạn 2000 – 2011, tổng GDP tỉnh tăng bình quân 11.77%/năm, với nhóm công nghiệp xây dựng dẫn đầu đạt 14.99%/năm, tiếp theo là nhóm dịch vụ với 14.65%/năm và nhóm nông lâm thủy sản với 7.45%/năm Tuy nhiên, số liệu hàng năm cho thấy sự tăng trưởng này thiếu bền vững và có xu hướng giảm sút.
Nguồn: Tác giả tự lập theo số liệu 2000 – 2004: NGTK BT (2005), 2005 – 2010: NGTK BT (2010)
Hình 3.8 Cơ cấu thu chi ngân sách tỉnh, 2001 – 2010 (Không tính thu từ dầu thô)
Nguồn: Tác giả tự lập theo số liệu CTK Bình Thuận
Hình 3.7 Tốc độ tăng trưởng GDP tỉnh BT và của 3 nhóm ngành, 2000 - 2011
Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2011 của UBND tỉnh BT, nhóm công nghiệp xây dựng giảm 1.6% và nhóm dịch vụ giảm 3.5% so với năm 2010 Dữ liệu được tổng hợp từ các năm 2000 đến 2010, bao gồm các tính toán liên quan đến thủy điện Hàm Thuận – Đa Mi.
3.2.2.2 Thu chi ngân sách địa phương
Trong giai đoạn 2006 – 2010, thu ngân sách địa phương đạt 30,705.160 tỷ đồng, tăng gấp 3.94 lần so với giai đoạn 2001 – 2005, với mức tăng bình quân 21.54%/năm Nếu không tính thu từ dầu thô, tổng thu ngân sách là 15,443.115 tỷ đồng, gấp 2.64 lần giai đoạn trước và tăng 19.87%/năm, đạt tỷ lệ huy động trên GDP là 10.9% Tổng chi ngân sách địa phương trong cùng giai đoạn là 15,116.858 tỷ đồng, gấp 2.49 lần so với giai đoạn 2001 – 2005, trong đó chi đầu tư phát triển chiếm 5,019.750 tỷ đồng, gấp 2.06 lần so với giai đoạn trước, tương đương 33.21% tổng chi ngân sách.
Trước tình hình lạm phát và chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, Bình Thuận đã chủ trương kiềm chế lạm phát bằng chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công và giảm bội chi ngân sách Ngân hàng Nhà nước - Chi nhánh Bình Thuận thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Đồng thời, tỉnh cũng tăng cường các biện pháp tăng thu ngân sách gắn với tiết kiệm chi, như tiết kiệm 10% chi thường xuyên trong 9 tháng cuối năm 2011, tạm dừng dự toán mua sắm và cắt giảm kế hoạch vốn đầu tư phát triển cho các dự án khởi công mới.
3.2.3.4 Chiến lược phát triển du lịch
Việc triển khai xây dựng hạ tầng trong khu quy hoạch Mũi Né đang diễn ra chậm chạp, với nhiều dự án nhỏ lẻ không có trục đường hướng biển và bãi tắm công cộng Sự chồng lấn về quy hoạch giữa các dự án du lịch, khai thác titan và nuôi trồng thủy sản đang gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động du lịch Các dự án khai thác titan không chỉ làm giảm chất lượng cảnh quan và môi trường du lịch, mà còn cản trở tiến độ triển khai các dự án du lịch khác, mở rộng quy mô dịch vụ và khả năng thu hút du khách.
Nguyên nhân của thực trạng hiện nay bao gồm chính sách khuyến khích đầu tư chưa đồng bộ và không phù hợp với từng vùng, dẫn đến việc chưa huy động được nhiều nguồn vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng, chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước Chính quyền tỉnh thiếu tầm nhìn chiến lược đa ngành trong quy hoạch phát triển kinh tế địa phương, trong khi quy hoạch chi tiết về du lịch chưa kịp thời và thiếu chất lượng Quản lý thực hiện quy hoạch không hiệu quả, cùng với sự thiếu phối hợp chặt chẽ giữa các Sở ngành, đã làm cho công tác đền bù giải tỏa mặt bằng chưa được giải quyết triệt để.
20 UBND tỉnh Bình Thuận (2011), Chương trình hành động (số 1069/CTr-UBND) triển khai thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ
Năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp
3.3.1 Môi trường kinh doanh và hạ tầng kỹ thuật
3.3.1.1 Điều kiện yếu tố đầu vào
3.3.1.1.1 Hạ tầng kỹ thuật cơ bản
22 Sở KH&ĐT Bình Thuận khóa lun, tài liu 28 of 102.
Hạ tầng kết nối du lịch quốc gia và quốc tế tại Bình Thuận bao gồm nhiều phương tiện giao thông quan trọng Đường hàng không hiện tại chỉ có sân bay Phú Quý phục vụ cho mục đích quốc phòng, chưa có sân bay du lịch Về đường bộ và đường sắt, quốc lộ 1A và đường sắt Thống Nhất kết nối Bình Thuận với các tỉnh phía Bắc và Nam, trong khi quốc lộ 28 và quốc lộ 55 nối Bình Thuận với các tỉnh phía Nam Tây Nguyên và Vũng Tàu Ga Mương Mán và ga Phan Thiết phục vụ các tàu khách và hàng hóa, với tuyến tàu khách Sài Gòn – Phan Thiết thúc đẩy phát triển du lịch Ngoài ra, đường ven biển ĐT719 và ĐT716 kết nối La Gi với Phan Thiết và Tuy Phong, tạo thuận lợi cho việc di chuyển và phát triển du lịch trong khu vực.
Hạ tầng kết nối nội v ng: Các tuyến đường ĐT715, ĐT720, ĐT766, QL1A – Mỹ Thạnh,
QL1A – Phan Sơn, Liên Hương – Phan Dũng, ĐT714 hiện còn nhiều đoạn cấp phối gây khó khăn cho lưu thông; và đường Lương Sơn – Đại Ninh
Hai tuyến đường ven biển hiện tại chưa đáp ứng đủ nhu cầu phát triển du lịch ven biển và cần được nâng cấp để kết nối với tuyến đường ven biển quốc gia Hạ tầng kết nối nội vùng cũng cần được cải thiện nhằm thu hút du khách từ Lâm Đồng, các tỉnh Tây Nguyên và Nam Lào Hiện tại, chưa có trục đường hướng biển, trong khi trung tâm Phan Thiết cách TP.HCM 198 km.
3 – 5 giờ để di chuyển cũng là một trở ngại đối với du khách khi đến với du lịch Bình Thuận
Hiện trạng hệ thống thoát nước tại nhiều khu vực còn rất yếu kém, chỉ có các khu công nghiệp, khu đô thị mới và một số khu du lịch được trang bị hệ thống thoát nước riêng Đối với phần lớn các khu vực khác, nước thải được xả thẳng ra sông suối mà không qua xử lý, dẫn đến tình trạng ô nhiễm Đặc biệt, nước thải từ một số khu du lịch không đạt tiêu chuẩn xử lý, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường.
Hiện trạng cấp điện hiện nay gây ra nhiều trở ngại cho doanh nghiệp, với 78.3% doanh nghiệp được khảo sát cho biết họ bị ảnh hưởng bởi mất điện vào năm 2010 Mặc dù tỷ lệ doanh nghiệp cảm nhận ảnh hưởng tương đối và đáng kể đã giảm 4.7% so với năm 2009, nhưng mức độ nghiêm trọng của tình trạng này lại tăng 0.1%, kèm theo đó là tỷ lệ hài lòng của doanh nghiệp giảm 2.6%.
Năm 2010, có 0.5% doanh nghiệp cho biết trình độ lao động là một trở ngại lớn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, trong khi 1% cho rằng đây là một cản trở rất nghiêm trọng Điều này cho thấy trình độ chuyên môn của người lao động chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường.
Hình 3.9 Số lao động làm việc trong các ngành KT - XH trong tổng số lao động trong độ tuổi lao động
Nguồn: Tác giả tự lập theo số liệu NGTK Bình Thuận
Ngành du lịch tại Bình Thuận đang chứng kiến sự gia tăng đáng kể của du khách quốc tế, đặc biệt là từ Nga và Đức Tuy nhiên, lực lượng lao động tại đây chủ yếu chỉ thông thạo tiếng Anh, trong khi nhu cầu cho các vị trí cán bộ quản lý, kỹ thuật viên và công nhân kỹ thuật bậc cao vẫn chưa được đáp ứng về cả số lượng lẫn chất lượng Mặc dù Bình Thuận có một nguồn lao động dồi dào, đặc biệt là lao động trẻ, với 28.49% là trẻ em từ 0-14 tuổi và 62.56% trong độ tuổi lao động, nhưng vẫn còn thiếu hụt trong việc đào tạo kỹ năng cho các ngành nghề kinh tế.
Tỉnh XH vẫn chưa khai thác hết tiềm năng lao động trong độ tuổi, dẫn đến tình trạng thiếu hụt lao động chủ yếu do vấn đề trong công tác đào tạo nghề.
Theo các báo cáo xếp hạng chỉ số NLCT cấp tỉnh giai đoạn 2005 – 2011, tỉnh Bình Thuận đứng thứ 2 trong khu vực, chỉ sau Vũng Tàu, và thứ 3 vào các năm 2006 và 2011 Giai đoạn 2005 – 2009, hạ tầng hành chính của tỉnh có nhiều cải thiện tích cực, đạt thứ hạng cao nhất là 11 vào năm 2009 Tuy nhiên, tỉnh đã liên tục rớt hạng xuống vị trí 28 vào năm 2010 và 40 vào năm 2011, phản ánh sự suy giảm chất lượng và năng lực điều hành kinh tế trong hai năm gần đây Nguyên nhân có thể do cơ chế chính sách chưa đồng bộ và tính ổn định chưa cao, cùng với tỷ lệ doanh nghiệp gặp khó khăn.
23 Sở VHTT&DL tỉnh BT (2011, Tr.27), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bình Thuận đến năm
2020 và tầm nhìn đến 2030 Đơn vị: người
Đánh giá năm 2010 cho thấy chính sách không ổn định đã gây cản trở nghiêm trọng đến kết quả tăng trưởng, với mức tăng chỉ đạt 1.1% so với năm trước Quá trình đăng ký giấy phép kinh doanh cũng gặp phải cản trở đáng kể, với mức tăng 0.5% và cản trở rất nghiêm trọng tăng 1% Kết quả khảo sát ý kiến doanh nghiệp về độ ổn định của chính sách và giấy phép kinh doanh được trình bày trong Phụ lục 13.
Chi phí tiếp cận vốn của doanh nghiệp vào năm 2010 đã giảm, nhưng cản trở trong việc vay vốn lại tăng 2.9% so với năm 2009 Mặc dù việc tiếp cận nguồn vốn đã trở nên dễ dàng hơn, nhưng lãi suất cao trong năm 2010 và 2011 đã gây khó khăn cho các doanh nghiệp Đầu năm 2012, chính sách tiền tệ chặt chẽ nhằm kiềm chế lạm phát đã dẫn đến việc các ngân hàng thắt chặt điều kiện cho vay, khiến nhiều doanh nghiệp không thể vay vốn do tình hình kinh doanh không thuận lợi.
Nhiều doanh nghiệp hiện nay sử dụng hình thức vay thế chấp, chủ yếu là thế chấp bằng đất đai Tuy nhiên, việc thu hồi vốn gặp khó khăn do sự phát triển không thuận lợi của thị trường bất động sản.
Hệ thống thông tin liên lạc đã được kết nối với mạng lưới thông tin quốc gia và quốc tế, với dịch vụ điện thoại và Internet được sử dụng phổ biến Tính đến cuối năm 2010, tỷ lệ thuê bao điện thoại cố định đạt 19.5 thuê bao/100 dân, trong khi thuê bao di động đạt 108 thuê bao/100 dân Số lượng thuê bao Internet đạt 34.4 nghìn, cho thấy tỷ lệ người sử dụng Internet ngày càng tăng.
Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo xếp hạng chỉ số NLCT cấp tỉnh, http://www.pcivietnam.org
Hình 3.10 Xếp hạng chỉ số NLCT tỉnh Bình Thuận, 2005 – 2011
Từ năm 2005 đến 2011, tỉnh Bình Thuận và các tỉnh lân cận đạt chỉ số NLCT 25% Kết quả khảo sát cho thấy 56.4% người tham gia biết đến du lịch Bình Thuận qua Internet, điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải nâng cấp các website quảng bá hình ảnh du lịch nhằm thu hút du khách.
3.3.1.2 Bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh công ty
Du lịch Việt Nam: Với 3.9 điểm, diễn đàn kinh tế thế giới đã nâng hạng NLCT lên vị trí
Vào năm 2023, Việt Nam đạt vị trí 80 trong bảng xếp hạng, giảm từ 89 vào năm 2009 Mặc dù vẫn đứng sau Singapore, Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia và Indonesia, nhưng Việt Nam có mức độ tăng trưởng thứ hạng đáng kể so với một số quốc gia trong khu vực như Philippines, Campuchia và Bangladesh.
2011 tăng được 9 bậc so với năm 2009 Trong khi đó Malaysia giảm 3 bậc, Thái Lan giảm
Du lịch Việt Nam đang có sự khởi sắc so với các nước lân cận trong khu vực, với chỉ số năng lực cạnh tranh du lịch (NLCT) ngày càng được cải thiện Trong khi đó, thứ hạng của Việt Nam và Singapore vẫn giữ nguyên ở 2 bậc.
Du lịch Bình Thuận: Số lượng cơ sở kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh tăng từ năm