1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận đạo đức học của kant qua tác phẩm “phê phán lý tính thực hành”

72 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đạo Đức Học Của Kant Qua Tác Phẩm “Phê Phán Lý Tính Thực Hành”
Tác giả Ngô Đức Thắng
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Quang Hưng
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đhqghn
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 617,26 KB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: NHỮNG ĐIỀ U KI Ệ N VÀ TI ỀN ĐỀ HÌNH THÀNH ĐẠ O ĐỨ C H Ọ C KANT (11)
    • 1.1. B ố i c ả nh l ị ch s ử (11)
    • 1.2. T ổ ng quan v ề tư tưởng đạo đức trướ c Kant (15)
  • CHƯƠNG 2: NHỮ NG N ỘI DUNG CƠ BẢ N C ỦA ĐẠO ĐỨ C H Ọ C KANT (41)
    • 2.1. Quan ni ệ m c ủ a Kant v ề hành vi đạo đứ c (41)
    • 2.2. M ệ nh l ệ nh tuy ệt đố i – nguyên t ắc cơ bả n c ủa đạo đứ c h ọ c Kant (51)
    • 2.4. Ý nghĩa đạo đứ c h ọ c Kant (0)

Nội dung

NHỮNG ĐIỀ U KI Ệ N VÀ TI ỀN ĐỀ HÌNH THÀNH ĐẠ O ĐỨ C H Ọ C KANT

B ố i c ả nh l ị ch s ử

Immanuel Kant sinh ngày 22 tháng 4 năm 1724 tại Konigsberg trong một gia đình trung lưu gốc Scotland Ông là con thứ tư của Johann Georg Kant, một thợ chế biến đai da, và Anna Regina thuộc họ Reuter Trong số tám anh chị em, chỉ bốn người sống đến tuổi trưởng thành Gia đình ông rất sùng đạo, với mẹ ông có quan điểm phóng khoáng về giáo dục Thời thơ ấu, Kant chịu ảnh hưởng từ mẹ, người có đức tin mạnh mẽ và lối sống ngăn nắp Ban đầu, bố mẹ ông mong muốn ông trở thành mục sư, vì vậy họ đã gửi ông vào trường trung học Latinh Kant nhập học tại Friedrichskollegium năm 1732 và bắt đầu chương trình cao học tại đại học Albertina vào năm 1740.

Mặc dù ban đầu đăng ký học Thần học, Kant lại có niềm đam mê mạnh mẽ với Khoa học tự nhiên Dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Martin Knutzen, ông được giới thiệu về tư tưởng của Leibniz và Newton, và từ sớm đã quan tâm đến các môn học như toán học, vật lý, cơ học và vũ trụ học Tại trường, Kant đã tiếp cận với các lý thuyết của Newton, Descartes và tư tưởng chính trị của các nhà khai sáng Pháp Ông nghiên cứu sâu sắc các hệ thống triết học trước đó, đặc biệt là của các triết gia Anh như Locke và Hume, cũng như các tác phẩm của Voltaire Vào mùa thu năm 1740, ở tuổi 16, Kant đã quyết định chuyển từ việc học văn học cổ điển sang triết học tại trường đại học Konigsberg.

Kant tốt nghiệp đại học với thành tích xuất sắc, trình bày luận văn mang tên "Những suy nghĩ về sự đánh giá đúng đắn của lực sống" Ở tuổi 21, ông đã nêu rõ nguyên tắc sống của mình, nhấn mạnh rằng điều quý giá nhất là không chỉ đi theo lối mòn mà phải dũng cảm chọn con đường mà nhân loại cần phải theo.

Suốt cuộc đời, Kant sống theo nguyên tắc kiên định và đạt được nhiều thành công trong sự nghiệp Sau khi tốt nghiệp đại học, ông làm gia sư cho các gia đình quý tộc gần 10 năm, vừa để nuôi sống bản thân, hỗ trợ gia đình, vừa chuẩn bị cho nghiên cứu khoa học trong tương lai Khoảng thời gian này vô cùng quý giá, giúp Kant tích lũy tri thức cho sự nghiệp sau này.

Năm 1754, Kant trở về Konigsberg và tiếp tục chương trình đại học, và chỉ một năm sau, ông công bố tác phẩm quan trọng đầu tiên mang tên Thông sử tự nhiên và Thiên thể luận Cùng năm đó, ông được bổ nhiệm làm phó giáo sư tại Konigsberg, bắt đầu giảng dạy nhiều bộ môn như Luận lí, Siêu hình, Nhân loại, Triết học đạo đức, Thần học tự nhiên, Toán, Vật lí, Lực, Địa lí, Sư phạm và Luật tự nhiên Đến năm 1770, ở tuổi 46, ông được bổ nhiệm làm giáo sư logic và siêu hình học tại trường Đại học Tổng.

Hợp Konigsberg là một nhà triết học nổi tiếng, người đã giảng dạy nhiều môn khoa học với sự nhiệt huyết và cần mẫn, được sinh viên yêu quý Ông để lại một hệ thống triết học độc đáo và sâu sắc, được giới triết học công nhận và đánh giá cao Ban đầu, triết học của ông gắn liền với khoa học tự nhiên, sau đó ông ngày càng chú trọng đến vấn đề con người Kant thể hiện sự kinh ngạc trước vẻ đẹp của bầu trời đầy sao và sức mạnh của quy tắc đạo đức trong cuộc sống con người.

Năm 1797, sau khi vua Friedrich Wilhelm II qua đời, sức khỏe của Kant suy giảm, buộc ông phải nghỉ hưu và sống những năm cuối đời một cách ung dung Trong sự nghiệp khoa học, Kant đã đạt nhiều thành tựu, được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Hoàng gia Phổ năm 1786 và được cả Viện Hàn lâm khoa học Italia và Paris công nhận vào năm 1798 Ông có lối sống giản dị, hòa nhã và luôn thích giao lưu, trong khi những bài giảng của ông lại rất uyên bác và thu hút sinh viên.

Mặc dù không rời khỏi quê hương, Kant vẫn để lại dấu ấn lớn lao và nổi tiếng Ông qua đời vào ngày 12 tháng 2 năm 1804, với nụ cười trên môi và câu nói "thế là tốt rồi" khi đang hoàn thành một tác phẩm Tin tức về sự ra đi của ông đã thu hút đông đảo người dân từ mọi tầng lớp đến viếng, mong muốn được nhìn thấy nhân vật vĩ đại ấy lần cuối Cả thành phố và trường đại học tổng hợp đã tổ chức lễ an táng cho ông như một vị hoàng đế, một sự kiện chưa từng có ở Konigsberg Trong lời giới thiệu tác phẩm “Phê phán lý tính thực hành”, ông đã để lại những tư tưởng sâu sắc cho nhân loại.

Bùi Văn Nam Sơn nhận xét rằng Kant là một huyền thoại sống, chiếm lĩnh các giảng đường đại học châu Âu cho đến cuối đời và ảnh hưởng của ông vẫn còn sâu đậm đến ngày nay Việc đọc Kant là một sự vất vả cần thiết, và có hiểu biết về ông là hành trang bắt buộc trong mọi nẻo đường suy tưởng.

Vào nửa cuối thế kỷ XVIII, các nước châu Âu, đặc biệt là Tây Âu, đã chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ trong lịch sử với những thành tựu kinh tế - xã hội mới, khẳng định sự thống trị của giai cấp tư sản và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Sự phát triển này đã làm tan rã các quan hệ kinh tế phong kiến, tạo ra những nhu cầu xã hội và cá nhân mới Trong bối cảnh đó, nước Đức vẫn là một quốc gia nông nghiệp phân tán, kém phát triển so với các nước như Hà Lan, Anh, và Pháp, nơi đã trải qua cách mạng tư sản và có quan hệ tư bản phát triển Đức thời kỳ này chỉ mới bắt đầu bước vào giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.

Trong bối cảnh lịch sử đầy biến động, nước Anh trở thành quốc gia tư bản hùng mạnh nhờ cách mạng tư sản và cuộc cách mạng công nghiệp, trong khi Pháp tiến nhanh theo con đường tư bản chủ nghĩa sau cách mạng tư sản năm 1789 Ngược lại, Đức lại là một nước phong kiến lạc hậu với chế độ quân chủ chuyên chế phân quyền, gặp phải sự phân hóa chính trị và kinh tế Triết học cổ điển Đức, đặc biệt là triết học Kant, ra đời trong hoàn cảnh phức tạp này Cuối thế kỷ XVIII, xã hội Đức vẫn nghèo nàn, phát triển trì trệ so với các nước Tây Âu, dưới sự thống trị của tập đoàn phong kiến chuyên quyền và độc đoán.

Kinh tế Đức thời kỳ này chủ yếu bị chi phối bởi phương thức sản xuất phong kiến, với ruộng đất tập trung trong tay địa chủ Những tàn dư của chế độ nông nô và sự phụ thuộc giữa các cát cứ nhỏ bé cùng các thể chế chính trị lạc hậu đã kìm hãm sự phát triển kinh tế Hệ quả là đời sống nhân dân nghèo nàn và lạc hậu, phản ánh một nền kinh tế manh mún và phân tán.

Vua Friedrich Wilhelm II, đứng đầu triều đình Phổ, là một nhà lãnh đạo bảo thủ và độc đoán, nhằm củng cố quyền lực và duy trì chế độ quân chủ phong kiến, điều này đã kìm hãm sự phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa của đất nước Đồng thời, giai cấp tư sản Đức còn nhỏ bé và yếu ớt, thiếu tiềm lực kinh tế và chính trị để giành quyền lực và khẳng định vị thế của mình.

Dưới chế độ quân chủ chuyên chế, tư tưởng thần học chiếm ưu thế, khiến khoa học không có cơ hội phát triển Khi khoa học, đặc biệt là vật lý, sinh học và y học, bắt đầu có những bước tiến mới, chủ nghĩa duy vật lại bị cản trở bởi ảnh hưởng của thần quyền.

Thần học được giảng dạy trong các trường đại học tổng hợp, còn các khoa học khác và triết học chỉ là công cụ biện hộ và bảo vệ cho thần học Triết học thời kỳ này thỏa hiệp với tôn giáo, thậm chí là nhượng bộ tôn giáo Có thể khái quát bức tranh toàn cảnh xã hội Đức lúc này u ám và đen tối dưới cái vỏ bọc tôn giáo và thần quyền Ăng ghen đánh giá thời kỳ này: “mọi thứ đều nát bét, lung lay xem chừng sắp sụp đổ, thậm chí chẳng còn một tia hi vọng chuyển biến tốt lên, vì dân tộc không còn đủ sức vứt bỏ cái thây ma rữa nát của chếđộ đã chết rồi” [35, 754].

T ổ ng quan v ề tư tưởng đạo đức trướ c Kant

Tuy lạc hậu về kinh tế và chính trị, nước Đức thời kỳ này đã đạt được sự phát triển chưa từng có về mặt triết học, văn hóa và nghệ thuật Đây là quê hương của nhiều nhà tư tưởng, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Goethe, Schiller v.v họ một mặt tiếp thu những quan điểm của Nicôlai Kuzan, Leibniz, mặt khác được sự cổvũ to lớn của tư tưởng khai sáng và văn hóa Pháp thế kỷ XVIII Cách mạng tư sản Pháp năm 1789 đã thức tỉnh giai cấp tư sản Đức đấu tranh vì một trật tự xã hội mới ở Đức Thể hiện nguyện vọng đó của giai cấp tư sản, các tác phẩm của Goethe, Schiller, Kant, Phíchtơ đều toát lên một tinh thần phẫn nộ chống lại sự trì trệ và bất công của xã hội Đức thời đó Để giải quyết những vấn đề bất công trong xã hội Kant bàn tới đạo đức học Chưa có những nghiên cứu nào cho thấy Kant bị ảnh hưởng bởi những học thuyết về đạo đức trước đó, nhưng để nghiên cứu đạo đức học của Kant, chúng ta cũng cần tìm hiểu về những học thuyết đạo đức trước ông

Bắt đầu nền lịch sử Triết học từ thời Hi Lạp cổ đại Triết học Hy lạp cổ đại đã đưa ra những tư tưởng biện chứng sâu sắc trong toàn bộ triết học cổđại Đây là giai đoạn triết học tự nhiên thấm đượm tinh thần của phép biện chứng tự phát, khi mà thế giới và giới tự nhiên được xem như một chỉnh thể dưới cái nhìn và góc độ quan sát trực tiếp của các nhà triết học Đạo đức thời kỳ tiền Socrates là vấn đề tìm sự quân bình giữa hai bản năng

“tinh thần” (spirit) và “dục vọng” (passion) của con người Cũng giống như một kỵ mã phải điều khiển hai con ngựa chiến, mỗi con muốn kéo cỗ xe ngựa đi theo hướng riêng của nó, thì con người tìm hạnh phúc qua cách điều khiển cả hai đi theo hướng mình muốn Tinh thần cao quá độ có thể trở thành hiếu thắng làm mất trí khôn, nhưng dục vọng quá nhiều cũng sẽ làm tê liệt khả năng phán đoán của con người

Phái khắc kỷ: Muốn tìm hạnh phúc chúng ta cần kiểm soát những yếu tố nằm trong khả năng của mình (thái độ, phán đoán, niềm tin); và tránh tìm cách thay đổi những điều ngoài tầm tay của chúng ta (đau khổ, cái chết) Hạnh phúc con người chính là sự “khôn ngoan”, là biết cách sống cho phù hợp với những qui luật mà lý trí khám phá ra về vũ trụ và thế giới bên ngoài

Zeno xứ Citium, giống như Epicurus, là một nhà luân lý học nổi tiếng, đã dành những năm cuối đời tại Athens để nghiên cứu triết học Tại đây, ông học hỏi từ các triết gia phái Cynic, đặc biệt là Diogenes thành Sinope.

Zeno được biết đến là người sáng lập chủ nghĩa khắc kỷ, một trường phái triết học nổi bật vào cuối thời kỳ Hy Lạp hóa và trong thời kỳ Đế chế La Mã.

Epicurus cho rằng hạnh phúc đạt được qua những khoái lạc nhỏ bé là mục tiêu của cuộc sống, trong khi Zeno và các triết gia khắc kỷ lại tin rằng vũ trụ được điều khiển bởi một đấng toàn năng với những quy luật công bằng Họ cho rằng chúng ta không thể kiểm soát vũ trụ hay những sự kiện xảy ra với mình, mà chỉ có thể kiểm soát tư tưởng và mong muốn của bản thân Chủ nghĩa khắc kỷ nhấn mạnh rằng thay vì tìm cách kiểm soát những điều bên ngoài, chúng ta nên tập trung vào cách phản ứng của mình trước vũ trụ Nỗi buồn và sự thống khổ thường phát sinh từ những khát khao không thực tế, dẫn đến sự thất vọng không thể tránh khỏi.

Những người theo chủ nghĩa khắc kỷ khuyên chúng ta nên từ bỏ những mong muốn thường nhật ngay từ đầu, coi đó là đỉnh cao của lý trí Họ tin rằng việc phủ nhận những khao khát và khoái lạc không thực tế sẽ dẫn đến một cuộc sống yên bình và hòa hợp với tự nhiên.

Phái ngụy biện từ chối mọi giá trị đạo đức truyền thống, khẳng định rằng con người là thước đo cho bản thân Họ sử dụng khả năng hùng biện để chiến thắng trong tranh luận và thuyết phục người khác chấp nhận "chân lý" của mình Theo họ, chân lý thuộc về kẻ thắng cuộc, trong khi tương đối và hoài nghi là hai nguyên tắc cơ bản của trường phái này.

Protagoras, đại diện cho phái ngụy biện, cho rằng tri thức của con người bị giới hạn bởi khả năng của chính họ Ông nổi tiếng với câu nói: "Con người là thước đo của mọi vật", nghĩa là mọi thứ tồn tại chỉ khi con người công nhận sự tồn tại của chúng.

Theo Protagoras, tri thức của con người bị giới hạn bởi các tri giác khác nhau, và mỗi người có một cách cảm nhận riêng Không tồn tại tiêu chuẩn chung để xác định tri giác của ai đúng hay sai Mỗi cá nhân chỉ nhận biết được những đặc tính mà họ cảm nhận, không thể phát hiện bản chất "thực" của sự vật Việc phân biệt giữa "biểu hiện bên ngoài" và "thực tại" là điều không thể Ví dụ, khi một người cảm nhận cơn gió lạnh, điều đó không chỉ đơn thuần là cảm giác mà còn phản ánh thực tế rằng cơn gió ấy thực sự lạnh, chứ không phải chỉ vì cảm nhận của một người khác cho rằng nó ấm.

Protagoras kết luận rằng tri thức và phán đoán đạo đức là tương đối, tùy thuộc vào từng cá nhân Ông cho rằng có thể tồn tại những nguyên tắc phản ánh ước muốn chung của các nền văn hóa về một trật tự đạo đức, nhưng không có quy luật tự nhiên nào đồng nhất cho hành vi con người mà mọi dân tộc có thể khám phá Luật pháp và quy tắc đạo đức chỉ là dựa trên tập quán, không có đúng sai tuyệt đối, ngoại trừ những nhận xét của lương tri về tính "lành mạnh" của chúng Tuy nhiên, để duy trì một xã hội hòa bình và trật tự, người dân cần tôn trọng và tuân thủ các phong tục, luật lệ, và quy tắc đạo đức mà truyền thống đã gìn giữ.

Socrates (470-399 TCN) là triết gia nổi bật trong triết học truy vấn và là công dân mẫu mực của thành Athen, Hy Lạp cổ đại Trước ông, các triết gia tập trung vào vũ trụ luận và các vấn đề khoa học tự nhiên Tuy nhiên, Socrates đã chọn một con đường riêng, tập trung vào con người và đạo đức, với luận đề nổi tiếng: “Con người, hãy tự nhận thức chính mình” Ông cho rằng triết học không chỉ là lý thuyết suông mà là phương tiện giúp con người hiểu cách sống đúng đắn Tri thức về con người, theo Socrates, cần phải liên quan đến cái thiện, và đạo đức chính là tri thức về hành vi đẹp trong quan hệ xã hội.

Socrates phản biện lại nhóm Ngụy Biện bằng cách khẳng định rằng tri thức cần gắn liền với khả năng nhận thức và thực hành điều thiện, nhằm mang lại hạnh phúc cho bản thân và người khác Khủng hoảng xã hội tại Athens, do thất bại trước Persia, đã đặt ra nhiều câu hỏi về cách sống, giáo dục giới trẻ, và mối quan hệ giữa sự thiện và niềm tin tôn giáo Đây là thời điểm thích hợp để xem xét lại nền tảng đạo đức, cũng như cách chúng ta suy nghĩ và tìm kiếm chân lý để hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn Socrates không chọn giữa hai quan điểm về sự thiện là “bẩm sinh” hay là kết quả của “tài tranh cãi”, mà thay vào đó, ông đề xuất con đường thứ ba, đó là thông qua đối thoại, phản tỉnh và biện chứng pháp, con người sẽ dần nâng cao nhận thức về chân lý chung.

Socrates đã nỗ lực quảng bá các quan niệm đạo đức của mình thông qua việc giao tiếp với quần chúng ở nhiều nơi tại Athen, thu hút sự quan tâm của người dân và ảnh hưởng đến đời sống tinh thần xã hội Tuy nhiên, hoạt động này cũng gây ra sự tức giận trong giới giàu có, góp phần dẫn đến cái chết bi kịch của ông.

NHỮ NG N ỘI DUNG CƠ BẢ N C ỦA ĐẠO ĐỨ C H Ọ C KANT

Ngày đăng: 24/07/2021, 22:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w