1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nợ công và tăng trưởng kinh tế bằng chứng thực nghiệm tại

81 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nợ Công Và Tăng Trưởng Kinh Tế Bằng Chứng Thực Nghiệm Tại Việt Nam
Tác giả Phạm Thị Huyền Trang
Người hướng dẫn PGS.TS. Phan Thị Bích Nguyệt
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài Chính - Ngân Hàng
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế
Năm xuất bản 2014
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 311,76 KB

Cấu trúc

  • BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

  • BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

  • LỜI CAM ĐOAN

  • MỤC LỤC

  • DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

  • DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

  • TÓM TẮT

  • CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU.

  • 1.1. Lý do chọn đề tài.

  • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu

  • 1.3. Câu hỏi nghiên cứu

  • 1.4. Bố cục của luận văn:

  • CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY.

  • 1.1 Tổng quan lý thuyết.

    • 1.1.1 Nợ công.

    • 1.1.2 Tăng trưởng kinh tế.

    • 1.1.3 Tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế

    • Hình 1.1: Đường cong Laffer nợ

  • 1.2 Tổng quan các kết quả nghiên cứu trƣớc đây

    • 1.2.1 Các nghiên cứu của tác giả nước ngoài

    • 1.2.2 Các nghiên cứu của tác giả trong nước

  • CHƢƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

  • 3.1. Thu thập dữ liệu

  • 3.2. Mô hình nghiên cứu

  • 3.3. Phƣơng pháp nghiên cứu

  • CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

  • 4.1. Thống kê mô tả các biến

  • 4.2. Kiểm định tính dừng của các biến.

  • 4.3. Kết quả hồi quy

  • 4.4. Kiểm định sự phù hợp của mô hình.

    • 4.4.1. Kiểm định bỏ sót biến.

    • 4.4.2. Kiểm định tính phân phối chuẩn của sai số ngẫu nhiên.

  • 4.5. Kiểm định mô hình hồi quy để phát hiện bệnh của mô hình.

    • 4.5.1. Phân tích mối tương quan giữa các biến.

    • 4.5.2. Tự tương quan.

    • 4.5.3. Phương sai thay đổi.

  • 4.6. Xác định cực trị của mô hình hồi quy.

  • CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN, GIẢI PHÁP VÀ HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI

  • 5.1. Kết luận.

  • 5.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nợ công.

    • 5.2.1. Giải pháp ngắn hạn.

    • 5.2.2. Giải pháp dài hạn.

  • 5.3. Hạn chế của nghiên cứu

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Danh mục tài liệu tiếng nƣớc ngoài

  • Website:

  • Tạp chí:

  • PHỤ LỤC

  • Biến gt

  • Biến gdpp

  • Biến ln(gdpp)t-1

  • Biến dtgdp

  • Biến ln(dtgdp)

  • Biến ln(dtgdp)2

  • Biến popgt

  • Biến irt

  • Biến giot

  • Biến bdtgdpt

  • Biến gt

  • Biến gdppt

  • Biến ln(gdpp)t-1

  • Biến dtgdpt

  • Biến ln(dtgdpt)

  • Biến ln(dtgdpt)2

  • Biến gcft

  • Biến popgt

  • Biến totgt

  • Biến litgt

  • Biến irt

  • Biến giot

  • Biến bdtgdpt

  • Biến dpopgt

  • Biến dlitgt

  • Biến dpopgt

  • Biến dlitgt

Nội dung

Lý do ch ọn đề tài

Nợ công đóng vai trò thiết yếu trong tài chính quốc gia, ảnh hưởng đến mọi quốc gia từ những nước nghèo ở châu Phi đến các quốc gia đang phát triển như Việt Nam và Campuchia, cũng như các cường quốc phát triển như Mỹ, Nhật Bản và các nước châu Âu Tất cả đều cần vay mượn để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu và sử dụng của Chính phủ nhằm phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau.

Nợ công phát sinh từ nhu cầu chi tiêu công lớn của Chính phủ và chính quyền địa phương, bao gồm chi thường xuyên và đầu tư cơ sở hạ tầng Khi chi tiêu vượt quá nguồn thu để trả nợ, Chính phủ phải vay nợ trong và ngoài nước qua nhiều hình thức như phát hành công trái, trái phiếu, hoặc vay từ ngân hàng thương mại Việc phát hành tiền bị hạn chế để tránh lạm phát, và nếu nguồn thu không đảm bảo, nợ công sẽ không được trả đúng hạn Điều này dẫn đến tình trạng chính quyền phải vay đảo nợ, tìm kiếm sự trợ giúp quốc tế, hoặc có thể tuyên bố phá sản quốc gia, gây ra khủng hoảng nợ công.

Nợ công có thể được coi là "con dao hai lưỡi", vì nó không chỉ hỗ trợ các quốc gia đáp ứng nhu cầu về vốn mà còn tiềm ẩn những tác động tiêu cực đối với sự tồn tại và phát triển của các nước vay nợ.

Cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu đã gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế toàn cầu, trong đó có Việt Nam Những tác động tiêu cực rõ rệt của khủng hoảng này đối với kinh tế Việt Nam bao gồm sự suy giảm xuất khẩu, giảm đầu tư nước ngoài và tăng trưởng kinh tế chậm lại.

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm.

Giá vàng tăng mạnh khi các nhà đầu tư toàn cầu tìm kiếm vàng như một nơi trú ẩn an toàn, dẫn đến sự sụt giảm đáng kể của các danh mục đầu tư khác như cổ phiếu và trái phiếu, khi vàng chiếm tỷ trọng lớn trong các danh mục của tổ chức.

Bảo hiểm rủi ro tín dụng tại Việt Nam đang gia tăng do tỷ lệ nợ cao và thâm hụt ngân sách kéo dài Điều này đã khiến các tổ chức tài chính quốc tế xếp Việt Nam vào danh sách các quốc gia có rủi ro cao, gây cản trở đáng kể trong việc thu hút vốn đầu tư gián tiếp, trực tiếp và nguồn vay từ nước ngoài.

Biến động tỷ giá hối đoái gây ra rủi ro cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu và hoạt động ngoại hối của ngân hàng thương mại Đặc biệt, với cơ cấu nợ công của Việt Nam chủ yếu là nợ nước ngoài, tác động của tỷ giá đến khả năng hoàn trả vốn trong quản lý nợ công là rất lớn.

Trước những hậu quả nghiêm trọng từ cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu và Mỹ, cùng với tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nợ công đã trở thành vấn đề nóng bỏng tại Việt Nam Sự gia tăng nợ công đáng kể ở nhiều quốc gia đang phát triển đã dấy lên lo ngại về khả năng làm chậm tăng trưởng kinh tế Liệu nợ công có đang đạt đến mức độ nguy hiểm hay không?

Đỉnh điểm của nợ là gì và tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế? Khi nợ vượt qua ngưỡng an toàn, điều này có thể dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng Nếu nợ duy trì ở mức cao trong thời gian dài, nền kinh tế có thể đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm lạm phát và suy thoái.

Nhiều phân tích trong nước đã nghiên cứu mối quan hệ giữa nợ công và phát triển kinh tế, tuy nhiên, phần lớn các phân tích này mang tính định tính, chủ yếu tổng hợp và đưa ra nhận xét về tình hình nợ công hiện tại của Việt Nam.

Nghiên cứu tác động của nợ công đối với nền kinh tế Việt Nam là rất quan trọng Điều này giúp rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất các biện pháp, chính sách quản lý nợ công hiệu quả, từ đó đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế bền vững trong tương lai.

Tác giả đã quyết định nghiên cứu đề tài "Nợ công và tăng trưởng kinh tế - Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam" nhằm phân tích mối quan hệ giữa nợ công và sự phát triển kinh tế của đất nước.

M ụ c tiêu nghiên c ứ u

Mục tiêu nghiên cứu là xác định mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế Việt Nam, nhằm tìm ra ngưỡng nợ tối ưu để giảm thiểu chi phí kinh tế của nợ, tức là xác định mức nợ bền vững Nghiên cứu cũng sẽ đánh giá tính khả thi của ngưỡng nợ 65% GDP mà Quốc hội đã ban hành Từ những phân tích này, bài viết sẽ đưa ra các nhận xét và đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nợ công tại Việt Nam.

Câu h ỏ i nghiên c ứ u

Bài nghiên cứu hướng đến trả lời cho các câu hỏi:

- Mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam như thế nào?

- Có ngưỡng nợ công cho tăng trưởng tối đa hay không?

B ố c ụ c c ủ a lu ận văn

Chương 1: Giới thiệu (lí do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu) Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các kết quả nghiên cứu trước đây.

Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm.

Chương 5: Kết luận, giải pháp và hạn chế của đề tài.

TỔ NG QUAN LÝ THUY Ế T VÀ CÁC K Ế T QU Ả NGHIÊN C ỨU TRƯỚC ĐÂY

T ổ ng quan lý thuy ế t

Nợ công là khoản nợ mà Chính phủ của một quốc gia phải chịu trách nhiệm chi trả, thường được hiểu đồng nghĩa với nợ Nhà nước hay nợ Chính phủ Tuy nhiên, nợ công khác biệt với nợ quốc gia, vì nợ quốc gia bao gồm toàn bộ khoản nợ phải trả của một quốc gia, bao gồm nợ của Nhà nước và nợ tư nhân (doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân) Do đó, nợ công chỉ là một phần trong tổng thể nợ quốc gia.

Theo Luật Quản lý nợ công Việt Nam năm 2009, nợ công bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương Nợ Chính phủ phát sinh từ các khoản vay trong nước và nước ngoài, được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ, và không bao gồm nợ do Ngân hàng Nhà nước phát hành Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp và tổ chức tài chính vay với sự bảo lãnh của Chính phủ Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố ký kết hoặc ủy quyền phát hành Đặc biệt, nợ nước ngoài thường chiếm tỷ trọng lớn trong nợ Chính phủ, với ODA đóng góp đáng kể trong tổng nợ nước ngoài.

Theo World Bank (2002), nợ công được phân loại thành hai nhóm: nợ công theo nghĩa rộng, bao gồm nghĩa vụ nợ của Chính phủ trung ương, các Bộ, ngành, chính quyền địa phương, nợ của WB và nợ của các tổ chức mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn; và nợ công theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm nghĩa vụ nợ của Chính phủ trung ương, chính quyền địa phương và nợ của các tổ chức độc lập được Chính phủ bảo lãnh.

Theo IMF (2010), nợ công là nghĩa vụ trả nợ của khu vực công, bao gồm Chính phủ Trung ương, chính quyền liên bang, chính quyền địa phương và các tổ chức công Các tổ chức công phi tài chính như tập đoàn nhà nước trong lĩnh vực điện tử, viễn thông, bệnh viện công, trường học công đều thuộc về khu vực này Trong khi đó, tổ chức công tài chính nhận hỗ trợ từ Chính phủ, hoạt động trong lĩnh vực tài chính, cung cấp dịch vụ như nhận tiền gửi, trả lãi, tư vấn tài chính, bảo hiểm và quỹ lương hưu.

Nợ công có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, bao gồm: theo chủ nợ với nợ trong nước và nợ nước ngoài; theo thời hạn vay với nợ ngắn hạn (dưới 1 năm), trung hạn (từ 1 đến dưới 10 năm) và dài hạn (trên 10 năm); và theo tính chất vay với các hình thức như vay thương mại từ các định chế tài chính, phát hành trái phiếu chính phủ hoặc trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, và vay ưu đãi (ODA) từ các quốc gia hoặc tổ chức quốc tế với lãi suất thấp và thời gian ân hạn dài Tuy nhiên, hình thức vay ưu đãi chủ yếu chỉ áp dụng cho các nước nghèo có thu nhập thấp.

Tăng trưởng kinh tế là chỉ số quan trọng phản ánh sự thay đổi về quy mô và sức mạnh của nền kinh tế, so sánh giữa các năm hoặc các thời kỳ khác nhau.

Tăng trưởng kinh tế có thể được đo bằng quy mô và tốc độ tăng trưởng Quy mô tăng trưởng thể hiện sự gia tăng hoặc giảm sút về mặt số lượng, trong khi tốc độ tăng trưởng cho thấy sự thay đổi nhanh hay chậm của nền kinh tế qua các năm hoặc giai đoạn khác nhau.

Tăng trưởng kinh tế thường được đo lường qua chỉ số GDP, phản ánh sự tương tác giữa các yếu tố như tiêu dùng nội địa, đầu tư, chi tiêu chính phủ và cán cân thương mại Những yếu tố này ảnh hưởng đến quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế, cho thấy tầm quan trọng của từng bộ phận trong nền kinh tế.

Quá trình tăng trưởng kinh tế thể hiện việc khai thác hiệu quả các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động, công nghệ và trình độ quản lý Tăng trưởng không chỉ bao gồm sự mở rộng về số lượng mà còn cả chất lượng, với các yếu tố ngắn hạn và dài hạn Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra tác động của các nguồn lực đến chất lượng và động thái tăng trưởng thông qua các mô hình như mô hình tái sản xuất giản đơn của C.Mác, tái sản xuất mở rộng của V.I.Lênin, mô hình các giai đoạn tăng trưởng kinh tế của W.Rostow, Solow, và hàm sản xuất Cob Douglas.

Quá trình tăng trưởng kinh tế có thể diễn ra theo hai hướng chính: tăng trưởng hướng nội và tăng trưởng hướng ngoại Sự lựa chọn giữa hai phương thức này phụ thuộc vào điều kiện cụ thể và chiến lược phát triển của từng quốc gia.

1.1.3 Tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế

Theo nghiên cứu của Tokunbo và cộng sự (2007), mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế được xác định qua việc chuyển giao hợp lý các nguồn lực nước ngoài cho các nước kém và đang phát triển, giúp bổ sung nguồn vốn thiếu hụt và thúc đẩy tăng trưởng Các quốc gia ở giai đoạn phát triển đầu với dung lượng vốn nhỏ có cơ hội đầu tư với tỷ suất hoàn vốn cao hơn, do đó, việc sử dụng vốn vay cho đầu tư sản xuất có thể thúc đẩy tăng trưởng và giúp thanh toán nợ kịp thời Mối quan hệ này cũng phản ánh trong nợ công, theo Soludo (2001), chu kỳ nợ bao gồm ba giai đoạn: phát triển để bổ sung nguồn lực, tạo ra thặng dư nhưng không đủ bù đắp lãi suất, và cuối cùng là tạo ra thặng dư đủ để trả lãi và nợ gốc.

Nghiên cứu hiện tại chỉ xem xét mối quan hệ ngắn hạn giữa nợ và tăng trưởng kinh tế Để hiểu rõ hơn về mối quan hệ lâu dài này, lý thuyết "Debt overhang" đã được phát triển và được coi là một lý thuyết cơ bản trong lĩnh vực kinh tế.

Lý thuyết này được giải thích qua đồ thị đường cong Laffer nợ.

Theo Krugman (1988), "debt overhang" là tình trạng mà số tiền chi trả nợ giảm dần khi dung lượng nợ tăng, dẫn đến việc nợ trong tương lai vượt quá khả năng trả nợ của một quốc gia Điều này kìm hãm cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Các nhà đầu tư lo ngại rằng sản xuất gia tăng có thể dẫn đến thuế cao hơn để trả nợ, khiến họ khó khăn trong việc đầu tư hiện tại để đạt sản lượng cao hơn trong tương lai Hơn nữa, nợ công cao làm giảm động lực cải cách của chính phủ do áp lực trả nợ gia tăng, và khi quy mô nợ tăng, chính phủ khó có thể xác định chính sách giải quyết nợ Thực tế cho thấy, chính phủ có thể sử dụng các công cụ để tác động đến đầu tư nhằm chi trả nợ Đường cong Laffer nợ cho thấy rằng tổng nợ càng lớn sẽ đi kèm với khả năng

Dung lượng trả nợ giảm khi giá trị hiện tại của nợ tăng lên, điều này cho thấy khả năng trả nợ cũng tăng theo trong phần dốc lên của đường cong Ngược lại, trong phần dốc xuống, giá trị hiện tại của nợ tăng nhưng khả năng trả nợ lại giảm Đỉnh của đường cong Laffer về nợ là điểm mà tổng nợ gia tăng bắt đầu gây gánh nặng cho đầu tư, cải cách kinh tế và các hoạt động khác, đồng thời cũng là thời điểm nợ bắt đầu ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng.

Vay nợ ở mức hợp lý có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng nếu tổng nợ tích lũy quá lớn, nó sẽ cản trở sự phát triển do ảnh hưởng tiêu cực đến việc tích lũy vốn sản xuất và năng suất tổng hợp Hơn nữa, môi trường chính sách của Chính phủ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mối quan hệ giữa nợ và tăng trưởng.

Hình 1.1: Đường cong Laffer nợ (Nguồn: Catherine Pattillo, Helene Poirson and Luca Ricci, 2011 External Debt and Growth Review of Economics and Insitutions 2 (3))

Khi chưa đạt “debt overhang”, nợ công tác động tích cực lên tăng trưởng kinh tế, biểu hiện cụ thể:

T ổ ng quan các k ế t qu ả nghiên c ứu trước đây

1.2.1 Các nghiên cứu của tác giả nước ngoài

Nghiên cứu của Cunningham (1993) trên 16 nước đang phát triển trong giai đoạn 1971-1979 cho thấy tổng nợ có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Cụ thể, mức nợ cao làm giảm năng suất lao động và nguồn vốn, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế bền vững.

- Fosu (2008) trong bài nghiên cứu với 35 nước châu Phi đã chứng minh sự tồn tại của lý thuyết “debt overhang”.

Nghiên cứu của Lin (2000) cho thấy rằng khi lãi suất thực vượt quá tốc độ tăng trưởng kinh tế, việc tích lũy nợ Chính phủ không dẫn đến việc gia tăng lãi suất thực Hơn nữa, sự gia tăng nợ Chính phủ còn có tác động tiêu cực, làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Một nghiên cứu của Lin và Sosin (2001) đã phân tích dữ liệu từ 77 quốc gia để khảo sát mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế, được đo bằng GDP bình quân đầu người Kết quả cho thấy nợ nước ngoài có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế ở châu Phi, châu Mỹ La tinh và các nước công nghiệp, nhưng chỉ có tác động đáng kể ở châu Phi Trong khi đó, tại châu Mỹ La tinh và các nước công nghiệp, tác động này không đáng kể Ngược lại, ở châu Á và các nước đang phát triển, mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế là tích cực, mặc dù cũng không đáng kể.

Catherine Pattillo (2011) đã sử dụng dữ liệu từ 93 nước đang phát triển trong giai đoạn 1969 – 1998 để chứng minh rằng nợ nước ngoài có tác động tiêu cực đến tăng trưởng GDP bình quân đầu người Cụ thể, khi tỷ lệ giá trị hiện tại của nợ trên xuất khẩu đạt từ 160-170% và trên GDP từ 35-40%, sự tăng trưởng này bị ảnh hưởng ngược chiều.

Nghiên cứu của Alfredo Schclarek (2004) về mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế cho thấy ở các nước đang phát triển, mối quan hệ này là tuyến tính và tiêu cực, trong khi ở các nước công nghiệp lại không có mối liên hệ rõ ràng hoặc có thể là phi tuyến Hơn nữa, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tăng trưởng kinh tế không liên quan đến dịch vụ nợ, điều này gợi ý rằng nợ nước ngoài có thể làm giảm tích lũy vốn, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động kinh tế tại các nước đang phát triển.

- Với nghiên cứu số liệu dữ liệu bảng tại 45 nước đang phát triển, Adam và Bevan

(2005) đã kết luận nợ cao sẽ ảnh hưởng xấu đến thâm hụt ngân sách và ngưỡng thâm hụt là 1,5% GDP.

Nghiên cứu của Clements và Bhattacharya (2003) cùng với Catherine Pattillo và các cộng sự (2011) chỉ ra rằng nợ có mối quan hệ nghịch biến với tăng trưởng kinh tế Mối tương quan này trở nên mạnh mẽ hơn khi mức nợ đạt đến một ngưỡng nhất định.

- S.Malik và cộng sự (2010) sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian trong giai đoạn 1972-

Nghiên cứu năm 2005 đã kiểm tra tác động của nợ nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế ở Pakistan, sử dụng mô hình tuyến tính kinh tế đơn giản với tăng trưởng GDP là biến phụ thuộc Kết quả cho thấy rằng nợ nước ngoài và dịch vụ nợ có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế của Pakistan.

Nghiên cứu của C.Checherita và P.Rother (2010) cho thấy mối quan hệ phi tuyến giữa nợ Chính phủ và tăng trưởng GDP bình quân đầu người ở 12 nước châu Âu, với ngưỡng nợ nằm trong khoảng 90-100% GDP Khi nợ vượt qua ngưỡng này, tác động tiêu cực lên tăng trưởng GDP sẽ xảy ra, và ngay cả khi nợ vượt mức 70%, tác động tiêu cực cũng đã được ghi nhận Ngoài ra, nghiên cứu chỉ ra rằng nợ ảnh hưởng đến tăng trưởng thông qua các yếu tố như tiết kiệm tư nhân, tổng năng suất nhân tố, đầu tư công, lãi suất thực và danh nghĩa trong dài hạn.

Nghiên cứu của C.M.Reinhart và K.S.Rogoff (2010a,b) đã phân tích dữ liệu chuỗi thời gian kéo dài 200 năm từ 44 nền kinh tế mới nổi và tiên tiến, với 3.700 quan sát về nợ công, nhằm khám phá mối quan hệ giữa mức nợ công cao, tăng trưởng và lạm phát Dựa trên tỷ lệ nợ trên GDP, nghiên cứu chia các quốc gia thành bốn nhóm: nợ thấp (dưới 30%), nợ trung bình (30-60%), nợ cao (60-90%) và nợ rất cao (trên 90%) Kết quả cho thấy mối quan hệ yếu giữa nợ và tăng trưởng kinh tế khi nợ ở mức bình thường, trong khi các quốc gia có nợ khoảng 90% GDP có tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình thấp hơn so với các nhóm nợ khác.

Nghiên cứu của Andrea F Presbitero (2010) cho thấy nợ công có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển có thu nhập thấp và trung bình trong giai đoạn 1990-2007, đặc biệt khi nợ công vượt quá 90% GDP (debt overhang) Khi vượt qua ngưỡng này, tác động của nợ công trở nên không thích hợp Hiệu ứng phi tuyến tính này được giải thích bởi các yếu tố quốc gia, vì "debt overhang" chỉ hạn chế tăng trưởng kinh tế ở những quốc gia có chính sách kinh tế vĩ mô mạnh mẽ và các tổ chức ổn định.

Nghiên cứu của Manmohan S.Kumar và Jaejoon Woo (2010) cho thấy có mối quan hệ nghịch biến giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế, với mỗi 10 điểm phần trăm gia tăng trong tỷ lệ nợ so với GDP ban đầu dẫn đến giảm 0,2 điểm phần trăm hàng năm trong tăng trưởng GDP bình quân đầu người thực Đặc biệt, ở các nước phát triển, tác động này giảm xuống còn khoảng 0,15 điểm phần trăm Dự báo cho kinh tế Mỹ năm 2013 cho thấy sẽ mất 0,6 điểm phần trăm, chỉ đạt mức tăng trưởng 2,3-2,8% Trong khi đó, bốn quốc gia Hy Lạp, Italia, Bồ Đào Nha và Ireland vẫn gặp khó khăn trong tăng trưởng do tỷ lệ nợ công cao, dao động từ 118-153% GDP.

Một số nghiên cứu không công nhận mối liên hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế, đặc biệt ở các nước như Mỹ Nghiên cứu năm 2012 của hai nhà kinh tế Pháp cho thấy kinh tế vẫn có thể tăng trưởng khi tỷ lệ nợ công vượt 115% GDP Joseph Gagnon, cựu nhân viên Ngân hàng Trung ương Mỹ, cho rằng tỷ lệ 90% của Rogoff và Reinhart là mức nguy hiểm thực sự, nhưng không áp dụng cho các quốc gia kiểm soát tốt tiền tệ Dù tỷ lệ nợ công ở khu vực đồng euro rất thấp, khu vực này vẫn rơi vào suy thoái, với tăng trưởng giảm 0,3% trong năm 2013, trong đó kinh tế Tây Ban Nha giảm 1,4% vào năm 2012, mặc dù nợ công chỉ chiếm 77,4% GDP.

Nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế từ World Bank (2010) đã phân tích mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế trên 101 quốc gia, bao gồm 75 quốc gia đang phát triển và 26 quốc gia phát triển, trong giai đoạn 1980-2008, trong đó có Việt Nam Kết quả cho thấy ngưỡng nợ công trung bình dài hạn so với GDP là 77% cho toàn bộ mẫu và 64% cho các nước đang phát triển Khi nợ công vượt quá 77%, mỗi điểm phần trăm tăng thêm sẽ dẫn đến giảm 0,0174 điểm phần trăm tăng trưởng thực trung bình hàng năm Ngược lại, dưới ngưỡng này, mỗi điểm phần trăm tăng thêm sẽ làm tăng 0,065 điểm phần trăm tăng trưởng thực trung bình hàng năm.

Nghiên cứu của Cristina Checherita và Philipp Rother (2010) cho thấy nợ chính phủ có tác động phi tuyến tính đến tăng trưởng GDP bình quân đầu người tại 12 quốc gia khu vực đồng euro trong 40 năm, từ 1970 Khi tỷ lệ nợ Chính phủ đạt 90-100% GDP, tăng trưởng kinh tế sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực trong dài hạn Ngay cả khi nợ ở mức 70-80% GDP, tác động tiêu cực cũng bắt đầu xuất hiện, khuyến khích chính sách nợ thận trọng hơn Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự thay đổi hàng năm trong tỷ lệ nợ công và thâm hụt ngân sách có ảnh hưởng tiêu cực và tuyến tính đến tăng trưởng GDP bình quân đầu người Nợ chính phủ tác động đến tăng trưởng thông qua các kênh như tiết kiệm tư nhân, đầu tư công, năng suất tổng nhân tố (TFP) và lãi suất thực và danh nghĩa Kết quả nghiên cứu khuyến nghị giảm nợ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

Nghiên cứu của Fabrizio Balassone, Maura Francese và Angelo Pace (2011) về mối liên hệ giữa tỷ lệ nợ chính phủ trên GDP và tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người thực tế tại Ý từ năm 1861 đến 2009 đã chỉ ra rằng nợ công có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Sự tác động này càng trở nên mạnh mẽ khi tỷ lệ nợ công trên GDP vượt quá 100% Ngoài ra, nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng nợ nước ngoài có tác động mạnh mẽ hơn đối với tăng trưởng kinh tế so với nợ trong nước.

D Ữ LI ỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨ U

Thu th ậ p d ữ li ệ u

Dữ liệu cho các biến nghiên cứu được thu thập từ nhiều nguồn đáng tin cậy như WB, IMF, The Economist, Tổng cục thống kê và Ngân hàng Nhà nước, trong khoảng thời gian từ 1986 đến 2013.

Các số liệu cho các biến trong mô hình chủ yếu được thu thập từ các nguồn dữ liệu có sẵn Đối với những biến không có số liệu trực tiếp, tác giả đã tiến hành tính toán gián tiếp dựa trên các nguồn dữ liệu hiện có.

Một số liệu của các năm không được hệ thống hóa trên các nguồn dữ liệu hiện có, do đó, nghiên cứu cần tham khảo từ các trang web, bài báo và tin tức liên quan để đảm bảo có được chuỗi số liệu liên tục và chính xác.

Mô hình nghiên c ứ u

Nghiên cứu này áp dụng mô hình hồi quy phi tuyến tính của Hemantha Kumara và N.S.Cooray (2013) do Sri Lanka là một nền kinh tế mới nổi, có thu nhập trung bình thấp, tương đồng với Việt Nam và cùng thuộc khu vực châu Á Thời gian thực hiện nghiên cứu phù hợp với tình hình kinh tế hiện tại Phương pháp hồi quy dữ liệu chuỗi thời gian được sử dụng, với các biến nghiên cứu được chọn theo mô hình của Hemantha Kumara và N.S.Cooray (2013).

Do số liệu quan sát thu thập trong nghiên cứu chỉ dựa trên dữ liệu hàng năm từ 1986 đến 2013, tổng số quan sát chỉ đạt 28, nên nghiên cứu chỉ thực hiện hồi quy và kiểm định trên dữ liệu chuỗi hàng năm Nghiên cứu không tiến hành hồi quy theo các số liệu trung bình 02 năm và 03 năm, cả lặp và không lặp Bên cạnh đó, mô hình cũng không xem xét việc sử dụng biến công cụ là biến trễ của các biến giải thích, theo nghiên cứu của Hemantha Kumara và N.S.Cooray.

(2013) thì các kết quả thu được từ mô hình này không có ý nghĩa kinh tế cao.

Mô hình nghiên cứu cụ thể: gt = β0 + β1ln(gdpp)t-1 + β2ln(dtgdpt) + β3[ln(dtgdpt)] 2 + β4gcft + β5popgt + β6totgt

+ β7litgt + β8irt + β9giot + β10bdtgdpt + β11d1988 + β12d1989 + β13d1998 + єt (2) Trong đó, các biến trong mô hình được trình bày trong bảng 3.1.

Bảng 3.1: Các biến trong mô hình nghiên cứu.

Biến Ký hiệu Mô tả

Tăng trưởng GDP đầu người năm t (%) là chỉ số phản ánh sự phát triển kinh tế Chỉ số này được tính bằng cách lấy GDP đầu người năm t trừ GDP đầu người năm t-1, sau đó chia hiệu số này cho GDP đầu người năm t-1 Cụ thể, GDP đầu người năm t được xác định bằng cách chia GDP năm t cho dân số năm t.

Biến độc lập (biến giải thích)

Logarit cơ số tự nhiên của GDP đầu người năm t-1, ký hiệu là ln(gdpp)t-1, phản ánh thu nhập GDP đầu người tại thời điểm đầu Giá trị này được tính bằng cách áp dụng logarit tự nhiên lên GDP đầu người của năm trước đó.

Logarit cơ số tự nhiên của tỷ lệ nợ trên GDP năm t ln(dtgdpt)

Tỷ lệ nợ trên GDP là chỉ số quan trọng để xác định ngưỡng nợ, được tính bằng logarit tự nhiên của tỷ lệ nợ trên GDP trong năm t Tỷ lệ này được xác định bằng cách chia tổng nợ năm t cho GDP năm t.

Bình phương của Logarit cơ số tự nhiên của tỷ lệ nợ trên GDP năm t

Biến bình phương được đưa vào để kiểm định tính phi tuyến trong mối quan hệ giữa nợ và tăng trưởng kinh tế.

Tăng trưởng tỷ lệ tích lũy tài sản trên GDP năm t phản ánh tác động của đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế Để tính toán, ta lấy tỷ lệ tích lũy tài sản trên GDP năm t trừ đi tỷ lệ tích lũy tài sản trên GDP năm t-1, sau đó chia hiệu số này cho tỷ lệ tích lũy tài sản trên GDP năm t-1.

Tăng trưởng dân số năm t phản ánh ảnh hưởng của dân số đến sự phát triển kinh tế Công thức tính tăng trưởng dân số là lấy số dân năm t trừ số dân năm t-1, sau đó chia chênh lệch này cho số dân năm t-1.

Tăng trưởng thương mại năm t là chỉ số quan trọng của nền kinh tế mở, giúp theo dõi các cú sốc bên ngoài Chỉ số này được tính bằng cách lấy tỷ lệ thương mại năm t trừ tỷ lệ thương mại năm t-1, sau đó chia cho tỷ lệ thương mại năm t-1 Tỷ lệ thương mại được xác định bằng tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ chia cho tổng giá trị nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ.

Tăng trưởng tỷ lệ biết chữ năm t được xác định dựa trên số liệu thống kê học sinh nhập học trung học Cụ thể, nó được tính bằng cách lấy số liệu học sinh nhập học năm t trừ đi số liệu của năm t-1, sau đó chia hiệu số này cho số liệu học sinh nhập học năm t-1.

Biến được đưa vào để nắm bắt tác động của chính sách tiền tệ lên tăng trưởng kinh tế.

Theo số liệu từ lãi suất danh nghĩa công bố của Nhà nước, độ mở của nền kinh tế trong năm t được tính bằng tổng giá trị xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ chia cho GDP của năm đó.

Thâm hụt ngân sách trên GDP năm t phản ánh ảnh hưởng của chính sách tài khóa đối với tăng trưởng kinh tế Chỉ số này được tính bằng cách chia thâm hụt ngân sách năm t cho GDP năm t.

Biến giả d1988 Để tránh tác động tiêu cực của giá trị âm trong tăng trưởng kinh tế năm 1988 lên kết quả của mô hình.

Nhận giá trị 1 tại năm 1988 và nhận giá trị 0 tại các năm khác.

Biến giả d1989 Để tránh tác động tiêu cực của giá trị âm trong tăng trưởng kinh tế năm 1989 lên kết quả của mô hình.

Nhận giá trị 1 tại năm 1989 và nhận giá trị 0 tại các năm khác.

Biến giả d1998 Để tránh tác động tiêu cực của giá trị âm trong tăng trưởng kinh tế năm 1998 lên kết quả của mô hình.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi xác định giá trị 1 cho năm 1998 và giá trị 0 cho các năm còn lại Để phù hợp với mô hình tăng trưởng kinh tế, chúng tôi giả định rằng nợ công của Việt Nam chưa vượt qua ngưỡng an toàn và mong đợi dấu hiệu của các hệ số trong mô hình như đã trình bày trong bảng 3.2.

Kỳ vọng về dấu của các hệ số trong mô hình nghiên cứu của Hemantha Kumara và N.S.Cooray (2013) được dự đoán sẽ phù hợp với các kỳ vọng đã đề ra.

Bảng 3.2: Kỳ vọng về dấu của các hệ số trong mô hình nghiên cứu.

Hệ số kỳ vọng β1 cho thấy khi thu nhập GDP đầu người tăng, tốc độ tăng trưởng GDP đầu người sẽ giảm Nghiên cứu về kỳ vọng nợ công cho thấy có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Đặc biệt, với kỳ vọng tìm được ngưỡng nợ tối đa, hệ số của biến bình phương dự kiến sẽ mang dấu âm Tích lũy tài sản và đầu tư dự kiến cũng có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế Ngược lại, sự gia tăng dân số sẽ dẫn đến việc giảm tốc độ tăng trưởng GDP đầu người.

Việt Nam đang tích cực hội nhập vào kinh tế toàn cầu, với kỳ vọng rằng các cú sốc bên ngoài sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Chất lượng nguồn nhân lực được xem là yếu tố quan trọng, có khả năng tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế Lãi suất có thể ảnh hưởng cả tích cực lẫn tiêu cực đến tăng trưởng, tùy thuộc vào chính sách tiền tệ của Nhà nước Độ mở của nền kinh tế cũng được kỳ vọng sẽ góp phần tích cực vào tăng trưởng Tuy nhiên, thâm hụt ngân sách có thể làm tăng khả năng vay nợ, dẫn đến những tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế.

Phương pháp nghiên cứ u

Tác giả áp dụng phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị để kiểm tra tính dừng của các biến trong nghiên cứu, tương tự như Hemantha Kumara và N.S.Cooray (2013) Sau đó, phương pháp ước lượng OLS được sử dụng để phân tích mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập Cuối cùng, tác giả xác định ngưỡng nợ công tối ưu cho Việt Nam thông qua các phương pháp toán học.

KẾ T QU Ả NGHIÊN C Ứ U TH Ự C NGHI Ệ M

Th ố ng kê mô t ả các bi ế n

1990 1995 2000 2005 2010 Đồ thị 4.1 Sự phân bố tỷ lệ nợ công trên GDP và tỷ lệ nợ công trên dân số.

(Nguồn: tác giả sử dụng phần mềm Eviews6 để vẽ)

Trong giai đoạn 1986-1992, gánh nặng nợ công trên đầu người tại Việt Nam tăng cao, đạt 355,47 USD vào năm 1992, với tỷ lệ nợ công trên GDP lên đến 359,56% vào năm 1990 Sau đó, gánh nặng này giảm xuống còn 160,47 USD vào năm 2001, nhưng lại tăng mạnh trở lại, đạt mức kỷ lục 863,94 USD vào năm 2013 Mặt khác, tỷ lệ nợ công trên GDP giảm xuống 35,17% vào năm 2002 và dao động quanh mức này cho đến năm 2013, khi đạt 45,22% Điều này cho thấy, mặc dù nợ công tăng cao, nhưng kinh tế Việt Nam vẫn phát triển mạnh mẽ, đảm bảo gánh nặng nợ công trong giới hạn an toàn.

Theo Bản tin nợ công số 2 xuất bản tháng 10/2013 của Bộ Tài chính, đến hết năm

Năm 2012, tổng nợ công của Việt Nam đạt 55,7% GDP, trong đó nợ Chính phủ chiếm 43,3%, nợ Chính phủ bảo lãnh 11,6% và nợ của chính quyền địa phương 0,8% Mức nợ này vẫn nằm trong ngưỡng an toàn theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, cụ thể là dưới 65% GDP.

Mặc dù Bộ Tài chính và các thành viên Chính phủ khẳng định rằng nợ công Việt Nam chưa đạt mức trần, nhưng nhiều chuyên gia vẫn bày tỏ lo ngại về vấn đề này Tại Diễn đàn Kinh tế mùa xuân, Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cho rằng nếu tính toán đầy đủ, nợ công có thể lên tới gần 100% GDP.

So với các nước Đông Nam Á, Việt Nam có tổng nợ công và nợ bình quân ở mức thấp nhất Singapore dẫn đầu khu vực với tổng nợ trên 302 tỷ USD, tiếp theo là Indonesia với hơn 263,8 tỷ USD Singapore cũng ghi nhận tỷ lệ nợ trên GDP cao nhất, đạt 94,7%, trong khi Indonesia có tỷ lệ thấp nhất, chỉ 25,4%.

Theo The Economist Intelligence Unit, nợ công của Việt Nam năm 2001 mới là 11,5 tỷ USD, tương đương 36% GDP, bình quân mỗi người gánh số nợ công xấp xỉ

Tính đến cuối năm 2010, nợ công của Việt Nam đã tăng lên 55,2 tỷ USD, chiếm 54,3% GDP Hiện tại, Việt Nam được xếp vào nhóm các nước có mức nợ công trên trung bình.

Theo The Economist, mức nợ công trên đầu người của Việt Nam hiện tại không cao so với Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan Tuy nhiên, nếu so với mức nợ công bình quân đầu người trong các giai đoạn trước, có thể dự đoán rằng nợ công trên đầu người của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới.

Thực hiện xử lý dữ liệu từ các số liệu thu thập được bằng phần mềm Eview 6.0 ta được bảng thống kê mô tả các biến theo bảng 4.1.

Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình.

Mean Median Maximum Minimum Std Dev Skewness Kurtosis g t 12,08859 13,82288 82,57191 -7,582385 25,79212 -0,786697 7,828452 gdpp t 639,5467 443,0045 1910,533 97,15789 509,1757 1,141232 3,243407 dtgpp t 91,38920 44,88741 359,5642 0,522343 96,23555 1,561977 4,413395 gcf t 1,257847 2,071422 37,50060 -4,648254 15,70460 -0,378632 5,241525 popg t 1,516953 1,430764 2,491328 1,043913 0,467111 0,820532 2,535191 totg t 6,470799 1,894387 166,3521 -3,517200 32,82308 4,258113 21,73597 litg t 2,799705 2,845055 18,47672 -1,136104 7,361364 0,297984 2,581491 ir t 23,18036 11,45000 144,0000 6,240000 31,24050 2,633459 9,591574 gio t 101,0134 103,0159 162,9145 18,95049 41,79177 -0,366017 2,341666 bdtgdp t -3,887844 -3,867583 0,553110 -7,240000 2,247056 0,058604 2,110746

(Nguồn: tác giả sử dụng phần mềm Eviews6 để tính toán)

Qua bảng 4.1 ta có thể nhận xét về thị trường biểu hiện qua các biến của mô hình như sau:

Nền kinh tế Việt Nam từ 1986 đến 2013 ghi nhận mức tăng trưởng trung bình hàng năm 12%, với tốc độ cao nhất đạt 82,6% Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu và các yếu tố toàn cầu đã ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Chính sách kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô của Chính phủ, cùng với diễn biến phức tạp của lãi suất và hệ thống tài chính ngân hàng, đã dẫn đến mức tăng trưởng thấp nhất trong giai đoạn này, đạt -7,6%.

Trong giai đoạn này, tổng thu nhập quốc nội bình quân đầu người của Việt Nam đạt trung bình 639 USD, với mức cao nhất là 1.910 USD và thấp nhất là 443 USD trong bối cảnh nền kinh tế chịu tác động từ cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu và toàn cầu Theo GS.TS Vương Đình Huệ, Trưởng ban Kinh tế Trung ương, kinh tế Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng kém phát triển và gia nhập nhóm các nước đang phát triển có thu nhập trung bình (thấp).

Tỷ lệ nợ công trên GDP tại Việt Nam trong giai đoạn 1986-2013 đạt trung bình 91,3%, với mức cao nhất lên tới 359,5% do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nợ công toàn cầu và thấp nhất là 0,5% Trong 5 năm gần đây, tỷ lệ nợ công trên GDP chỉ dao động ở mức 40%-50%, cho thấy nợ công Việt Nam vẫn nằm trong ngưỡng an toàn.

Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng tích lũy tổng tài sản và đầu tư tại Việt Nam trung bình đạt 1,25% Đáng chú ý, có thời điểm tỷ lệ này đạt mức cao nhất là 37,5% Tuy nhiên, do ảnh hưởng của khủng hoảng nợ công toàn cầu và việc sử dụng không hiệu quả các khoản đầu tư, đặc biệt là đầu tư công, tỷ lệ này cũng đã có lúc giảm xuống mức thấp nhất là -4,64%.

Tốc độ tăng trưởng dân số Việt Nam trong giai đoạn này đạt trung bình 1,5%, với mức cao nhất là 2,5% và thấp nhất là 1,04% Điều này phản ánh sự hiệu quả của chính sách dân số, góp phần nâng cao thu nhập bình quân đầu người và cải thiện đời sống người dân.

Tăng trưởng kinh tế toàn cầu đang suy giảm, dẫn đến khó khăn trong xuất khẩu, với dự báo ảm đạm từ các tổ chức quốc tế Khủng hoảng nợ công châu Âu chưa được giải quyết triệt để, khiến tăng trưởng thương mại của Việt Nam có lúc giảm tới -3,5% Điều này phản ánh sự suy giảm sức cầu trong nền kinh tế và năng lực sản xuất của doanh nghiệp Việt Mặc dù vậy, có thời điểm tăng trưởng thương mại đạt mức kỷ lục 166,3%, với mức tăng trưởng trung bình trong giai đoạn này là 6,4%.

Tốc độ tăng trung bình của tỷ lệ người có trình độ trung học hiện đạt 2,7%, với mức cao nhất ghi nhận là 18,4% và thấp nhất là -1,2% Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu phát triển nguồn nhân lực ngày càng cao của đất nước, điều này ảnh hưởng đến sự thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Trong giai đoạn 1986-2013, lãi suất danh nghĩa huy động của nền kinh tế Việt Nam trung bình đạt 23,18%, với mức cao nhất lên đến 144% Thời điểm này phản ánh chính sách lãi suất tiền gửi cao nhằm huy động vốn, kết hợp với chính sách thắt chặt tiền tệ để ổn định vĩ mô và giảm lạm phát Những biện pháp này đã tạo tiền đề quan trọng cho việc giảm lãi suất trong tương lai Đồng thời, thanh khoản của hệ thống ngân hàng cũng được cải thiện, dẫn đến xu hướng giảm dần lãi suất huy động để phòng ngừa tình trạng giảm phát.

Việc gia nhập nền kinh tế thị trường, tham gia WTO và ký kết các hiệp định thương mại đã giúp nền kinh tế Việt Nam có độ mở trung bình đạt 101% Đặc biệt, tổng giá trị xuất nhập khẩu trên GDP có lúc đạt tới 162,9%, cho thấy sự ảnh hưởng tích cực của chính sách mở cửa kinh tế đối với tăng trưởng kinh tế quốc gia.

Ki ểm đị nh tính d ừ ng c ủ a các bi ế n

Kiểm định nghiệm đơn vị là phương pháp phổ biến để xác định tính dừng của chuỗi thời gian Trong nghiên cứu này, tác giả áp dụng phương pháp ADF (Augmented Dickey-Fuller) để kiểm tra tính dừng của từng biến riêng biệt.

Ta có các giả thiết:

H0 : chuỗi số liệu là không dừng H1: chuỗi số liệu là dừng

Nếu trị tuyệt đối của thống kê t > trị tuyệt đối của các giá trị kiểm định ở mức ý nghĩa α thì chấp nhận H0 và ngược lại.

Trước khi tiến hành kiểm định tính dừng của các biến, ta phải xác định xem nên kiểm định tính dừng của số liệu dưới dạng nào.

In Eviews6, to test the stationarity of each variable, navigate to View -> Descriptive Statistics & Tests -> Histogram and Stats If the data series exhibits a high mean value, it indicates that the series is stationary.

Để xác định xu thế của chuỗi dữ liệu, chúng ta sẽ thực hiện hồi quy giữa biến cần phân tích và biến xu hướng (@trend) Nếu giá trị tuyệt đối của thống kê t lớn hơn ngưỡng quy định, điều này cho thấy chuỗi có xu thế rõ ràng.

When analyzing trends, it is essential to understand the significance of the two types of trends: Trend and Intercept, which includes both a constant and a trend, and Intercept, which includes only a constant Depending on the data, you should select Trend and Intercept in the "Include in test equation" section for a comprehensive analysis, while opting for Intercept alone when a constant is sufficient.

Nếu không thuộc 02 trường hợp trên thì chọn none.

Do chuỗi dữ liệu quan sát chỉ gồm 27 quan sát, số lượng này quá nhỏ, vì vậy trong Eviews6, tại cửa sổ Unit Root Test, chúng ta chọn Maximum lags là 3.

Kết quả kiểm định dạng của chuỗi số liệu cho theo Bảng 4.2.

Bảng 4.2 Kết quả kiểm định dạng của chuỗi số liệu.

The statistical model presents the following key findings: The mean value is 12.08859 with an intercept of 639.5467 for GDP growth The trend and intercept for ln(gdpp) lagged by one period is 6.099714, while the trend and intercept for GDP growth rate is 91.38920 The intercept for ln(dtgdpt) shows a value of 2, resulting in 17.03898 for its square Additionally, the intercept for gcft is 1.257847, and the intercept for population growth (popgt) is 1.516953 The total growth intercept (totgt) is 6.470799, and the literacy growth intercept (litgt) is 2.799705 The interest rate trend (irt) has a significant value of 23.18036, whereas the growth of the informal sector (giot) shows a notable trend and intercept of 101.0134 Lastly, the intercept for the growth rate of the informal sector (bdtgdpt) is -3.887844.

(Nguồn: tác giả sử dụng phần mềm Eviews6 để tính toán)

Kết quả kiểm định tính dừng của các biến cho theo Bảng 4.3.

Bảng 4.3 Kết quả kiểm định tính dừng.

Biến Giá trị kiểm định Thống kê t Kết luận gt

-4,517438 Chuỗi số liệu dừng ở cả 03 mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%. gdppt

Chuỗi số liệu không dừng ở cả

03 mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%. ln(gdpp)t-1 -3,248592* -3,391423 Chuỗi số liệu dừng ở mức ý nghĩa 10%. dtgdpt

Chuỗi số liệu không dừng ở cả

03 mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%. ln(dtgdpt)

-5,351466 Chuỗi số liệu dừng ở cả 03 mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%. ln(dtgdpt) 2 -2,991878 **

-3,598385 Chuỗi số liệu dừng ở cả mức ý nghĩa 5% và 10%. gcft

-5,534377 Chuỗi số liệu dừng ở cả 03 mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%. popgt

Chuỗi số liệu không dừng ở cả

-5,878884 Chuỗi số liệu dừng ở cả 03 mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%. litgt

-2,419220 Chuỗi số liệu không dừng ở cả

-22,19033 Chuỗi số liệu dừng ở cả 03 mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%. giot -3,233456 * -3,531536 Chuỗi số liệu dừng ở mức ý nghĩa 10%. bdtgdpt

-3,708496 Chuỗi số liệu dừng ở cả 03 mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%.

Ghi chú: *** ** * lần lượt là các mức ý nghĩa 1%, 5%, 10%.

(Nguồn: tác giả sử dụng phần mềm Eviews6 để tính toán)

Kết quả kiểm định tính dừng cho thấy hầu hết các chuỗi số liệu của các biến như ln(gdpp)t-1, ln(dtgdpt), ln(dtgdpt)2, gcft, totgt, irt, giot, và bdtgdpt đều dừng ở mọi mức ý nghĩa Tuy nhiên, chuỗi số liệu của các biến popgt và litgt không dừng ở cả ba mức ý nghĩa Để khắc phục tình trạng không dừng của hai biến này, chúng tôi thực hiện sai phân bậc 1 cho chuỗi popgt và litgt, tạo ra các biến dpopgt và dlitgt.

Chúng tôi đã thực hiện kiểm định dạng số liệu và tính dừng cho các biến dpopgt và dlitgt Kết quả của quá trình kiểm định này được trình bày trong bảng 4.4 và bảng 4.5.

Bảng 4.4 Kết quả kiểm định dạng số liệu của các biến dpopgt và dlitgt

Biến Mean Thống kê t Dạng mô hình dpopgt -0,047835 1,294360 None dlitgt -0,219667 0,029319 None

(Nguồn: tác giả sử dụng phần mềm Eviews6 để tính toán)

Bảng 4.5 Kết quả kiểm định tính dừng của các biến dpopgt và dlitgt

Biến Giá trị kiểm định Thống kê t Kết luận dpopgt

-3,752148 Chuỗi số liệu dừng ở cả 03 mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%. dlitgt

-2,952440 Chuỗi số liệu dừng ở cả 03 mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%.

Ghi chú: *** ** * lần lượt là các mức ý nghĩa 1%, 5%, 10%.

(Nguồn: tác giả sử dụng phần mềm Eviews6 để tính toán)

Theo Engle và Granger (1987), các chuỗi thời gian không dừng được xem là đồng liên kết nếu kết hợp tuyến tính của chúng tạo thành một chuỗi dừng Phương trình đồng liên kết, được hình thành từ kết hợp tuyến tính dừng, phản ánh mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các biến Điều này có nghĩa là nếu phần dư trong mô hình hồi quy giữa các chuỗi thời gian không dừng là một chuỗi dừng, thì kết quả hồi quy sẽ thể hiện mối quan hệ thực và bền vững giữa các biến trong mô hình.

Chúng ta sẽ thực hiện hồi quy theo mô hình (2) và tiến hành kiểm định nghiệm đơn vị cho phần dư Nếu phần dư là chuỗi dừng, kết quả hồi quy của mô hình (2) sẽ được coi là "thực" và có thể sử dụng bình thường.

Nếu phần dư của mô hình hồi quy không phải là một chuỗi dừng, ta sẽ thực hiện hồi quy gt dựa trên các biến ln(gdpp)t-1, ln(dtgdpt), ln(dtgdpt)², gcft, totgt, irt, giot, bdtgdpt, cùng với các biến sai phân của những biến không dừng như dpopgt và dlitgt theo mô hình hồi quy sau: gt = β0 + β1ln(gdpp)t-1 + β2ln(dtgdpt) + β3[ln(dtgdpt)]² + β4gcft + β5dpopgt + β6totgt.

K ế t qu ả h ồ i quy

Với số liệu từ mẫu nghiên cứu, tiến hành ước lượng mô hình (2) bằng phần mềm Eview6 với α=0,05 ta được kết quả ước lượng theo bảng 4.6.

Bảng 4.6 Kết quả hồi quy mô hình (2).

Biến Hệ số β Thống kê t Xác suất ln(gdpp)t-1 1,459744 0,125338 0,9022 ln(dtgdpt) 76,81965 0,273102 0,7891 ln(dtgdpt) 2 -9,845097 -0,393228 0,7005 gcft 0,397921 1,152584 0,2698 popgt 63,88966 1,033521 0,3202 totgt -0,230359 -0,489541 0,6326 litgt -0,599641 -0,662945 0,5189 irt -0,070109 -0,072482 0,9433 giot 0,266750 0,840161 0,4160 bdtgdpt 2,279196 1,741282 0,1052 d1988 -112,4776 -1,963625 0,0713 d1989 -60,25882 -0,553140 0,5896 d1998 -20,45043 -1,608.070 0,1318

(Nguồn: tác giả sử dụng phần mềm Eviews6 để tính toán)

Bảng 4.6 trình bày kết quả hồi quy mô tả mối quan hệ giữa các biến kinh tế với phương trình hồi quy: gt = -103,7836 + 1,459744 ln(gdpp)t-1 + 76,81965 ln(dtgdpt) - 9,845097 [ln(dtgdpt)] 2 + 0,397921 gcft + 63,88966 popgt - 0,230359 totgt - 0,599641 litgt - 0,070109 irt.

Do đó, ta tiến hành kiểm định nghiệm đơn vị phần dư của mô hình hồi quy (4) và thu được kết quả theo bảng 4.7.

Bảng 4.7 Kết quả kiểm định tính dừng của phân dư của mô hình (4).

Biến Giá trị kiểm định Thống kê t Kết luận e

-6,259317 Phần dư dừng ở cả 03 nghĩa 1%, 5% và 10%, mức ý

Ghi chú: ***, **, * lần lượt là các mức ý nghĩa 1%, 5%, 10%.

(Nguồn: tác giả sử dụng phần mềm Eviews6 để tính toán)

Như vậy kết quả hồi quy mô hình (4) là “thực” và ta vẫn sử dụng một cách bình thường.

Giá trị R² hiệu chỉnh trong Bảng 4.7 đạt 88,63%, cho thấy rằng 88,63% sự biến động của tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể được giải thích bởi các biến độc lập trong mô hình Điều này chứng tỏ mô hình hồi quy phù hợp 88,63% với tập hợp dữ liệu.

*Ý nghĩa của các hệ số ước lượng:

Hệ số β1 = 1,459744 cho thấy rằng khi thu nhập GDP đầu người tăng 1% tại thời điểm ban đầu, tốc độ tăng trưởng GDP đầu người sẽ tăng 1,459744% nếu các yếu tố khác được giữ nguyên Kết quả này không hoàn toàn phù hợp với kỳ vọng về dấu.

Hệ số β2 = 76,81965 cho thấy rằng khi nợ công trên GDP tăng 1%, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ tăng 76,81965% trong điều kiện các yếu tố khác không đổi Dấu của hệ số này phù hợp với kỳ vọng, phản ánh mối quan hệ tích cực giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế.

- β3 = - 9,845097< 0 phù hợp kỳ vọng về dấu Do đó ta kỳ vọng tìm được ngưỡng nợ mà tại đó nền kinh tế tăng trưởng cao nhất.

Hệ số β4 = 0,397921 cho thấy rằng nếu tài sản tích lũy hoặc đầu tư dự kiến tăng 1%, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ tăng 0,397921% trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi Kết quả này phù hợp với kỳ vọng về dấu hiệu tích cực.

Kết quả β5 = 63,88966 cho thấy rằng một sự gia tăng 1% dân số sẽ dẫn đến sự tăng trưởng kinh tế lên tới 63,88966% nếu các yếu tố khác không thay đổi Tuy nhiên, kết quả này không phù hợp với kỳ vọng về dấu hiệu.

- β6 = - 0,230359 < 0 mang ý nghĩa nền kinh tế mở sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng kinh tế Kết quả này không phù hợp kỳ vọng về dấu.

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng β7 = -0,599641, có nghĩa là khi tỷ lệ người đi học tăng 1%, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ giảm 0,599641% trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi Điều này không phù hợp với kỳ vọng ban đầu về dấu hiệu tác động.

Lãi suất tăng 1% có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế khoảng 1,92% khi các yếu tố khác không thay đổi Điều này phản ánh tác động của chính sách thắt chặt tiền tệ của Nhà nước, khi lãi suất huy động danh nghĩa tăng lên, dẫn đến việc kiềm hãm sự phát triển kinh tế.

Kết quả cho thấy rằng khi độ mở của nền kinh tế tăng 1%, sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế lên 0,266750% trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi Điều này khẳng định kỳ vọng về mối quan hệ tích cực giữa độ mở nền kinh tế và tăng trưởng kinh tế.

Hệ số β10 = 2,279196 cho thấy rằng việc thâm hụt ngân sách tăng 1% sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế lên 2,279196% khi các yếu tố khác không thay đổi Tuy nhiên, kết quả này không phù hợp với kỳ vọng về dấu.

Ki ểm đị nh s ự phù h ợ p c ủ a mô hình

4.4.1 Kiểm định bỏ sót biến

Tác giả sử dụng Kiểm định RESET của Ramsay để kiểm định xem có biến bị bỏ sót trong mô hình hồi quy hay không.

Trong Eviews6, tại mô hình (4), chọn View/Stability Tests/Ramsay RESET Test để kiểm định cặp giả thuyết:

Kết quả kiểm định theo bảng 4.8.

Bảng 4.8 Kết quả kiểm định bỏ sót biến của mô hình (4).

(Nguồn: tác giả sử dụng phần mềm Eviews6 để tính toán)

Từ kết quả của Bảng 4.8 ta thấy Prob.Chi-Square = 0,0000 < α = 0,05 nên bác bỏ chấp nhận H0.

Kết luận: mô hình không có hiện tượng bỏ sót biến nghiêm trọng.

4.4.2 Kiểm định tính phân phối chuẩn của sai số ngẫu nhiên

Theo lý thuyết định lượng, nếu phần dư không ngẫu nhiên và không có phân phối chuẩn, điều này cho thấy mô hình hồi quy có thể không đạt yêu cầu do các lỗi như bỏ sót biến quan trọng, sai dạng hàm, phương sai thay đổi và tự tương quan Phần dư cần có trung bình bằng không và phương sai không đổi; nếu không, các thống kê suy luận của mô hình như t-stat và F-stat sẽ không còn giá trị Vì vậy, việc kiểm định giả thuyết là cần thiết để đánh giá tính chính xác của mô hình hồi quy.

H0: Phần dư có phân phối chuẩn.

H1: Phần dư không có phân phối chuẩn.

Bằng phần mềm Eview6 ta mở resid/view/Descriptive Statistic/Histogram and Stats, ta được kết quả theo bảng 4.9

Bảng 4.9 Kết quả kiểm định tính phân phối chuẩn của phần dư mô hình (4).

(Nguồn: tác giả sử dụng phần mềm Eviews6 để tính toán)

Thống kê JB (Jarque-Bera) là công cụ quan trọng để kiểm tra tính phân phối chuẩn của biến trong hồi quy tuyến tính cổ điển Nó giúp xác định xem phần dư của mô hình hồi quy theo phương pháp OLS có phân phối chuẩn hay không, với giá trị JB = 0 chỉ ra phân phối chuẩn Xác suất đi kèm với giá trị JB cho biết khả năng thống kê JB lớn hơn giá trị quan sát dưới giả thiết không (H0), và giá trị xác suất nhỏ hơn cho thấy khả năng bác bỏ giả thiết H0 cao hơn.

Từ kết quả của bảng 4.9 ta thấy, giá trị p-value = 0,077905 > α = 0,05 nên ta chấp nhận giả thuyết H0, đồng nghĩa với việc phần dư có phân phối chuẩn.

Ki ểm đị nh mô hình h ồi quy để phát hi ệ n b ệ nh c ủ a mô hình

4.5.1 Phân tích mối tương quan giữa các biến

Mối tương quan giữa các biến được phân tích để kiểm tra sự liên hệ trong suốt thời kỳ nghiên cứu, dựa trên ma trận tương quan được trình bày trong bảng 4.10 Kết quả cho thấy tất cả các hệ số tương quan đều có trị tuyệt đối nhỏ hơn 1, điều này chỉ ra rằng không có biến nào có tương quan cao ảnh hưởng đến kết quả tổng thể Do đó, mô hình (4) không gặp phải hiện tượng đa cộng tuyến.

Bảng 4.10 trình bày mối tương quan giữa các biến trong nghiên cứu Các biến như ln(gdpp)t-1 có mối tương quan âm với ln(dtgdp) (-0,459) và ln(dtgdp)² (-0,657), trong khi gcf t có mối tương quan dương với g t (0,210) Biến popg t thể hiện sự tương quan âm với ln(gdpp)t-1 (-0,343) và tot t (-0,666), nhưng lại có mối liên hệ dương với gcf t (0,204) Đặc biệt, ir t cho thấy mối tương quan dương với tot t (0,339) và popg t (0,688), trong khi gio t có mối tương quan âm với popg t (-0,943) và bdtgdp t (0,103) Cuối cùng, bdtgdp t có mối tương quan dương với g t (0,443) và âm với ln(gdpp)t-1 (-0,245), cho thấy sự phức tạp trong các mối quan hệ giữa các biến.

(Nguồn: tác giả sử dụng phần mềm Eviews6 để tính toán) 4.5.2 Tự tương quan

Khi hiện tượng tự tương quan xuất hiện, các ước lượng OLS vẫn giữ tính không chệch, nhưng không còn hiệu quả Điều này có nghĩa là ước lượng OLS không phải là ước lượng không chệch tốt nhất trong trường hợp này.

Để đảm bảo ước lượng OLS đạt hiệu quả, cần thực hiện kiểm định tự tương quan trong mô hình thông qua kiểm định Breusch-Godfrey Serial Correlation LM Test.

H0: mô hình (4) không có tự tương quan

H1: mô hình (4) có tự tương quan.

Bằng phần mềm eview ta thu được kết quả sau:

(Nguồn: tác giả sử dụng phần mềm Eviews6 để tính toán)

Với giá trị Prob.Chi-Square = 0,0626> α=0,05, ta chấp nhận H0

Kết luận : mô hình (4) không có tự tương quan.

4.5.3 Phương sai thay đổi Để kiểm định tính hiệu quả của OLS, ta tiến hành kiểm định phương sai thay đổi bằng kiểm định Heteroskedasticity Test: Breusch-Pagan-Godfrey với giả thiết:

H0: mô hình (4) không có phương sai sai số thay đổi

H1: mô hình (4) có phương sai sai số thay đổi.

Bằng phần mềm eview ta thu được kết quả sau:

Prob.Chi-Square(Obs*R-squared) 0,1760

Pro.Chi-Square(Scaled explained SS) 0,8464

(Nguồn: tác giả sử dụng phần mềm Eviews6 để tính toán)

Với giá trị Prob.Chi-Square(Obs*R-squared) = 0,1760 > α=0,05 và giá trị Pro.Chi- Square(Scaled explained SS) = 0,8464> α=0,05 => Chấp nhận H0.

Kết luận : mô hình (4) không có phương sai thay đổi.

Kết quả kiểm tra các giả thuyết của OLS cho thấy không có vi phạm nghiêm trọng, do đó mô hình hồi quy (4) được ước lượng bằng phương pháp OLS là ổn định và hiệu quả.

Xác đị nh c ự c tr ị c ủ a mô hình h ồ i quy

Dựa trên nghiên cứu của Hemantha Kumara và N.S.Cooray (2013), để xác định cực trị của mô hình (4), tác giả đã thực hiện đạo hàm bậc nhất theo biến ln(dtgdpt) với kết quả là: dgt / dlndtgdpt = 76,81965 - 2 x 9,845097 [ln(dtgdpt)] Tiếp theo, tác giả tiến hành giải phương trình để tìm cực trị cho mô hình này.

Nghiệm của phương trình này cho giá trị dtgdp = 62,6134.

Do hệ số của biến bậc 2 [ln(dtgdpt)] 2 là - 9,845097 < 0 nên cực trị tìm được từ phương trình là giá trị cực đại.

Nói cách khác, 62,61% là giá trị của tỷ lệ công trên GDP mà tại đó nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng tối ưu.

Ngưỡng nợ công này gần với mức ngưỡng nợ công 65% do Quốc hội ban hành.

KẾ T LU Ậ N, GI Ả I PHÁP VÀ H Ạ N CH Ế C ỦA ĐỀ TÀI

K ế t lu ậ n

Phân tích cho thấy mối quan hệ phi tuyến giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế, với sự tồn tại của một ngưỡng nợ tối ưu Ngưỡng nợ 62,61% được xác định từ mô hình gần với mức 65% GDP do Quốc hội quy định, tại đó nền kinh tế đạt mức tăng trưởng tối đa.

Để đánh giá tình hình nợ công giữa các quốc gia một cách đầy đủ và khách quan, cần xem xét không chỉ số nợ mà còn nhiều yếu tố khác như khả năng vay và trả nợ, lãi suất phải trả, cơ cấu nợ, và nguy cơ bị thao túng bởi chủ nợ Các yếu tố này bao gồm chỉ số tín nhiệm tài chính, mức độ rủi ro tài chính, nguồn thu trả nợ từ thuế hoặc nguồn khác, cũng như hiệu quả sử dụng vốn vay.

Khi ngân sách gặp thâm hụt lớn, điều này ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng kinh doanh của khu vực tư, dẫn đến thất thu thuế và gia tăng nợ công Để giải quyết thâm hụt ngân sách và nợ công, có thể cần cắt giảm một số dự án trong chương trình chi tiêu công Tuy nhiên, việc cắt giảm không hợp lý có thể gây ra hệ lụy nặng nề và lâu dài, do đó cần phải thực hiện một cách khoa học và công tâm Cắt giảm chi tiêu công cần đảm bảo duy trì các chức năng thiết yếu của chính phủ, đồng thời trả lại một số chức năng cho thị trường.

Bài học từ khủng hoảng nợ công ở châu Âu và Pháp cho thấy các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam, cần nhận thức rõ nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng, như kỷ luật tài khóa lỏng lẻo và sự phân bổ nguồn vốn bị chi phối bởi mục tiêu chính trị hơn là kinh tế Để tránh rơi vào khủng hoảng nợ công, các quốc gia này cần hạn chế vay nợ, đặc biệt là vay nợ nước ngoài, và chỉ vay khi có khả năng trả nợ rõ ràng Họ cũng không nên chấp nhận lãi suất vay công cao hơn lãi suất thương mại, cũng như cần đặt hiệu quả kinh tế dài hạn lên trên mục tiêu chính trị ngắn hạn Việc ra quyết định vay nợ cần được thực hiện công khai và có trách nhiệm, đồng thời Chính phủ phải kiểm soát bội chi ngân sách để đảm bảo sự bền vững tài chính.

Gi ả i pháp nâng cao hi ệ u qu ả qu ả n lý n ợ công

Trong ngắn hạn, cần tập trung ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế.

Chính sách tiền tệ hiện nay được thực hiện một cách chặt chẽ, thận trọng và linh hoạt, kết hợp hài hòa với chính sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu Các công cụ chính sách tiền tệ, đặc biệt là lãi suất, cho vay tái cấp vốn và nghiệp vụ thị trường mở, được điều hành chủ động để đảm bảo thanh khoản cho các tổ chức tín dụng Bên cạnh đó, tỷ giá thị trường ngoại hối được điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường và tình hình cung - cầu ngoại tệ, nhằm khuyến khích xuất khẩu, giảm nhập siêu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và tăng cường dự trữ ngoại hối của nhà nước.

- Đối với chính sách tài khóa:

Cần thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, hiệu quả và tăng cường hiệu quả phối hợp với chính sách tiền tệ.

Để đảm bảo an ninh tài chính quốc gia, cần chú trọng kiểm soát chặt chẽ nợ công và cơ cấu nợ công Đồng thời, áp dụng các biện pháp quyết liệt nhằm chống thất thu ngân sách và xem xét cơ cấu chi tiêu của ngân sách nhà nước, đảm bảo tính hợp lý để tránh làm gia tăng thâm hụt ngân sách.

Trong dài hạn, việc cải cách mạnh mẽ thể chế kinh tế thị trường là cần thiết, tập trung vào tái cấu trúc nền kinh tế Cụ thể, cần chú trọng vào tái cấu trúc đầu tư công, thị trường tài chính, và hệ thống ngân hàng thương mại Đồng thời, cần thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty Nhà nước.

- Đối với cải cách thể chế:

Cần chú trọng lĩnh vực đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước, hệ thống tài chính – ngân hàng.

- Đối với tái cơ cấu đầu tư công:

Cần giảm dần đầu tư từ ngân sách nhà nước và khuyến khích xã hội hóa nguồn vốn đầu tư Tập trung vốn Nhà nước vào các công trình, dự án trọng điểm với hiệu quả kinh tế-xã hội cao Đồng thời, thực hiện lồng ghép các nguồn vốn để tránh tình trạng phân tán và đầu tư dàn trải, nhằm ngăn ngừa thâm hụt ngân sách.

- Đối với tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước:

Cần tập trung vào việc củng cố và phát triển bền vững các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước Điều này bao gồm việc hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường kiểm tra và giám sát, đồng thời làm rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và lãnh đạo Mục tiêu là tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhà nước tự vận động, giảm sự phụ thuộc vào Chính phủ, từ đó hạn chế thâm hụt ngân sách và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

- Đối với tái cơ cấu khu vực ngân hàng:

Cần thực hiện các giải pháp tái cơ cấu hệ thống ngân hàng một cách hiệu quả, đảm bảo không xảy ra đổ vỡ ngoài tầm kiểm soát Việc nâng cao năng lực tài chính, quản trị và điều hành là cần thiết để phát triển một hệ thống ngân hàng lành mạnh, an toàn và hiệu quả Đồng thời, cần kiên quyết xử lý dứt điểm các ngân hàng yếu kém, nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng hoạt động an toàn và hiệu quả, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

H ạ n ch ế c ủ a nghiên c ứ u 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều, nhưng theo tác giả, đề tài vẫn còn một số hạn chế.

Theo thống kê, việc ước lượng mô hình nợ công gặp khó khăn do tính chất phức tạp của chỉ tiêu này Các khoản nợ vay nước ngoài từ những con nợ không cư trú và nợ của chính quyền địa phương rất khó thu thập dữ liệu chính xác Do đó, kết quả ước lượng trong nghiên cứu có thể không phản ánh đúng thực trạng.

Do sự thiếu hụt và khó tiếp cận thông tin tài chính trong nước, nghiên cứu này đã sử dụng số liệu từ các tổ chức tài chính quốc tế Điều này có thể dẫn đến sự khác biệt với các số liệu báo cáo trong nước, do phương pháp và cách phân bổ khác nhau, cũng như sự không thống nhất trong khái niệm về nợ công giữa các tổ chức.

Theo số liệu thống kê từ nghiên cứu, tỷ lệ nợ công trên GDP của Việt Nam được tổng hợp bởi WB trong những năm gần đây duy trì trong khoảng 40%-50% Dữ liệu từ giai đoạn 1986-2013 cho thấy ngưỡng nợ công được xác định trong mô hình.

Theo các phương tiện thông tin đại chúng, nợ công của Việt Nam có thể đạt tới 100% nếu tính đầy đủ các khoản nợ của doanh nghiệp nhà nước không được Chính phủ bảo lãnh và nợ đọng xây dựng cơ bản, trong khi con số chính thức hiện tại là 62,61%.

Mẫu quan sát tương đối nhỏ (27 quan sát, từ năm 1987 đến 2013) có thể dẫn đến độ chính xác thấp trong các kết quả đo lường kinh tế lượng Nếu số liệu của Việt Nam được phản ánh theo quý, số mẫu quan sát sẽ tăng lên, giúp cải thiện độ chính xác của các phân tích kinh tế.

Danh mục tài liệu tiếng Việt

1 Luật quản lý nợ công số 29/2009/QH12 ngày 17/6/2009 của Quốc hội khóa XII. kỳ họp thứ 5.

Phạm Thị Thanh Bình (2013) đã nghiên cứu về vấn đề nợ công tại một số quốc gia trên thế giới và phân tích các chính sách đối phó phù hợp cho Việt Nam Tác phẩm được xuất bản bởi Nhà xuất bản Khoa học xã hội tại Hà Nội, cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình nợ công toàn cầu và những bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho Việt Nam.

Danh mục tài liệu tiếng nước ngoài

1 A.Baum, C.C.Westphal, P.Rother 2012 Debt and growth new evidence for the euro area European Central Bank.

2 A.Greiner, 2011 Sustainability of public debt: Some theoretical considerations.

3 A.T.Fonseka, S.S.Ranasinghe, 2008 Sustainability of Sri Lanka's Public Debt.

Sri Lankan Journal of Management 13(1 and 2) p.185-212.

4 Adam.C.S., Bevan.D.L., 2005 Fiscal deficits and growth in developing countries Journal of Public Economics.

5 Alfredo Schclarek, 2004 Debt and Economic Growth in developing and

Industrial Countries [pdf] Available at:

6 Andrea F.Presbitero, 2010 Total public debt and growth in developing countries.

[pdf] Available at:

7 Andrea F.Presbitero, 2012 Total Public Debt and Growth in Developing countries European Journal of Development Research forthcoming.

8 C.Checherita, P.Rother, 2010 The impact of high and growing government debt on economic growth an empirical investigation for the euro area European Central

9 C.M.Reinhart, K.S.Rogoff, 2010a Debt and Growth Revisited VoxEU.org.

C.M.Reinhart, K.S.Rogoff, 2010b Growth in a Time of Debt American Economic Review 100(2).

10 C.M.Reinhart, V.R.Reinhart, K.S.Rogoff, 2012 Public debt overhangs: Advanced economy episodes since 1800 Journal of Economic Perspective 26(3) p.

11 Catherine Pattillo, Helene Poirson and Luca Ricci, 2011 External Debt and Growth Review of Economics and Insitutions 2 (3).

12 Catherine Pattillo, Helene Poirson, Luca Ricci, 2004 What are the channels through which external debt affects growth? IMF Working Paper p.1-33.

13 Clements B., Bhattacharya.R., 2003 External debt Public investment and Growth in Low income countries IMF Working Paper.

14 Cottarelli, Carlo, 2011 The Risk Octagon: A Comprehensive Framework For

Assessing Sovereign Risks [pdf] Available at:

15 Cristina Checherita, Philipp Rother, 2010 The impact of high and growing government debt on economic growth An empirical investigation for the Euro area.

16 Cunningham.R.T, 1993 The effects of debt burden on economic growth in heavily indebted developing nations Journal of Economic Development 18(1). p.115-126.

17 D.Ekanayake, 2011 Assessing Government Debt Sustainability in Sri Lanka.

[pdf] Available at: http://www.cbsl.gov.lk/pics_n_docs/10_pub/_docs/IRC/2011/Govt._Debt_Full.pdf

18 Fabrizio Balassone, Maura Francese, Angelo Pace, 2011.Public debt and economic growth in Italy [pdf] Available at:

19 Fosu Augustin Kwasi, 2008 The External Debt-Servicing Constraint and Public expenditure Composition: Evidence from African Economies [pdf]

Available at:

20 Hemantha Kumara, N.S.Cooray, 2013 Public debt and economic growth in Sri

Lanka: Is there any threshold level for public debt? [pdf] Available at:

21 Krugman Paul, 1988 Financing vs forgiving a debt overhang [pdf] Available at: .

22 Lin.S, 2000 Government debt and economic growth in an overlapping generations model Southern Economic Journal 66(3) p.754-763.

23 Lin.S., Sosin.K., 2001 Foreign Debt and Economic Growth Economics of

24 M.Safdari, M.A.Mehriz, 2011 External debt and economic growth in Iran

Journal of Economics and International Finance p.322-327.

25 Manmohan S.Kumar, Jaejoon Woo, 2010 Public debt and growth IMF Working Paper WP/10/174.

26 Musebu Sichula, 2012 Debt Overhang and Economic Growth in HIPC Countries: The Case of Southern African Development Community (SADC) [pdf]

27 Pham The Anh, 2011 Public debt of Vietnam: Risk and challenges Journal of Economics and Development Vol.13 No.3 December 2011 pp 5 – 23.

28 R.Jha, 2001 Macroeconomics of Fiscal Policy in Developing Countries.

29 S.Malik, M.K.Hayat, M.U.Hayat, 2010 External debt and economic growth: empirical evidence from Pakistan International Research Journal of Finance and

30 Tsangyao Chang, Gengnan Chiang, 2012 Transitional behavior of Government debt ratio on growth: The case of OECD countries Romanian Journal of Economic

31 Ugo Panizza, Andrea F.Presbitero, 2012 Public debt and economic growth: Is there a causal effect? Mofir working paper n o 65.

1.http://data.worldbank.org/country/vietnam

2.http://finance.vietstock.vn/du-lieu-vi-mo

3.http://tapchitaichinh.vn/Trao-doi-Binh-luan/Quan-he-phuc-tap-giua-tang-truong- kinh- te-va-no-cong/24254.tctc

4.http://www.imf.org/external/pubs/ft/weo/2014/01/weodata/weoselco.aspx?g 01

5.http://www.economist.com/content/global_debt_clock

6.http://www.gso.gov.vn

7.http://www.sbv.gov.vn

Nguyễn Hữu Tuấn, 2012 Mối quan hệ nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế ViệtNam Tạp chí phát triển và hội nhập, số 4(14) – tháng 5,6/2012, p.21.

Ngày đăng: 13/10/2022, 22:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Đường cong Laffer nợ - Nợ công và tăng trưởng kinh tế bằng chứng thực nghiệm tại
Hình 1.1 Đường cong Laffer nợ (Trang 16)
Đồng thời, nghiên cứu cũng không xem xét mơ hình sử dụng biến cơng cụ là biến trễ của các biến giải thích do theo nghiên cứu của Hemantha Kumara, N.S.Cooray (2013) thì các kết quả thu được từ mơ  hình này khơng có ý nghĩa kinh tế cao. - Nợ công và tăng trưởng kinh tế bằng chứng thực nghiệm tại
ng thời, nghiên cứu cũng không xem xét mơ hình sử dụng biến cơng cụ là biến trễ của các biến giải thích do theo nghiên cứu của Hemantha Kumara, N.S.Cooray (2013) thì các kết quả thu được từ mơ hình này khơng có ý nghĩa kinh tế cao (Trang 26)
Kỳ vọng về dấu của các hệ số trong mơ hình nghiên cứu được kỳ vọng theo kỳ vọng  về  dấu của  các  hệ  số  trong  mơ  hình nghiên  cứu  của  Hemantha  Kumara, N.S.Cooray  (2013). - Nợ công và tăng trưởng kinh tế bằng chứng thực nghiệm tại
v ọng về dấu của các hệ số trong mơ hình nghiên cứu được kỳ vọng theo kỳ vọng về dấu của các hệ số trong mơ hình nghiên cứu của Hemantha Kumara, N.S.Cooray (2013) (Trang 30)
Bảng 3.2: Kỳ vọng về dấu của các hệ số trong mơ hình nghiên cứu. - Nợ công và tăng trưởng kinh tế bằng chứng thực nghiệm tại
Bảng 3.2 Kỳ vọng về dấu của các hệ số trong mơ hình nghiên cứu (Trang 30)
Kết quả từ Hình 5 cho thấy trong 180 ngày nuôi khối lượng trung bình 2 nghiệm thức nuôi dao động từ 80,67  - 97,70 g/con - Nợ công và tăng trưởng kinh tế bằng chứng thực nghiệm tại
t quả từ Hình 5 cho thấy trong 180 ngày nuôi khối lượng trung bình 2 nghiệm thức nuôi dao động từ 80,67 - 97,70 g/con (Trang 30)
Bảng 4.1. Thống kê mô tả các biến trong mơ hình. - Nợ công và tăng trưởng kinh tế bằng chứng thực nghiệm tại
Bảng 4.1. Thống kê mô tả các biến trong mơ hình (Trang 34)
Bảng 4.2. Kết quả kiểm định dạng của chuỗi số liệu. - Nợ công và tăng trưởng kinh tế bằng chứng thực nghiệm tại
Bảng 4.2. Kết quả kiểm định dạng của chuỗi số liệu (Trang 38)
Biến Mean Thống kê t Dạng mơ hình - Nợ công và tăng trưởng kinh tế bằng chứng thực nghiệm tại
i ến Mean Thống kê t Dạng mơ hình (Trang 38)
Kết quả kiểm định tính dừng tại bảng 4.3 cho thấy các chuỗi số liệu của các biến gt. ln(gdpp)t-1,  ln(dtgdpt),  ln(dtgdpt)2,  gcft,  totgt, irt,  giot, bdtgdpt dừng  ở  hầu  hết  mọi mức ý nghĩa - Nợ công và tăng trưởng kinh tế bằng chứng thực nghiệm tại
t quả kiểm định tính dừng tại bảng 4.3 cho thấy các chuỗi số liệu của các biến gt. ln(gdpp)t-1, ln(dtgdpt), ln(dtgdpt)2, gcft, totgt, irt, giot, bdtgdpt dừng ở hầu hết mọi mức ý nghĩa (Trang 40)
Biến Mean Thống kê t Dạng mơ hình - Nợ công và tăng trưởng kinh tế bằng chứng thực nghiệm tại
i ến Mean Thống kê t Dạng mơ hình (Trang 41)
Nếu phần dư của mơ hình hồi quy (2) khơng phải là một chuỗi dừng thì ta sẽ tiến hành hồi quy gt theo các biến ln(gdpp)t-1, ln(dtgdpt), ln(dtgdpt)2, gcft, totgt, irt, giot , bdtgdpt và các biến sai phân của những biến không dừng: dpopgt và dlitgt theo mô h - Nợ công và tăng trưởng kinh tế bằng chứng thực nghiệm tại
u phần dư của mơ hình hồi quy (2) khơng phải là một chuỗi dừng thì ta sẽ tiến hành hồi quy gt theo các biến ln(gdpp)t-1, ln(dtgdpt), ln(dtgdpt)2, gcft, totgt, irt, giot , bdtgdpt và các biến sai phân của những biến không dừng: dpopgt và dlitgt theo mô h (Trang 42)
Bảng 4.6 cho ta kết quả hồi quy mẫu mô tả quan hệ giữa các biến kinh tế theo mô hình sau: - Nợ công và tăng trưởng kinh tế bằng chứng thực nghiệm tại
Bảng 4.6 cho ta kết quả hồi quy mẫu mô tả quan hệ giữa các biến kinh tế theo mô hình sau: (Trang 43)
Do đó, ta tiến hành kiểm định nghiệm đơn vị phần dư của mơ hình hồi quy (4) và thu được kết quả theo bảng 4.7. - Nợ công và tăng trưởng kinh tế bằng chứng thực nghiệm tại
o đó, ta tiến hành kiểm định nghiệm đơn vị phần dư của mơ hình hồi quy (4) và thu được kết quả theo bảng 4.7 (Trang 43)
4.5. Kiểm định mơ hình hồi quy để phát hiện bệnh của mơ hình. - Nợ công và tăng trưởng kinh tế bằng chứng thực nghiệm tại
4.5. Kiểm định mơ hình hồi quy để phát hiện bệnh của mơ hình (Trang 47)
Bảng 4.2. Kết quả kiểm định dạng của chuỗi số liệu. - Nợ công và tăng trưởng kinh tế bằng chứng thực nghiệm tại
Bảng 4.2. Kết quả kiểm định dạng của chuỗi số liệu (Trang 60)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w