1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển du lịch tỉnh an giang trong liên kết vùng phụ cận

238 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Du Lịch Tỉnh An Giang Trong Liên Kết Vùng Phụ Cận
Tác giả Nguyễn Phú Thắng
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Sơn, TS. Trương Văn Tuấn
Trường học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Địa lí học
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 238
Dung lượng 8,58 MB

Cấu trúc

  • 1. Lí do chọn đề tài (11)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu (12)
  • 3. Nhiệm vụ nghiên cứu (12)
  • 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu (12)
  • 5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu (14)
  • 6. Lịch sử nghiên cứu (20)
  • 7. Đóng góp mới của đề tài (28)
  • 8. Cấu trúc đề tài (28)
  • CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRONG LIÊN KẾT VÙNG (29)
    • 1.1. Cơ sở lí luận (29)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn (55)
  • CHƯƠNG 2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH AN GIANG TRONG LIÊN KẾT VÙNG PHỤ CẬN (62)
    • 2.1. Khái quát về tỉnh An Giang và vùng phụ cận (62)
    • 2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch tỉnh An Giang (66)
    • 2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết du lịch giữa An Giang và vùng phụ cận (79)
    • 2.4. Đánh giá chung về các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch tỉnh An Giang (88)
    • 3.1. Phát triển du lịch theo ngành (90)
    • 3.2. Phát triển du lịch theo lãnh thổ (104)
    • 3.3. Thực trạng liên kết du lịch giữa An Giang với vùng phụ cận (117)
    • 3.4. Đánh giá chung thực trạng phát triển du lịch tỉnh An Giang trong liên kết với vùng phụ cận (129)
  • CHƯƠNG 4. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH (134)
    • 4.1. Cơ sở khoa học của định hướng (134)
    • 4.2. Định hướng phát triển du lịch tỉnh An Giang trong liên kết vùng phụ cận (141)
    • 4.3. Giải pháp phát triển du lịch tỉnh An Giang trong liên kết vùng phụ cận (147)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (177)

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu

Bài luận án này vận dụng lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch (PTDL) trong liên kết vùng, tập trung phân tích thực trạng PTDL của tỉnh An Giang trong mối liên kết với VPC Từ những phân tích đó, bài viết đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển du lịch của tỉnh trong liên kết vùng, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan một số vấn đề lí luận và thực tiễn về PTDL và PTDL trong liên kết vùng để vận dụng vào địa bàn nghiên cứu

- Xác định các tiêu chí đánh giá sự PTDL (theo ngành và theo lãnh thổ) trong liên kết VPC áp dụng vào địa bàn nghiên cứu

- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến PTDL tỉnh An Giang trong liên kết VPC

- Phân tích thực trạng PTDL và PTDL trong liên kết với VPC tỉnh An Giang dưới góc độ Địa lí học

- Đề xuất định hướng và giải pháp cơ bản nhằm PTDL tỉnh An Giang trong mối liên kết với VPC.

Giới hạn phạm vi nghiên cứu

* Về nội dung nghiên cứu:

Luận án chủ yếu tập trung vào bốn nhóm nhân tố quan trọng: Thị trường đầu ra (TNDL), cơ chế chính sách phát triển liên kết vùng, cơ sở hạ tầng (CSHT) – cơ sở vật chất kỹ thuật (CSVCKT) và công nghệ, cùng với vị trí địa lý, khoảng cách và các yếu tố hỗ trợ khác.

+ Tập trung phân tích thực trạng PTDL tỉnh An Giang dưới góc độ Địa lí học:

- Theo ngành: dựa trên các tiêu chí (khách DL, doanh thu DL, lao động DL, CSVCKT DL…)

- Theo lãnh thổ: tập trung vào một số hình thức TCLTDL cấp tỉnh: điểm DL, KDL Trong đó tập trung đánh giá hình thức điểm DL

Nội dung bài viết tập trung phân tích mối liên kết du lịch giữa An Giang và VPC qua hai phương diện chính: Thứ nhất, liên kết trong việc khai thác tài nguyên và phát triển sản phẩm du lịch; Thứ hai, liên kết trong việc xây dựng các tuyến, tour và chương trình du lịch.

* Về thời gian nghiên cứu: giai đoạn 2007– 2017, định hướng đến năm 2030

Không gian nghiên cứu được xác định trong phạm vi tỉnh An Giang và VPC, bao gồm ba tỉnh thành là Kiên Giang, Cần Thơ và Đồng Tháp Việc giới hạn này nhằm đảm bảo tính chính xác và sâu sắc trong quá trình nghiên cứu.

Thứ nhất: Trong định hướng phát triển không gian DL ở Quy hoạch tổng thể

Theo quy hoạch phát triển du lịch (PTDL) vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đến năm 2030, An Giang và các địa phương VPC được xác định là khu vực phát triển du lịch phía Tây của ĐBSCL Khu vực này nổi bật với sự đa dạng về tài nguyên du lịch (TNDL) và các sản phẩm du lịch (SPDL) đặc trưng Do đó, việc kết nối giữa An Giang và VPC không chỉ phát huy lợi thế cạnh tranh của tỉnh mà còn hỗ trợ thực hiện các mục tiêu xây dựng sản phẩm du lịch và liên kết vùng hiệu quả.

Thứ hai: Trong quy hoạch tổng thể PTDL tỉnh An Giang (Sở VH – TT – DL,

Năm 2014, việc tăng cường liên kết với Cần Thơ và Kiên Giang được nhấn mạnh như những đầu mối chính của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), trong khi Đồng Tháp được coi là một vệ tinh du lịch tiềm năng nhờ vào lợi thế du lịch sinh thái Đồng thời, quy hoạch du lịch của các địa phương trong VPC cũng khẳng định tầm quan trọng của việc kết nối với An Giang để phát triển du lịch địa phương Do đó, nghiên cứu phát triển du lịch tỉnh An Giang trong mối liên kết với các địa phương khác hoàn toàn phù hợp với định hướng phát triển du lịch của khu vực.

Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

Hệ thống lãnh thổ du lịch (DL) bao gồm nhiều thành phần liên kết chặt chẽ, và trong việc nghiên cứu DL tại An Giang trong mối liên kết VPC, cần chú trọng thực hiện nhất quán các yêu cầu của quan điểm này Việc áp dụng quan điểm hệ thống - cấu trúc giúp đánh giá đồng bộ và toàn diện hoạt động DL của tỉnh An Giang trong liên kết VPC, từ đó nhận diện được các lợi thế và thách thức trong phát triển du lịch dựa trên liên kết lãnh thổ.

5.1.2 Quan điểm tổng hợp - lãnh thổ

Hệ thống lãnh thổ du lịch (DL) bao gồm nhiều thành tố như tự nhiên, văn hóa, lịch sử và con người, có mối quan hệ tương tác chặt chẽ Việc nghiên cứu và đánh giá nguồn lực cũng như thực trạng phát triển du lịch (PTDL) cần được thực hiện trong bối cảnh không gian cụ thể để đạt được giá trị đồng bộ về kinh tế, xã hội và môi trường Luận án này phân tích và đánh giá tiềm năng cùng thực trạng PTDL tỉnh An Giang, xem xét mối quan hệ tương hỗ với hệ thống lãnh thổ DL vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (VPC) Đồng thời, nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp PTDL dựa trên sự liên kết của An Giang với các tỉnh thành trong VPC.

5.1.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Theo quan điểm lịch sử - viễn cảnh, mọi sự vật và hiện tượng đều trải qua sự vận động và biến đổi theo thời gian Việc nghiên cứu quá khứ giúp chúng ta có những đánh giá chính xác về hiện tại, đồng thời phân tích nguồn gốc và quá trình phát triển để dự đoán xu hướng tương lai Áp dụng quan điểm này vào luận án sẽ làm rõ nguồn gốc phát sinh và phát triển của du lịch ở tỉnh An Giang, trong bối cảnh lịch sử cụ thể và hướng tới sự phát triển bền vững trong tương lai.

5.1.4 Quan điểm phát triển bền vững

Quan điểm phát triển du lịch (DL) cần bảo vệ và gìn giữ môi trường, đồng thời tạo cơ hội cho phát triển kinh tế và xã hội mà không làm tổn hại đến hệ thống Luận án áp dụng quan điểm bền vững để đảm bảo ba lợi ích: bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững tài nguyên, môi trường trong phát triển và liên kết DL tại An Giang với VPC.

5.2 Các phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích tài liệu thứ cấp

Phương pháp nghiên cứu trong luận án được thực hiện thông qua việc thu thập và phân tích các nguồn tài liệu, số liệu đáng tin cậy như tài liệu chuyên khảo, quy hoạch và báo cáo nghiên cứu Việc tiếp cận đa dạng các nguồn dữ liệu thứ cấp không chỉ giúp tổng quan các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch (PTDL) và liên kết trong PTDL trên thế giới và Việt Nam, mà còn xây dựng các phương pháp nghiên cứu phù hợp Đồng thời, tài liệu từ các cơ quan ban ngành cũng hỗ trợ luận án củng cố và phân tích đa diện các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng PTDL An Giang trong liên kết với VPC.

5.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa

Phương pháp khảo sát thực địa là một phương pháp truyền thống quan trọng trong nghiên cứu địa lý, cho phép đánh giá khoa học và thực tiễn các thực trạng phát triển của các điểm du lịch (KDL) ở An Giang và mức độ liên kết du lịch giữa An Giang với các địa phương khác trong VPC Luận án này kết hợp khảo sát thực địa với các phương pháp như bản đồ, thu thập thông tin và điều tra xã hội học đối với khách du lịch và người dân địa phương Do diện tích nghiên cứu rộng, đề tài đã thực hiện nhiều đợt khảo sát thực địa tại các điểm và KDL của tỉnh An Giang và VPC.

Giai đoạn 1 bao gồm việc tìm hiểu tổng quan về địa bàn nghiên cứu, từ đó xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá phù hợp Bên cạnh đó, cần xác định các điểm đến, khu du lịch (KDL) và thời gian thực hiện điều tra một cách chi tiết.

An Giang và các địa phương VPC;

Giai đoạn 2 bao gồm việc khảo sát thực địa và thu thập thông tin dựa trên các tiêu chí đánh giá tại các điểm du lịch ở An Giang và VPC Những thông tin thu thập trong giai đoạn này sẽ được phân tích và xử lý nhằm đưa ra các nhận định chính cho nghiên cứu của luận án.

Giai đoạn 3 tập trung vào việc thực hiện khảo sát thực địa để đánh giá và điều chỉnh các kết quả nghiên cứu trong luận án, đồng thời cập nhật thông tin mới dựa trên phân tích đã thực hiện.

5.2.3 Phương pháp điều tra xã hội học

Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng để phản ánh khách quan cảm nhận của du khách về các yếu tố và thực trạng phát triển du lịch (PTDL) cũng như mối liên kết trong PTDL của An Giang, đặc biệt trong mối quan hệ với VPC.

Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng để thực hiện khảo sát, với tổng số 300 phiếu được thu thập nhằm đáp ứng yêu cầu của phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA).

Về quy trình, việc điều tra xã hội học được thực hiện như sau:

Bước đầu tiên trong quá trình nghiên cứu là xây dựng phiếu điều tra, dựa trên các nghiên cứu trước đây và thực tiễn phát triển Bảng hỏi sẽ được thiết kế với hệ thống các chỉ tiêu liên quan để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong việc thu thập dữ liệu.

Bước 2 - Điều tra thử là quá trình khảo sát địa bàn và mẫu, nhằm phân tích kết quả về cấu trúc và nội dung của bảng hỏi Dựa trên những kết quả này, cùng với ý kiến từ các chuyên gia, hệ thống câu hỏi sẽ được điều chỉnh để đảm bảo tính phù hợp.

Bước 3 trong quá trình nghiên cứu là lựa chọn địa bàn điều tra, với mục tiêu tập trung vào 7 điểm du lịch tiêu biểu đại diện cho các loại hình du lịch và không gian phát triển du lịch Các địa điểm này bao gồm: Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam, Rừng tràm Trà Sư, Chùa Vạn Linh, Khu di chỉ khảo cổ và nghệ thuật Óc Eo, Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Thánh đường Cù Lao Giêng, và Làng Chăm Châu Phong.

Bước 4 - Chọn thời gian điều tra: Năm 2017, việc điều tra được thực hiện vào các tháng 4, 6, 10 và 11, trùng với các sự kiện du lịch quan trọng như lễ hội và tháng du lịch Mục đích của việc chọn nhiều thời điểm khác nhau là nhằm thu thập thông tin đa dạng và khách quan về các loại hình và sản phẩm du lịch.

Lịch sử nghiên cứu

Du lịch (DL) là một ngành kinh tế quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội, và đã được nghiên cứu từ rất sớm Sự xuất hiện đầu tiên của DL được ghi nhận ở các nước phương Tây, thể hiện sự phát triển đáng kể của lĩnh vực này.

Du lịch (DL) đã có lịch sử từ những tài liệu như “Hướng dẫn đường sá ở Pháp” (1552) và “Cuộc du hành ở Pháp” (1589), cho đến “Sách tra cứu về y học, lí học và lịch sử học về Lisbenstain” (1610) Từ đó, DL ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế - xã hội, lan rộng khắp các quốc gia và khu vực trên thế giới Đặc biệt, trong bối cảnh hợp tác và liên kết ngày càng phổ biến, nghiên cứu về phát triển du lịch (PTDL) trong liên kết vùng và địa phương đang trở thành một xu hướng mới có ý nghĩa thực tiễn quan trọng.

Du lịch (DL) đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, với đóng góp lên tới 10% tổng GDP và 1/10 tổng số việc làm toàn cầu, đồng thời chiếm 30% giá trị dịch vụ xuất khẩu (UNWTO, 2018) DL không chỉ là phương tiện bảo tồn giá trị văn hóa và sinh kế cho người có thu nhập thấp mà còn là công cụ hiệu quả cho phát triển bền vững (UNWTO, 2015) Về mặt xã hội, DL nâng cao chất lượng cuộc sống và thúc đẩy giao lưu giữa các cộng đồng văn hóa khác nhau, góp phần vào hòa bình (UNESCO, 2006) Sự tương tác giữa cư dân bản địa và du khách tạo ra giá trị và động lực cho tiến bộ xã hội (D.Omotayo Brown, 1998), đồng thời giúp tái tạo và bảo tồn các giá trị văn hóa cộng đồng như nghệ thuật và lễ hội truyền thống (Mason).

Năm 2003, để thu hút khách du lịch, chất lượng môi trường tại các điểm du lịch cần được cải thiện Hiện nay, sự phát triển du lịch đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng liên quan đến tài nguyên, môi trường, kinh tế và văn hóa (William F Theobald, 2013).

Sự phát triển du lịch (PTDL) chịu ảnh hưởng từ nhiều nhân tố, trong đó tài nguyên du lịch (TNDL) đóng vai trò quan trọng Nghiên cứu về TNDL chủ yếu tập trung vào tác động cụ thể của nó đến PTDL, như nghiên cứu của Denis Tolkach & Brian King (2015) về ảnh hưởng của TNDL đến sự hình thành sản phẩm du lịch Các yếu tố môi trường và tài nguyên cũng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động du lịch (Choon, 2017) Nhiều nghiên cứu khác đã khảo sát tác động của các nhân tố như khí hậu và thời tiết đến tính mùa vụ du lịch (Amelung B, Nicholls S, Viner D, 2007), cũng như TNDL văn hóa và các vấn đề liên quan (Salih Kusluvan et al., 2010) Sự khai thác các TNDL đặc trưng đã dẫn đến sự hình thành nhiều loại hình du lịch khác nhau (Nikola Naumov, 2016) Sự khác biệt trong phân bố TNDL tạo ra nhu cầu hợp tác giữa các địa phương và quốc gia để phát triển các tuyến du lịch và chuỗi cung ứng đa dạng (Cátia Jesus & Mário Franco, 2016) Ngoài ra, nghiên cứu về mối liên kết giữa các lãnh thổ du lịch cũng được chú trọng, đặc biệt trong bối cảnh phát triển du lịch theo không gian và phân vùng du lịch điển hình (N.X.Kandaxkia).

(1973), B.N.Likhanov và các nhà địa lí học Xô Viết Nhà địa lí DL M.Buchovarop

Năm 1975, một sơ đồ hệ thống lãnh thổ du lịch đã được đề xuất với bốn phân hệ có mối quan hệ tương tác chặt chẽ Khái niệm về tổ chức lãnh thổ du lịch và vùng du lịch được Pirojnik (1985) nhấn mạnh mối liên hệ giữa phát triển du lịch và phân bố không gian, như đã dẫn theo Nguyễn Minh Tuệ.

Các nhà địa lý phương Tây nhấn mạnh tầm quan trọng của sức chứa lãnh thổ và không gian như những chỉ tiêu quyết định đến sự phát triển bền vững Để giảm tải sức chứa vào mùa cao điểm, việc tổ chức các tour đến các lãnh thổ lân cận là giải pháp hiệu quả nhằm giảm bớt lượng khách tập trung Nghiên cứu của Colin Michael Hall cũng chỉ ra rằng các yếu tố không gian đóng vai trò quan trọng trong định hướng phát triển du lịch ở các khu vực cụ thể Những nghiên cứu này khẳng định rằng tính chất lãnh thổ trong phát triển du lịch là yêu cầu thiết yếu, và việc liên kết phát triển du lịch theo không gian trở thành một đặc điểm cơ bản gắn liền với tính chất lãnh thổ.

Trong phát triển du lịch (PTDL), sự liên kết và hợp tác giữa các vùng, quốc gia và địa phương ngày càng được chú trọng PTDL không chỉ giới hạn trong một lãnh thổ nhất định mà còn mở rộng ra ngoài ranh giới của địa phương, quốc gia và khu vực Theo Stephen William (1998) trong tác phẩm “Tourism Geography”, sự mở rộng không gian phân bố từ những năm 50 đã làm thay đổi đặc điểm ngành du lịch ở nhiều quốc gia châu Âu, biến du lịch thành một ngành kinh tế mở và có tính liên kết cao Mối liên kết của du lịch không chỉ dừng lại ở một địa phương mà còn liên quan chặt chẽ đến không gian rộng lớn hơn Do đó, PTDL theo hướng liên kết và hợp tác đã trở thành một xu hướng chủ đạo trong thời kỳ hiện đại.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, việc phát triển du lịch liên kết giữa các quốc gia và khu vực đang trở nên ngày càng quan trọng Các nhà khoa học và quản lý du lịch đang chú trọng làm rõ lợi ích của liên kết vùng, đặc biệt trong chiến lược phát triển du lịch bền vững Tove Oliver và Tim Jenkins (2003) nhấn mạnh vai trò thiết yếu của sự liên kết trong việc bảo tồn cảnh quan bền vững, trong khi Inskeep (1991) và Mathildavan Niekerk (2014) khẳng định sự tiên phong của liên kết du lịch trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững Từ đó, tầm quan trọng của liên kết vùng du lịch đã được khẳng định rõ ràng.

Chính phủ các quốc gia đã xác định liên kết du lịch (DL) là một yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch (PTDL) Liên kết DL diễn ra trên nhiều phương diện, bao gồm liên kết địa lý, chính sách, quy hoạch và không gian, với sự tham gia của nhiều thành phần như biển, bờ biển và vùng nội địa Sự liên kết này không chỉ diễn ra trong phạm vi một quốc gia mà còn mở rộng ra nhiều vùng lãnh thổ trên thế giới, dẫn đến sự hình thành các tổ chức hợp tác DL khu vực như châu Á Thái Bình Dương Xu hướng liên kết ngày càng trở nên phổ biến nhờ những lợi ích mà nó mang lại cho sự phát triển của DL ở cấp quốc gia, vùng và địa phương, trở thành đặc tính không thể thiếu trong PTDL toàn cầu và khu vực.

Từ những năm 90 của thế kỷ XX, ngành du lịch (DL) tại Việt Nam đã mở rộng mạnh mẽ, dẫn đến sự gia tăng quan tâm về phát triển du lịch (PTDL) cả về lý luận và thực tiễn Các nghiên cứu đã tập trung vào vai trò, đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến PTDL, cũng như vấn đề liên kết vùng trong phát triển này Du lịch được công nhận là một ngành kinh tế quan trọng, đóng góp đáng kể vào GDP, tạo ra nguồn ngoại tệ lớn, phục hồi sức khỏe, bảo tồn bản sắc văn hóa, góp phần xóa đói giảm nghèo và khuyến khích bảo vệ môi trường.

Trong công trình "Địa lí DL – Cơ sở lí luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam", nhóm tác giả Nguyễn Minh Tuệ và Vũ Đình Hòa (2017) đã chỉ ra rằng du lịch không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế và xã hội mà còn tác động đến lĩnh vực dịch vụ và thái độ cộng đồng Trần Đức Thanh (2017) nhận định du lịch là một phương thức kết nối hiệu quả giữa các ngành kinh tế Bộ Chính trị cũng đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của du lịch trong giai đoạn hiện nay, coi đây là "ngành kinh tế mũi nhọn".

Với tầm quan trọng của phát triển du lịch, hoạt động này đã diễn ra rộng rãi trên toàn quốc, vùng và địa phương, và được nghiên cứu sâu sắc trong nhiều công trình của các tác giả như Đỗ Quốc Thông (2004), Mai Thị Ánh Tuyết (2007) và Nguyễn Duy Mậu (2012).

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố và nội dung liên quan đến phát triển du lịch (PTDL), bao gồm các yếu tố thị trường du lịch (Nguyễn Văn Lưu, 1998; Nguyễn Quỳnh Nga, 2001; Trần Thị Minh Hòa, 2006) và các loại hình du lịch (Trần Thị Tuyết Mai, 2005; Phạm Xuân Hậu, Trịnh Văn Anh).

Sự phát triển du lịch (PTDL) bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tài nguyên du lịch (TNDL), các yếu tố kinh tế - xã hội và chính trị, cũng như cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch (Nguyễn Minh Tuệ và cộng sự, 2010) Trong đó, TNDL được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau, với các vấn đề lý luận về vai trò, đặc điểm và phân loại TNDL được đề cập trong nhiều nghiên cứu (Phạm Trung Lương, 2000; Nguyễn Minh Tuệ, Vũ Đình Hòa và cộng sự, 2017; Trần Đức Thanh, 2017) Hướng nghiên cứu khai thác TNDL tại các địa bàn lân cận đang được chú trọng, với mục tiêu PTDL đa dạng và hiệu quả Việc phát triển du lịch địa phương gắn với khai thác TNDL văn hóa phi vật thể (VPC) được coi là một hướng đi phù hợp, giúp xây dựng đa dạng chuỗi sản phẩm du lịch (Đỗ Quốc Thông, 2004), giảm thiểu sự trùng lặp tài nguyên và sản phẩm du lịch (Nguyễn Lan Anh, 2014), đồng thời tạo điều kiện cho sự hội nhập du lịch (Nguyễn Phương Nga).

Đóng góp mới của đề tài

Bài viết này tập trung vào việc kế thừa, bổ sung và làm rõ các cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch (PTDL), đặc biệt trong bối cảnh liên kết vùng Đồng thời, nó cũng xác định các tiêu chí đánh giá PTDL cho cấp tỉnh, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển du lịch bền vững.

- Làm sáng tỏ những thế mạnh cũng như hạn chế của các nhân tố ảnh hưởng PTDL và liên kết DL ở tỉnh An Giang và VPC

- Nêu rõ được những thành tựu và hạn chế của thực trạng PTDL và liên kết

DL giữa An Giang với VPC

- Đưa ra được một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển có hiệu quả hoạt động

DL tỉnh An Giang trong liên kết VPC.

Cấu trúc đề tài

- Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn về PTDL và PTDL trong liên kết vùng

- Chương 2 Các nhân tố ảnh hưởng đến PTDL tỉnh An Giang trong liên kết VPC

- Chương 3 Thực trạng PTDL tỉnh An Giang trong liên kết VPC

- Chương 4 Định hướng và giải pháp PTDL tỉnh An Giang trong liên kết VPC

Phần kết luận và kiến nghị

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRONG LIÊN KẾT VÙNG

Cơ sở lí luận

1.1.1 Về phát triển du lịch

1.1.1.1 Một số khái niệm liên quan

Sự phát triển của ngành du lịch vào giữa thế kỉ XIX đã tạo ra sự thay đổi lớn trong đời sống kinh tế - xã hội, đồng thời làm chuyển biến cơ cấu dịch vụ của nền kinh tế toàn cầu Từ thời điểm đó, du lịch đã trở thành một lĩnh vực được quan tâm và nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau, thể hiện mối tương quan với các hệ thống và lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Qua thời gian, quan niệm về du lịch cũng đã có những biến đổi đáng kể.

Theo I.I.Pirojnik (1985) “DL là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan đến việc di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất, tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức, văn hóa, hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa (dẫn theo Nguyễn Minh Tuệ, 2010)

Theo UNWTO (1991), du lịch (DL) được định nghĩa là các hoạt động của con người di chuyển và lưu trú tại một địa điểm khác ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá một năm, nhằm mục đích nghỉ ngơi, kinh doanh và các lý do khác Để hỗ trợ cho việc phân tích và đánh giá, luận án này sử dụng khái niệm du lịch theo Luật Du lịch sửa đổi năm 2017, trong đó nêu rõ rằng du lịch bao gồm các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên, không vượt quá một năm, nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu và khám phá tài nguyên du lịch, hoặc kết hợp với các mục đích hợp pháp khác (Điều 3, trang 6).

Như vậy, khi đề cập đến khái niệm DL cần phải bao hàm những nội dung sau:

- Gắn với sự di chuyển ra ngoài nơi cư trú thường xuyên của khách DL, thời gian tối đa không quá 1 năm;

- Mục đích đi DL rất đa dạng: nghỉ dưỡng, tham quan, giải trí, học tập…;

- Gắn với việc tiêu thụ các giá trị tài nguyên tại các điểm DL

Theo Luật DL (2017): “Khách DL là người đi DL hoặc kết hợp đi DL, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến” (Điều 3, trang 6)

Khách DL được phân thành khách DL nội địa, khách DL quốc tế đến Việt Nam và khách DL ra nước ngoài

Khách du lịch nội địa bao gồm công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong nước Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài và công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài đến Việt Nam du lịch Trong khi đó, khách du lịch ra nước ngoài là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch ở nước ngoài.

TNDL bao gồm các yếu tố tự nhiên, văn hóa và lịch sử, đóng vai trò quan trọng trong việc phục hồi và phát triển thể lực, tinh thần, khả năng lao động và sức khỏe của con người Chúng đáp ứng nhu cầu du lịch hiện tại và tương lai, đồng thời phù hợp với khả năng kinh tế và kỹ thuật cho phép TNDL được sử dụng cả trực tiếp và gián tiếp trong việc sản xuất dịch vụ du lịch.

Theo Nguyễn Minh Tuệ, Vũ Đình Hòa và cộng sự (2017), TNDL là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử cùng các thành phần hấp dẫn du khách TNDL không chỉ được khai thác mà còn cần được bảo vệ để đáp ứng nhu cầu du lịch một cách hiệu quả và bền vững.

Theo Luật DL (2017), tài nguyên du lịch (TNDL) bao gồm cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa, tạo nền tảng cho sản phẩm du lịch (SPDL), khu du lịch (KDL) và điểm du lịch TNDL được chia thành hai loại: TNDL tự nhiên và TNDL văn hóa, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch của con người.

TNDL tự nhiên bao gồm các yếu tố như cảnh quan thiên nhiên, địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn và hệ sinh thái, tất cả đều có thể được khai thác cho mục đích du lịch.

TNDL văn hóa bao gồm các di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ học, và kiến trúc, cùng với những giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian Ngoài ra, còn có những giá trị văn hóa khác và các công trình lao động sáng tạo của con người, tất cả đều có thể được sử dụng cho mục đích du lịch.

TNDL, hay Tài nguyên du lịch, là hệ thống các yếu tố tự nhiên và văn hóa có thể được khai thác để phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch của con người.

Lịch trình dịch vụ du lịch là văn bản ghi rõ giá bán và các thông tin cần thiết cho chuyến đi của khách, từ điểm xuất phát đến điểm kết thúc, theo quy định tại chương I, điều 3 của Luật Du lịch 2017.

+ Sản phẩm và loại hình du lịch

SPDL là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị TNDL để thỏa mãn nhu cầu của khách DL (Luật DL, 2017)

Loại hình du lịch (DL) là tập hợp các sản phẩm du lịch (SPDL) có đặc điểm tương đồng, đáp ứng nhu cầu và động cơ du lịch giống nhau, phục vụ cùng một nhóm khách hàng, hoặc có kênh phân phối và tổ chức tương tự, hoặc được phân loại theo cùng một mức giá nhất định.

Dựa trên các tiêu chí nhất định, việc kết hợp quy mô không gian với dòng du khách đã dẫn đến nhiều cách phân loại khác nhau cho loại hình du lịch.

- Phân loại theo phạm vi lãnh thổ: gồm DL nội địa và DL quốc tế

Du lịch có thể được phân loại theo nhu cầu của khách hàng thành hai nhóm chính: du lịch thuần túy, bao gồm các hoạt động như tham quan, giải trí, thể thao, khám phá và nghỉ dưỡng; và du lịch kết hợp, bao gồm du lịch tôn giáo, học tập nghiên cứu, thể thao kết hợp, công vụ, chữa bệnh và thăm nhân.

- Phân loại theo TNDL: gồm DL văn hóa và DL tự nhiên

Du lịch được phân loại theo thời gian thành hai loại chính: du lịch ngắn ngày, thường kéo dài từ 1 đến 3 ngày hoặc dưới 1 tuần, và du lịch dài ngày, kéo dài từ vài tuần đến dưới một năm.

- Phân loại theo việc sử dụng phương tiện giao thông gồm DL xe đạp, ô tô, tàu hỏa, tàu thủy, máy bay

- Phân loại theo hình thức tổ chức: DL có tổ chức, DL cá nhân và DL gia đình

Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Khái quát tình hình phát triển du lịch trong liên kết vùng ở Việt Nam

Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên du lịch đa dạng, kết hợp hài hòa giữa các yếu tố tự nhiên và giá trị văn hóa độc đáo Với khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa và cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, đất nước này nổi bật với nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Vịnh Hạ Long và Phong Nha.

Kẻ Bàng, Đà Lạt… Bên cạnh đó là đường bờ biển dài với nhiều bãi biển đẹp như Nha Trang, Lăng Cô, Mũi Né…

Việt Nam, với lịch sử hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, được coi là cái nôi của nền văn minh lúa nước Trong quá trình phát triển, đất nước này đã bảo tồn nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể quý giá, tiêu biểu như Kinh thành Huế và phố cổ Hội An.

An, Thánh địa Mỹ Sơn, Ca trù, Ví dặm và Đờn ca tài tử là những nét văn hóa đặc sắc của Việt Nam Hệ thống lễ hội phong phú, như Lễ hội chùa Hương diễn ra từ tháng 1, góp phần thu hút du khách trong và ngoài nước, tạo nên sức hấp dẫn riêng cho nền văn hóa Việt.

Lễ hội đền Hùng diễn ra từ mùng 1 đến 10 tháng 3 âm lịch, hội Lim vào ngày 13 tháng Giêng âm lịch, và lễ hội Nghinh Ông ở các tỉnh ven biển là những sự kiện văn hóa nổi bật của Việt Nam Bên cạnh đó, các làng nghề thủ công với những sản phẩm độc đáo cũng góp phần làm nổi bật hình ảnh đất nước Việt Nam thanh bình, hồn hậu và mến khách.

Với hệ thống tài nguyên hấp dẫn, trong những năm qua, ngành DL Việt Nam đạt được nhiều thành tựu to lớn

Bảng 1.15 Một số chỉ tiêu PTDL Việt Nam, năm 2007 và 2017

TT Chỉ tiêu Đơn vị 2007 2017

Trong đó khách quốc tế

2 Tổng thu Nghìn tỉ đồng 56 510*

3 Tổng số lao động trực tiếp Nghìn người 300 1200

4 Tổng số cơ sở lưu trú Nghìn cơ sở 9,0 25,6

* Tính theo cách tính mới của TCDL (Nguồn: TCDL, 2008, 2018)

Trong giai đoạn 2007 – 2017, tổng lượt khách du lịch đến Việt Nam đã tăng 4,4 lần, đạt 86 triệu lượt vào năm 2017, trong đó khách quốc tế tăng 3,0 lần, đạt 12,9 triệu lượt Thị trường khách du lịch ngày càng mở rộng, với châu Âu và châu Á là những thị trường chính, cùng với sự gia tăng khách du lịch từ châu Mỹ và châu Đại Dương Bên cạnh các phương thức di chuyển truyền thống như hàng không và đường bộ, loại hình du lịch đường biển cũng đã xuất hiện, góp phần làm phong phú thêm trải nghiệm du lịch tại Việt Nam.

Tổng thu DL có xu hướng tăng nhanh Năm 2007, tổng thu DL đạt 56,0 nghìn tỉ đồng Đến 2017, tổng thu DL đạt 510 nghìn tỉ đồng

Lực lượng lao động trong ngành du lịch Việt Nam đã tăng nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng, với tổng số lao động trực tiếp đạt hơn 300 nghìn người vào năm 2007 và tăng lên 1.300 nghìn người vào năm 2017 Đặc biệt, số lượng hướng dẫn viên được cấp thẻ trong năm 2017 đạt 18.557 người Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật cũng đã được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới, góp phần phát triển ngành du lịch.

Số lượng cơ sở lưu trú tại Việt Nam đã tăng mạnh từ 9.000 cơ sở năm 2007 lên 25.600 cơ sở vào năm 2017, cung cấp 508.000 phòng, bao gồm 118 khách sạn 5 sao, 261 khách sạn 4 sao và 490 khách sạn 3 sao Sự phát triển của các khu nghỉ dưỡng cao cấp đã nâng cao chất lượng lưu trú, đáp ứng nhu cầu của du khách quốc tế Ngoài ra, các cơ sở dịch vụ ăn uống, vui chơi và giải trí cũng được đầu tư mạnh mẽ Hệ thống giao thông vận tải được mở rộng với các tuyến đường quốc lộ ngày càng hoàn thiện, phục vụ cho việc di chuyển đến các điểm du lịch Phương tiện vận chuyển hiện đại góp phần nâng cao năng lực vận chuyển khách du lịch.

Sự phát triển của ngành du lịch đã thúc đẩy xu thế liên kết vùng mạnh mẽ trên toàn quốc Ở vùng Tây Bắc, liên kết du lịch được thể hiện qua tuyến du lịch liên vùng “Vòng cung Tây Bắc”, với đa dạng các loại hình và sản phẩm như du lịch sinh thái và văn hóa, đặc biệt là tại hồ Thác.

Bà ở Yên Bái, danh thắng ruộng bậc thang Mù Cang Chải và vùng văn hóa Nghĩa

Lộ - Mường Lò và các địa điểm du lịch về nguồn như Him Lam, Mộc Châu, mang đến cơ hội khám phá những chiến trường xưa Tại vùng Đồng Bằng Sông Hồng, sự kết nối giữa trung tâm du lịch Hà Nội và các địa phương lân cận, cũng như giữa vùng này với Đông Bắc, tạo ra nhiều sản phẩm du lịch đa dạng Các tuyến du lịch liên vùng như Hà Nội – Hải Phòng và Hà Nội – Thái Nguyên góp phần làm phong phú thêm trải nghiệm cho du khách.

Hà Nội và Quảng Ninh, cùng với Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng và Quảng Nam, tạo nên sự liên kết mạnh mẽ ở Duyên hải Miền Trung, nơi có nguồn tài nguyên du lịch độc đáo Sự liên kết này diễn ra thông qua việc xây dựng các chương trình du lịch theo ba chủ đề chính, nhằm phát huy tiềm năng du lịch của từng địa phương.

"Con đường di sản", "Con đường sinh thái" và "Trung tâm du lịch Duyên hải miền Trung" hướng tới phát triển du lịch có trách nhiệm và bền vững Ba địa phương đã hợp tác xây dựng chiến lược quảng bá, trong đó nổi bật là chương trình "Đà Nẵng biển gọi".

Quảng Nam, Lăng Cô và ba địa phương nổi bật khác đang tích cực liên kết với các vùng miền như Tây Nguyên và Bắc Trung Bộ thông qua tuyến du lịch Di sản Miền Trung và văn hóa Cồng Chiêng Đồng thời, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ khai thác tiềm năng du lịch biển đảo và di sản văn hóa Chăm, trong khi Nam Bộ phát triển du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng và tham quan các di tích lịch sử Đông Nam Bộ cũng tạo mối liên kết chặt chẽ với Tây Nguyên và ĐBSCL nhờ vào thị trường du khách rộng lớn, thúc đẩy sự phát triển du lịch toàn vùng.

DL là TP Hồ Chí Minh Các tuyến DL liên vùng kết nối trung tâm DL TP Hồ Chí Minh ngày càng diễn ra rộng khắp

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ với sự ra đời của Hiệp hội Du lịch ĐBSCL, góp phần hình thành hai cụm liên kết du lịch quan trọng là phía Tây và phía Đông Bên cạnh đó, các địa phương trong khu vực cũng đã bắt đầu thiết lập các mối liên kết ngoại vùng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển du lịch bền vững.

Sự liên kết vùng trong phát triển du lịch (PTDL) có ý nghĩa quan trọng, giúp tăng tính cạnh tranh và hạn chế sự trùng lặp sản phẩm du lịch ở các địa phương Kết quả ban đầu cho thấy, việc khai thác lợi thế tương đối về tài nguyên du lịch, vị trí giao thương, hạ tầng và các nguồn lực khác là cần thiết Tuy nhiên, liên kết hiện tại chủ yếu dừng lại ở việc hoạch định chính sách và ký kết văn bản, thiếu sự hình thành các trung tâm điều phối Để thực hiện liên kết hiệu quả, các địa phương cần quy hoạch và hỗ trợ lẫn nhau vì lợi ích chung của vùng.

1.2.2 Khái quát tình hình phát triển du lịch trong liên kết vùng ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nổi bật với đặc điểm đồng bằng châu thổ, mang lại nhiều lợi thế cho phát triển du lịch Khu vực này được bồi đắp bởi hệ thống sông Tiền và sông Hậu, tạo nên những dải đất phù sa màu mỡ, góp phần hình thành bức tranh thiên nhiên thanh bình của vùng đất phương Nam Các cù lao như cồn Phụng, cồn Ốc, cồn Quy, và cồn Tiên cùng với những hòn đảo nổi tiếng như Phú Quốc, Nam Du, và Hòn Sơn với bãi tắm đẹp là điểm nhấn thu hút du khách ĐBSCL còn là nơi giao thoa văn hóa của nhiều dân tộc, với các lễ hội đặc sắc như lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam và lễ hội Óc Bom Bo, tạo nên sự phong phú và đa dạng trong trải nghiệm du lịch.

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH AN GIANG TRONG LIÊN KẾT VÙNG PHỤ CẬN

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH

Ngày đăng: 11/07/2021, 16:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN