Mục đích của Khoá luận nhằm xác định được cấu tạo của các vị trí khác nhau trên cây Vầu tuổi 1.Xác định được mối quan hệ giữa vị trí trên thân cây đến tính chất vật lý của Vầu tuổi 1. Mời các bạn cùng tham khảo!
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự biến động về cấu tạo và tính chất vật lý theo vị trí cây tre vầu tuổi 1
- Đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí trên cây đến cấu tạo và tính chất vật lý của cây tre vầu tuổi 1
- Đề tài nghiên cứu cấu tạo và tính chất vật lý tại các vị trí theo chiều cao (gốc, thân, ngọn)
- Đề tài sử dụng các thiết bị thí nghiệm tại khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian : từ ngày 15/1/2019 đến ngày 25/5/2019
- Địa điểm lấy mẫu: Xã Như Cố, Huyện Chợ Mới, Tỉnh Bắc Kạn
- Địa điểm nghiên cứu: tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên.
Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí trên cây đến mật độ của bó mạch cây tre vầu tuổi 1
- Nghiên cưú ảnh hưởng của vị trí trên cây đến kích thước của bó mạch củatre vầu tuổi 1
- Nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí trên cây đến chiều dài sợi của vầu tuổi 1
- Nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí trên cây đến độ ẩm của cây tre vầu tuổi 1
- Nghiên cứu ảnh hưởng của vi trí trên cây đến khối lượng thể tích của cây tre vầu tuổi 1
- Nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí trên cây đến độ co rút của cây tre vầu tuổi 1.
Phương pháp nghiên cứu
Tại nơi lấy mẫu, chọn 5 cây tre vầu tuổi 1 không khuyết tật để đảm bảo tính đại diện cao Sau khi chặt hạ, cây tre được mang về phòng thí nghiệm để xác định độ ẩm và tiến hành bảo quản nhằm tránh mối mọt, mục, mốc Thí nghiệm trên cây tre vầu tuổi 1 được thực hiện tại các vị trí khác nhau trên thân cây, với việc xác định vị trí gốc, thân, ngọn được bố trí theo hình 3.1.
Hình 3.1.Phân loại vị trí xác định các phần của cây tre vầu
Bắt đầu tính từ lóng thứ 2 từ dưới lên đến lóng thứ 31 được chia làm 3
Xác định thành phần hóa học
Xác định tính chất vật lý và cơ học
Bài viết đề cập đến cấu trúc của cây tre vầu, chia thành 26 phần, bao gồm phần gốc, phần thân và phần ngọn, mỗi phần có 10 lóng Trong đó, lóng thứ 2 và 3 được sử dụng để xác định tính chất vật lý và cơ học, trong khi lóng dưới cùng dùng để xác định thành phần hóa học Đặc biệt, độ ẩm của tre vầu được xác định ngay sau khi mẫu được mang về phòng thí nghiệm.
3.4.2 Quy định cơ bản phương pháp thử nghiệm
* Kiểm tra và yêu cầu chế tạo mẫu thử theo tiêu chuẩn GB/T 15780-1995
Mẫu thử nghiệm không được có khuyết tật và cần đảm bảo hai mặt đường kính tương đối vuông vức và song song, trong khi hai mặt cong phải giữ nguyên trạng phần cật tre và ruột tre Mặt đường kính và mặt đầu cần vuông góc với nhau, và mỗi mẫu thử cần được ghi số hiệu rõ ràng Đối với độ chính xác, chiều dài mẫu thử cho phép sai số là ±1.0mm, chiều rộng cho phép sai số là ±0.5mm, và độ lệch tương đối của chiều rộng trên toàn bộ chiều dài mẫu thử không được vượt quá 0.2mm.
* Điều chỉnh tỷ lệ độ ẩm mẫu thử
Để thử nghiệm độ ẩm của mẫu thử, cần hong khô trong môi trường có nhiệt độ và độ ẩm ổn định, lý tưởng là ở phòng có nhiệt độ 20 ± 2°C và độ ẩm tương đối 65 ± 5% Tỷ lệ độ ẩm của mẫu thử nên được điều chỉnh đến mức 12% Nếu nhiệt độ môi trường thay đổi, cần điều chỉnh độ ẩm tương đối tương ứng để duy trì tỷ lệ ẩm của mẫu thử ở mức 12%.
* Điều kiện phòng thực nghiệm ( Để ở độ ẩm 12-13%)
Phòng thực nghiệm nên duy trì nhiệt độ ở mức 20 ± 2 °C và độ ẩm tương đối là 65 ± 5% Nếu không thể duy trì các điều kiện này, mẫu thử cần được điều chỉnh tỷ lệ độ ẩm và sau đó được đưa vào thùng kín trước khi tiến hành thử nghiệm.
* Hiệu chỉnh thiết bị thử nghiệm
Máy thử nghiệm, cùng với các thiết bị đo lường chính xác và dụng cụ trắc thử khác, cần phải tuân thủ quy trình kiểm định định kỳ của bộ phận đo lường quốc gia để đảm bảo chất lượng và độ tin cậy.
- Kẹp đo kích thước, chính xác đến 0.02 mm
- Lò sấy, có thể duy trì nhiệt độ 100 5 0 C
- Bình thủy tinh không hút ẩm, bình cân
- Kính hiển vi điện tử
Hình 3.2 Cân điện tử Hình 3.3 Kẹp đo kích thước
Hình 3.4 Máy sấy Hình 3.5 Bình thủy tinh, lọ đựng mẫu vật
Hình 3.6 Kính hiển vi điện tử
3.4.4 Phương pháp thử nghiệm vật liệu tre vầu
3.4.4.1 Xác định độ ẩm mẫu
So sánh khối lượng mẫu thử khô hoàn toàn với mẫu thử chứa độ ẩm, theo tỷ lệ phần trăm
Chọn lựa ở trong các thanh thử hoặc các mẫu thử sau khi thử nghiệm cơ học, vật lý Các dăm tre Vầu cần phải được xử lý sạch sẽ
- Bước 1: Sau khi chọn mẫu thử lập tức tiến hành cân, chính xác đến
0.01g Ghi kết quả vào phụ lục A - bảng ghi chép xác định độ ẩm
Đưa mẫu thử vào lò sấy ở nhiệt độ 100 5 0 C trong 4 giờ Sau đó, tiến hành cân 1-2 mẫu thử và tiếp tục cân mỗi 2 giờ cho đến khi chênh lệch giữa hai lần cân sau cùng không vượt quá 0.01g, lúc này có thể xác nhận mẫu đã khô hoàn toàn.
Bước 3: Lấy mẫu thử từ lò sấy, cho vào bình cân và bình thủy tinh chứa chất hút ẩm, sau đó đậy nắp kín Khi mẫu nguội đến nhiệt độ phòng, tiến hành cân mẫu trong bình cân với độ chính xác 0.01g.
* Tính toán kết quả Độ ẩm của mẫu thử căn cứ công thức để tính toán, chính xác đến 0.1%
Trong đó: w - Độ ẩm mẫu thử (%); m 1 - Khối lượng mẫu thử lúc thử nghiệm (g); m 0 - Khối lượng mẫu thử lúc khô hoàn toàn (g)
3.4.4.2 Xác định tính co rút
Khi vật liệu tre có độ ẩm thấp hơn điểm bão hòa sợi, kích thước và thể tích của nó sẽ co lại Sự thay đổi về thể tích và kích thước này từ trạng thái ướt sang khô hoàn toàn phản ánh tính co rút thể tích và co rút sợi của tre khi khô.
- Chẻ tạo thanh thử, căn cứ vào quy dịnh điều 2.2
Trên mỗi thanh thử, cần chọn một mẫu thử được tạo ra từ thanh thử có độ ẩm bão hòa, với kích thước 10mm x 10mm x t mm (độ dày thành tre) Việc xác định mật độ không được phép sử dụng chung mẫu thử.
- Kiểm tra và yêu cầu chế tạo mẫu thử căn cứ vào quy định điều 3.4.2.1
* Xác định co rút các chiều
Bước 1: Trên mặt đường kính của mẫu thử, vạch một đường thẳng vuông góc với mặt cật và mặt ruột tre, đánh dấu hai điểm tròn ở gần hai đầu của đoạn thẳng Đồng thời, tại vị trí trung tâm của mặt ruột tre, cũng đánh dấu một điểm tròn Sử dụng thước kẹp để đo kích thước tại các điểm tròn đã đánh dấu trên mẫu thử theo các hướng đường kính và tiếp tuyến, sau đó ghi chép vào phụ lục A.
30 ghi chép xác định tính co rút, chính xác đến 0.02mm
Sau khi mẫu thử được đặt trong môi trường quy định, cần làm khô bằng không khí trong 10 ngày Sau đó, tiến hành đo kích thước theo hướng tiếp tuyến bằng 2 đến 3 mẫu thử, và tiếp tục đo mỗi 2 ngày cho đến khi sai số giữa hai lần đo liên tiếp không vượt quá 0.02mm, lúc này mẫu được coi là đã khô Cuối cùng, xác định kích thước mẫu thử theo đường kính và tiếp tuyến, đồng thời cân khối lượng mẫu thử với độ chính xác 0.01g.
Để xác định độ ẩm mẫu, đưa mẫu thử vào lò sấy và thực hiện quá trình sấy khô theo quy định đã nêu Đồng thời, cần cân để xác định khối lượng khô hoàn toàn của mẫu thử Bước đầu tiên là phân biệt kích thước theo hướng đường kính và hướng tiếp tuyến.
Bước 4: Trong quá trình xác định, nếu mẫu thử phát sinh nứt nẻ hoặc hình dạng hơi thay đổi cần vứt bỏ
Mẫu thử được theo dõi từ trạng thái ướt đến khi khô hoàn toàn, với độ co rút được đo chính xác theo cả hướng đường kính và hướng tiếp tuyến, đạt độ chính xác lên đến 0.1% dựa trên công thức tính toán.
Trong đó: B max - Độ co rút khô hoàn toàn của mẫu thử theo hướng đường kính hoặc tiếp tuyến, %;
L max - Giá trị bình quân kích thước mẫu thử ướt theo hướng đường kính hoặc tiếp tuyến tại vị trí cật tre, ruột tre, mm;
L 0 - Giá trị bình quân kích thước mẫu thử khô hoàn toàn theo hướng đường kính hoặc tiếp tuyến tại ví trí cật tre, ruột tre, mm
Mẫu thử sẽ được theo dõi từ trạng thái ướt đến khi khô hoàn toàn bằng không khí Độ co rút khô theo các hướng đường kính hoặc tiếp tuyến sẽ được xác định dựa trên công thức tính cụ thể.
Trong đó: B w - Độ co rút khô của mẫu thử theo hướng đường kính hoặc tiếp tuyến, %;
L w - Giá trị bình quân kích thước mẫu thử khô theo hướng đường kính hoặc tiếp tuyến tại vị trí cật tre, ruột tre, mm