1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện các biện pháp huy động vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

78 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn Thiện Các Biện Pháp Huy Động Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Từ Nước Ngoài
Tác giả Phạm Nhật Đương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Tp.Hcm
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2000
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 404,1 KB

Cấu trúc

  • 1.1.1 Hoạt động đầu tư và vốn đầu tư (7)
  • 1.1.2 Đầu tư nước ngoài (7)
  • 1.1.3 Đầu tư nước ngoài trực tiếp (8)
  • 1.1.4 Những lợi thế của FDI đối với nước nhận đầu tư (10)
  • 1.1.5 Những hạn chế của FDI đối với nước nhận đầu tư (12)
  • 1.2 KHU CÔNG NGHIỆP VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG SỰ NGHIEÄP CNH- HẹH. 8 (14)
    • 1.2.1 Sự hình thành khu công nghiệp (14)
    • 1.2.2 Khu công nghiệp và các hình thức của khu công nghiệp 9 (15)
      • 1.2.2.1 Khu cheá xuaát (15)
      • 1.2.2.2 Khu sản xuất hàng thay thế nhập khẩu (16)
      • 1.2.2.3 Khu coõng nghieọp (16)
      • 1.2.2.4 Khu coõng ngheọ cao (16)
      • 1.2.2.5 Khu vực kinh tế tự do (17)
      • 1.2.2.6 Khu mậu dịch tự do (17)
      • 1.2.2.7 Đặc khu kinh tế (17)
  • CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI (6)
    • 2.1 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH ĐỒNG NAI TRONG THỜI GIAN QUA ............................................................................................................ 18 2.2.......................................................................................................T HỰC TRẠNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI 24 2.....................................................................................................Tình hình quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp 24 2..1.......................................................................................Tình hình quy hoạch các khu công nghiệp (24)
  • CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN FDI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI (6)
    • 3.1 MỤC TIÊU HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (49)
    • 3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG VIỆC THU HÚT NGUOÀN VOÁN FDI (51)
      • 3.2.4 Cần đa dạng hóa các loại hình doanh nghiệp FDI ở các khu công nghiệp (0)
      • 3.2.6 Xây dựng và phát triển các hệ thống cơ sở hạ tầng (62)
      • 3.3.2 Nâng cao năng lực đối tác của các doanh nghiệp Việt Nam trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai (68)
    • Trang 2 3.3.4......Naâng cao vai trò đàm phán quoác teá cuûa các doanh nghieọp Vieọt Nam treân ủũa bàn Tổnh (0)

Nội dung

Hoạt động đầu tư và vốn đầu tư

Để thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, các quốc gia cần có một lượng vốn lớn để tham gia vào các hoạt động đầu tư.

Hoạt động đầu tư là quá trình huy động nguồn vốn để khai thác và chế biến sản phẩm hoặc dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định Mục tiêu của việc đầu tư là thu hồi vốn, tạo ra lợi nhuận cho nhà đầu tư và mang lại lợi ích kinh tế xã hội cho đất nước Ngoài ra, đầu tư còn bao gồm các lĩnh vực phi kinh tế, như đầu tư vào con người và các mục tiêu phúc lợi công cộng, mặc dù những hoạt động này không mang lại lợi nhuận ngay lập tức.

Vốn bỏ vào các hoạt động đầu tư được coi là vốn đầu tư , trong quá trình đầu tư vốn đầu tư thể hiện ở nhiều dạng khác nhau :

- Tiền tệ các loại : ngoại tệ , nội tệ , kể cả vàng bạc và đá quùy

Tài sản hữu hình bao gồm nhà xưởng, máy móc thiết bị, tài nguyên, khoáng sản và đất đai, trong khi tài sản vô hình bao gồm bằng phát minh sáng chế, bí quyết công nghệ và sức lao động.

- Các phương tiện đầu tư đặc biệt khác như : cổ phiếu , hối phieáu….

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do hóa kinh tế hiện nay, nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt đối với các nước đang phát triển Những quốc gia này cần vốn để nâng cao sản xuất và kỹ thuật, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Do đó, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài là thiết yếu, mặc dù về lâu dài, vốn đầu tư trong nước vẫn đóng vai trò chủ chốt trong sự phát triển kinh tế.

Đầu tư nước ngoài

Đầu tư nước ngoài là quá trình chuyển giao vốn từ một quốc gia sang quốc gia khác, với mục tiêu mang lại lợi nhuận cho các nhà đầu tư và thúc đẩy lợi ích kinh tế xã hội cho các quốc gia tiếp nhận đầu tư.

Hiện nay, nhiều quốc gia và tổ chức tài chính quốc tế như IMF, WB, ADB đang nắm giữ một lượng vốn lớn và có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài Bối cảnh toàn cầu hiện tại đã tạo ra những cơ hội đầu tư ngày càng phổ biến, đặc biệt ở các nước công nghiệp phát triển Những quốc gia này nhận thấy lợi thế của nhau, và đầu tư nước ngoài trở thành cầu nối giúp các nhà đầu tư khai thác lợi thế so sánh, đồng thời thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế toàn cầu.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đầu tư quốc tế không chỉ diễn ra ở các nước công nghiệp phát triển mà còn mở rộng sang các nước đang phát triển Các nước phát triển ngày càng nhận ra tiềm năng sinh lời từ việc đầu tư vào các nước đang phát triển, dẫn đến sự gia tăng đầu tư quốc tế vào khu vực này theo thời gian Điều này tạo ra cơ hội thuận lợi cho các nước đang phát triển trong việc thu hút vốn để thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ( OECD) thì nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm những hình thức sau ủaõy:

Official Development Finance (ODF) encompasses various funding sources, including Official Development Assistance (ODA) and other multilateral or bilateral forms of ODF ODA constitutes a significant portion of the total ODF, highlighting its importance in international development financing.

 Tín dụng từ các ngân hàng thương mại.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một nguồn vốn quan trọng, bên cạnh viện trợ không hoàn lại từ các tổ chức chính phủ, liên chính phủ và phi chính phủ (NGOs), cùng với các nguồn tài trợ tư nhân khác.

Mỗi hình thức đầu tư đều có những ưu điểm riêng tùy thuộc vào điều kiện của từng quốc gia, nhưng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang chứng tỏ là hình thức hiệu quả nhất Hiện nay, FDI đang gia tăng mạnh mẽ cả về khối lượng và tỉ trọng trong tổng nguồn vốn đầu tư quốc tế Sự hiệu quả của FDI tại các quốc gia Châu Á như các nước công nghiệp mới (NICs) và ASEAN là minh chứng rõ ràng cho ưu thế của hình thức đầu tư này.

Đầu tư nước ngoài trực tiếp

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư quốc tế, trong đó nhà đầu tư đóng góp một khoản vốn lớn vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hoặc dịch vụ được phép, đồng thời tham gia trực tiếp vào việc điều hành hoạt động của dự án đầu tư đó.

Khác với ODF, chủ yếu là ODA, nguồn tài trợ chính thức có thể cho không hoặc vay ưu đãi, FDI có những đặc điểm riêng biệt.

FDI không chỉ mang lại vốn cho quốc gia tiếp nhận, mà còn cung cấp kỹ thuật, công nghệ, bí quyết và năng lực quản lý Để đạt được lợi nhuận, các nhà đầu tư cần liên tục cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường.

Việc thu hút FDI không chỉ không làm tăng nợ cho quốc gia tiếp nhận, mà còn tạo cơ hội để phát huy tiềm năng nội địa thông qua các nguồn vốn FDI này.

- Chủ thể của FDI chủ yếu là các công ty xuyên quốc gia, chiếm 90% khối lượng FDI trên toàn thế giới.

Phần còn lại không đáng kể của FDI thuộc về các nhà nước và các tổ chức quốc tế khác.

- FDI được thực hiện dưới nhiều hình thức.

+ Bỏ 100% vốn để xây dựng xí nghiệp mới (

A wholly foreign-owned enterprise is a business established in the host country by foreign investors who fully manage and are responsible for their operational outcomes This investment form is characterized by complete ownership and control by the foreign entity.

 Doanh nghiệp được lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn , mang tư cách pháp nhân của nước tiếp nhận đầu tư.

Vốn pháp định của doanh nghiệp tối thiểu phải đạt 30% tổng vốn đầu tư, tuy nhiên, đối với các dự án đầu tư vào vùng kinh tế khó khăn, tỷ lệ này có thể giảm xuống chỉ còn 20%.

 Trong quá trình hoạt động không được giảm vốn pháp định ,tăng vốn pháp định phải xin phép

Mua lại toàn bộ hoặc một phần xí nghiệp đang hoạt động tại nước chủ nhà là một chiến lược đầu tư hiệu quả Ngoài ra, việc góp vốn cùng đối tác địa phương để thành lập xí nghiệp liên doanh với các tỷ lệ khác nhau cũng mang lại nhiều cơ hội phát triển.

+ Bỏ vốn xây dựng các công trình, sau đó chuyển giao lại cho nước chủ nhà theo thỏa thuận giữa hai bên

Hình thức BOT và các mô hình tương tự là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài, nhằm xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng trong một khoảng thời gian nhất định Sau khi hết thời hạn, nhà đầu tư nước ngoài sẽ chuyển giao công trình đó cho nước tiếp nhận đầu tư mà không nhận lại bồi hoàn.

Hình thức Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh (BTO) cho phép nhà đầu tư nước ngoài sau khi hoàn thành xây dựng công trình kết cấu hạ tầng sẽ chuyển giao công trình đó cho quốc gia tiếp nhận đầu tư.

Chính phủ của nước tiếp nhận đầu tư sẽ cấp quyền kinh doanh cho nhà đầu tư trong một khoảng thời gian nhất định, nhằm giúp họ thu hồi vốn đầu tư và đạt được lợi nhuận hợp lý.

 Đối với hình thức Xây dựng –Chuyển giao ( Build-

Sau khi hoàn thành xây dựng các công trình hạ tầng, nhà đầu tư nước ngoài sẽ tiến hành chuyển giao các công trình này cho quốc gia tiếp nhận đầu tư.

Nhìn chung các hình thức BOT, BTO, BT đều có chung những đặc ủieồm sau:

 Chỉ được ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền

 Đầu tư vào cơ sở hạ tầng của nước tiếp nhận đầu tư như : xây dựng đường, cầu , cảng , sân bay , các công trình điện ,nước ,

Nhà đầu tư nước ngoài sẽ được hưởng nhiều ưu đãi từ chính phủ nước tiếp nhận đầu tư, bao gồm miễn giảm tiền thuê đất, thuế và thời gian đầu tư dài, giúp họ dễ dàng thu hồi vốn và đạt lợi nhuận hợp lý.

Hết thời hạn hoạt động của giấy phép, chủ đầu tư phải chuyển giao công trình cho nước tiếp nhận trong tình trạng hoạt động bình thường và không bồi hoàn Mỗi hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đều có ưu điểm và nhược điểm riêng, và việc lựa chọn hình thức phù hợp phụ thuộc vào mục đích của cả nước đầu tư và nước tiếp nhận Tuy nhiên, hình thức liên doanh thường được ưa chuộng hơn cả Trong những năm qua, đầu tư trực tiếp nước ngoài trên toàn cầu đã tăng trưởng đáng kể, minh chứng qua số liệu FDI giai đoạn 1990-1996.

Biểu 1.1: TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN THẾ GIỚI GIAI ĐOẠN 1990- 1996

Tốc độ tăng bình quân hàng naêm 32,82%

Nguoàn: Global Development Finance - World Bank Book 1997

Giai đoạn 1990-1996, đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) toàn cầu tăng nhanh với mức bình quân hàng năm trên 32%, cho thấy FDI đã trở thành yếu tố thiết yếu trong bối cảnh quốc tế hóa sản xuất và lưu thông Mọi quốc gia đều cần nguồn đầu tư này để hội nhập vào nền kinh tế thế giới, vì FDI mang lại nhiều lợi ích cho cả nước đầu tư và nước nhận đầu tư Đặc biệt, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, việc thu hút FDI là một lợi thế quan trọng trong thời đại hiện nay.

Những lợi thế của FDI đối với nước nhận đầu tư

FDI đóng vai trò quan trọng trong việc bù đắp thiếu hụt vốn ngoại tệ cho các quốc gia nhận đầu tư, đặc biệt là những nước đang phát triển.

Hầu hết các nước kém phát triển Đều rơi vào cái

Vòng lẩn quẩn giữa thu nhập thấp, tiết kiệm thấp và đầu tư thấp là một trong những thách thức lớn nhất mà các nước đang phát triển phải vượt qua để hội nhập vào nền kinh tế hiện đại Tình trạng này dẫn đến trì trệ và nghèo đói, do các quốc gia không thể xác định và tạo ra điểm đột phá cần thiết để thoát khỏi chu kỳ tiêu cực này.

Để phát triển kinh tế cho các nước kém phát triển, cần có vốn đầu tư và công nghệ Vốn đầu tư không chỉ tạo ra công ăn việc làm và đổi mới công nghệ mà còn tăng năng suất lao động, từ đó nâng cao thu nhập và tích lũy cho xã hội Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào tích lũy nội bộ, các nước này sẽ khó tránh khỏi tình trạng tụt hậu Do đó, vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đóng vai trò quan trọng trong việc khắc phục tình trạng thiếu vốn mà không làm gia tăng nợ cho nước nhận đầu tư Khác với vốn vay, FDI chỉ mang lại lợi nhuận khi các dự án hoạt động hiệu quả, và thời hạn của FDI cũng linh hoạt hơn so với thời hạn trả nợ vốn vay cố định.

Theo mô hình lý thuyết "hai lỗ hổng" của Cherery và Strout, sự tăng trưởng của một quốc gia thường bị cản trở bởi hai vấn đề chính: "lỗ hổng tiết kiệm" do tiết kiệm không đủ đáp ứng nhu cầu đầu tư và "lỗ hổng thương mại" khi thu nhập từ xuất khẩu không đủ cho nhu cầu ngoại tệ nhập khẩu Tại các nước kém phát triển, hai lỗ hổng này thường rất lớn, khiến FDI trở thành nguồn quan trọng để bù đắp cho thiếu hụt vốn và ngoại tệ FDI không chỉ nâng cao khả năng cạnh tranh mà còn mở rộng khả năng xuất khẩu, đồng thời mang lại lợi nhuận từ các công ty nước ngoài và thu ngoại tệ từ các dịch vụ phục vụ FDI.

FDI mang lại nhiều lợi ích quan trọng cho các nước nhận đầu tư, đặc biệt là công nghệ kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn và trình độ quản lý tiên tiến Đây là yếu tố căn bản giúp thúc đẩy sự đổi mới kỹ thuật, tăng năng suất sản xuất và cải thiện giá thành sản phẩm FDI không chỉ góp phần vào sự phát triển của các ngành nghề mới, đặc biệt là những ngành có hàm lượng công nghệ cao, mà còn hỗ trợ quá trình công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng nhanh chóng tại các quốc gia này.

FDI mang lại kinh nghiệm quản lý, kỹ năng kinh doanh và trình độ kỹ thuật cho các đối tác trong nước thông qua chương trình đào tạo và quá trình học tập thực tiễn Đồng thời, FDI cũng thúc đẩy các quốc gia nhận đầu tư nâng cao chất lượng đào tạo cho kỹ sư và nhà quản lý chuyên môn, nhằm tham gia hiệu quả vào các công ty liên doanh với nước ngoài.

Nhiều quốc gia thu hút FDI đã chứng kiến sự cải thiện rõ rệt trong trình độ kỹ thuật công nghệ Ví dụ, vào đầu những năm 60, Hàn Quốc còn yếu kém trong lĩnh vực lắp ráp ô tô Tuy nhiên, nhờ vào sự đầu tư từ Mỹ, Nhật Bản và một số quốc gia khác, đến năm 1993, Hàn Quốc đã vươn lên trở thành quốc gia sản xuất ô tô lớn thứ 7 trên thế giới.

Ba laứ mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt trong việc tạo ra công ăn việc làm Việc tạo thêm công việc không chỉ giúp tăng thu nhập cho người lao động mà còn thúc đẩy tích lũy kinh tế trong nước.

FDI đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra cơ hội việc làm thông qua việc cung cấp việc làm trực tiếp tại các công ty có vốn đầu tư nước ngoài Ngoài ra, FDI còn kích thích việc làm tại các tổ chức khác khi nhà đầu tư nước ngoài mua hàng hóa và dịch vụ từ các nhà sản xuất nội địa hoặc thông qua các hợp đồng gia công Thực tế cho thấy, FDI đã góp phần tích cực vào việc tạo ra việc làm trong các ngành sử dụng nhiều lao động như may mặc, điện tử và chế biến Ví dụ, một công ty máy tính của Mỹ sản xuất ổ đĩa đã tăng số lượng việc làm tại Băng Cốc, Thái Lan từ 5.000 lên 20.000 người trong năm 1988 Tương tự, vào năm 1989, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài tại Singapore đã chiếm đến 70% tổng số lao động trong khu chế biến.

Sự đóng góp của FDI đối với việc làm tại các quốc gia nhận đầu tư phụ thuộc chủ yếu vào chính sách và năng lực kỹ thuật của từng nước.

*Bốn là, thông qua FDI, các nước nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế giới.

Các nước đang phát triển gặp khó khăn trong việc thâm nhập thị trường quốc tế dù có khả năng sản xuất cạnh tranh Tuy nhiên, thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), họ có thể tiếp cận thị trường toàn cầu Hầu hết hoạt động FDI được thực hiện bởi các công ty đa quốc gia, những đơn vị này có lợi thế trong việc xây dựng mối quan hệ với khách hàng thông qua các hợp đồng dài hạn, dựa trên uy tín về chất lượng sản phẩm và khả năng thực hiện đúng thời hạn.

Việc tiếp nhận FDI mang lại lợi thế rõ rệt cho các nước đang phát triển, nhưng không thể coi vốn nước ngoài là yếu tố quyết định duy nhất cho sự phát triển quốc gia FDI cũng tiềm ẩn những mặt trái cần được xem xét kỹ lưỡng trong quá trình thu hút Nếu không cân nhắc, lợi ích từ FDI có thể không bù đắp được những thiệt hại mà nó gây ra Nhiều nghiên cứu và thực tiễn thu hút FDI trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam, đã chỉ ra rằng FDI có những hạn chế nhất định Do đó, cần thảo luận về những tác động tiêu cực của FDI đối với các nước nhận đầu tư, đặc biệt là Việt Nam.

Những hạn chế của FDI đối với nước nhận đầu tư

Để thu hút FDI, các quốc gia cần cung cấp nhiều ưu đãi cho nhà đầu tư nước ngoài, bao gồm giảm thuế và miễn thuế trong thời gian dài cho hầu hết các dự án Ngoài ra, chi phí thuê đất, nhà xưởng và dịch vụ cho các nhà đầu tư nước ngoài thường thấp hơn so với nhà đầu tư nội địa, và trong một số lĩnh vực, họ còn được hưởng sự bảo hộ thuế quan từ nhà nước Điều này có thể dẫn đến tình huống mà lợi ích của nhà đầu tư vượt trội hơn so với lợi ích mà nước chủ nhà thu được.

*Hai là, các nhà đầu tư thường tính giá cao hơn mặt bằng quốc tế cho các nhân tố đầu vào.

Các nhà đầu tư nước ngoài thường định giá cao cho nguyên vật liệu, bán thành phẩm và máy móc thiết bị nhập khẩu, điều này giúp họ trốn thuế và che giấu lợi nhuận thực tế, từ đó hạn chế sự gia nhập của các đối thủ cạnh tranh Tuy nhiên, việc này dẫn đến chi phí sản xuất cao cho các nước chủ nhà, buộc họ phải mua hàng hóa từ các nhà đầu tư nước ngoài với giá cao hơn.

Việc tính giá cao thường xảy ra khi nước chủ nhà thiếu thông tin và có trình độ kiểm soát, quản lý chuyên môn yếu Ngoài ra, chính sách của nước đó còn nhiều khe hở, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư lợi dụng.

Các nước đầu tư thường chuyển giao công nghệ và kỹ thuật lạc hậu vào nước nhận đầu tư do sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học kỹ thuật Điều này dẫn đến việc máy móc và công nghệ nhanh chóng trở nên lạc hậu, và các nhà đầu tư thường sử dụng những thiết bị này để cải tiến sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm Trong giai đoạn đầu phát triển, nhiều quốc gia sử dụng công nghệ lao động nhiều, nhưng sau một thời gian, giá lao động tăng lên, dẫn đến chi phí sản xuất cao hơn.

Vì vậy họ muốn thay công nghệ này bằng những công nghệ có hàm lượng công nghệ cao để hạ giá thành sản phaồm.

Việc chuyển giao công nghệ lạc hậu đã gây ra nhiều thiệt hại cho nước nhận đầu tư, bao gồm khó khăn trong việc xác định giá trị thực của máy móc, dẫn đến thiệt hại trong chia lợi nhuận Ngoài ra, quá trình này còn gây tổn hại đến môi trường, sản phẩm có chất lượng thấp và chi phí sản xuất cao, khiến cho sản phẩm của nước nhận đầu tư khó cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

Tình hình chuyển giao công nghệ tại các nước đang phát triển, đặc biệt ở Châu Mỹ La Tinh và ASEAN, vẫn đang gặp nhiều khó khăn Theo báo cáo của Ngân hàng phát triển, 70% thiết bị mà các nước Châu Mỹ La Tinh nhập khẩu từ các nước phát triển là công nghệ lạc hậu Tương tự, các nước ASEAN cũng đã phải đối mặt với nhiều thiệt thòi trong quá trình chuyển giao công nghệ do thiếu kinh nghiệm kiểm soát.

Mặt trái của đầu tư công nghệ phụ thuộc vào chính sách và pháp luật bảo vệ môi trường của quốc gia nhận đầu tư Ví dụ, Mexico có khoảng 1.800 nhà máy lắp ráp sản phẩm của các công ty xuyên quốc gia Mỹ, trong đó nhiều nhà máy được chuyển giao để tránh các quy định môi trường nghiêm ngặt tại Mỹ và tận dụng những lỗ hổng trong luật môi trường tại Mexico.

*Bốn là, sản xuất hàng hóa không thích hợp.

Các nhà đầu tư thường bị chỉ trích vì sản xuất và tiêu thụ những hàng hóa không phù hợp cho các quốc gia kém phát triển, thậm chí có thể gây hại cho sức khỏe con người và ô nhiễm môi trường Ví dụ điển hình là việc khuyến khích sử dụng thuốc lá, thuốc trừ sâu, nước ngọt có ga thay thế cho nước hoa quả tươi, và các chất tẩy rửa thay thế xà phòng.

*Năm là, những mặt trái khác.

Trong số các nhà đầu tư, không thiếu những trường hợp tham gia vào hoạt động tình báo và gây rối an ninh, chính trị Điển hình là sự kiện Chính phủ Xanvađo Agienđê ở Chilê bị lật đổ.

1973 là một ví dụ về sự can thiệp của công ty xuyên quốc gia ITT và việc chính phủ Mỹ can thiệp vào công việc nội bộ của Chilê.

Nhà đầu tư luôn tìm kiếm lợi nhuận tối đa, dẫn đến việc họ chỉ rót vốn vào những khu vực sinh lời cao nhất Hệ quả là, sự chênh lệch về vốn đầu tư giữa các vùng, đặc biệt là giữa nông thôn và thành phố, ngày càng gia tăng Sự mất cân đối này có thể tiềm ẩn nguy cơ gây ra bất ổn chính trị.

FDI có thể gây ra những tác động tiêu cực đến xã hội, khi người dân bản địa làm việc cho các nhà đầu tư có thể bị ảnh hưởng xấu, dẫn đến việc thay đổi quan điểm và lối sống của họ Nguy hiểm hơn, điều này có thể khiến họ phản bội tổ quốc Bên cạnh đó, các tệ nạn xã hội như mại dâm và nghiện hút cũng có thể gia tăng song hành với sự phát triển của FDI.

Những mặt trái của FDI không thể phủ nhận những lợi thế cơ bản của nó, nhưng cần lưu ý rằng không nên đặt quá nhiều kỳ vọng vào FDI Cần có những chính sách hợp lý và biện pháp kiểm soát hiệu quả để tối đa hóa lợi ích và hạn chế tác động tiêu cực của FDI Mức độ thiệt hại mà FDI gây ra cho quốc gia tiếp nhận phụ thuộc vào chính sách, năng lực, trình độ quản lý và chuyên môn của nước nhận đầu tư.

KHU CÔNG NGHIỆP VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG SỰ NGHIEÄP CNH- HẹH 8

Sự hình thành khu công nghiệp

Vào năm 1896, khu công nghiệp đầu tiên trên thế giới được thành lập tại Trafford Park, Manchester, Anh Quốc Đến năm 1899, khu công nghiệp Clearing ở Chicago, Mỹ ra đời Đến thập niên 1940, Mỹ dẫn đầu thế giới với 33 khu công nghiệp Từ những năm 1950-1960, số lượng khu công nghiệp bùng nổ mạnh mẽ: năm 1959, Mỹ có 1.000 khu công nghiệp, năm 1965 tăng lên 1.117 khu, và năm 1970 đạt 2.000 khu Trong khi đó, Anh Quốc có 55 khu công nghiệp vào năm 1959, Pháp có 230 khu vào năm 1963, và Puerto Rico cũng có 30 khu công nghiệp vào năm 1963.

Vào năm 1951, công ty nhà nước phát triển và quản lý KCN Jorong đã chính thức khai trương tại Singapore, đánh dấu sự ra đời của khu công nghiệp đầu tiên ở các nước đang phát triển tại châu Á Tại Malaysia, việc xây dựng khu công nghiệp bắt đầu vào năm 1954, và đến giữa những năm 90, số lượng khu công nghiệp ở nước này đã tăng lên 139 Ở Ấn Độ, vào năm 1966, đã có 283 khu công nghiệp hoạt động.

1979 có 705 KCN Sau đó hàng loạt các khu công nghiệp ở các nước lân cận đã được ra đời như KCN Thẩm Quyến ở

Trung Quốc , KCN Kualalampua, Clac ở Philippines :4.400 ha,

Subic :200 ha , bangpakong ở Thailand :650 ha, Giacacta ở

Khu công nghiệp (KCN) đã từ lâu được xem là động lực quan trọng trong chính sách công nghiệp của nhiều quốc gia, tuy nhiên không phải quốc gia nào cũng đạt được thành công trong việc phát triển KCN.

1988 , theo World Bank, ở châu Á số lượng khu công nghiệp được đánh giá là không thành công vào khoảng

50% với những lý do sau :

- Không thu hút được các nhà đầu tư

- Trị giá xây dựng ban đầu quá cao

- Xây dựng quá nhiều các tiện nghi đi trước nhu cầu

- Dựa quá nhiều vào nguồn trợ cấp của nhà nước.

Từ những năm 1960, Liên Hiệp Quốc đã tiến hành nghiên cứu và tổ chức các hội thảo về khu công nghiệp như một công cụ phát triển kinh tế Trong giai đoạn 1977-1990, các hoạt động này đã được mở rộng và đóng góp quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển của các khu công nghiệp trên toàn cầu.

Ngân hàng đã hỗ trợ tích cực cho các dự án khu công nghiệp (KCN) và khu chế xuất (KCX) tại nhiều nước đang phát triển, với điều kiện quản lý tư nhân Tuy nhiên, phần lớn KCN ở châu Á vẫn do nhà nước quản lý KCN đã phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu, đóng góp lớn vào sự phát triển công nghiệp, tăng trưởng GDP, xuất khẩu, thu nhập và việc làm, đồng thời tăng thu ngân sách Kinh nghiệm từ các KCN thành công cho thấy vị trí gần khu đô thị, nguồn nhân lực dồi dào, giao thông thuận lợi, cùng với hạ tầng điện, nước và dịch vụ chất lượng cao là rất quan trọng Bên cạnh đó, bộ máy hành chính phải gọn nhẹ và hiệu quả, cùng với cơ sở vật chất phù hợp với nhu cầu của nhà đầu tư và công nhân.

THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN FDI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI

MỤC TIÊU HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

NGOÀI Để thực hiện được các mục tiêu kinh tế - xã hội của

Tỉnh Đồng Nai đặt mục tiêu thu hút 2 tỷ USD vốn đầu tư trong giai đoạn 2001-2005 và 4-6 tỷ USD trong giai đoạn 2006-2010 Để đạt được mục tiêu này, tỉnh cần nỗ lực huy động nguồn vốn từ cả trong nước và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tỷ lệ tương đương.

Vì thế, mục tiêu huy động FDI là phải nhằm vào việc phục vụ các mục tiêu kinh tế - xã hội sau đây :

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cần đóng góp vào việc tạo nguồn thu ngoại tệ, tích lũy ngân sách tỉnh và phát triển hàng xuất khẩu mạnh mẽ trên thị trường khu vực và quốc tế Đồng thời, FDI cũng phải sản xuất hàng tư liệu thay thế nhập khẩu, hình thành môi trường đầu tư và kinh doanh năng động, hiệu quả, từ đó tạo ra nhiều việc làm cho người lao động trong tỉnh.

FDI cần đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại tỉnh, từ đó hình thành một cơ cấu công nghiệp và dịch vụ tiên tiến Đồng thời, FDI cũng góp phần đô thị hóa các vùng nông thôn và ngoại thành, xây dựng một hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại.

Biểu3.1 : Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai

Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội Tỉnh Đồng Nai đến 2010

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cần đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa khai thác nguồn lực, đặc biệt là nguồn nhân lực phong phú của Tỉnh Đồng Nai Điều này cũng liên quan đến xu hướng di chuyển lao động từ nông thôn ra thành phố và sự dịch chuyển lao động từ Đồng Nai sang các thành phố khác như Bình Dương, TP Hồ Chí Minh và Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- FDI phải góp phần tạo cho Tỉnh Đồng Nai cùng với

TP.HCM và Tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu trở thành một trung tâm đa chức năng của địa bàn kinh tế trọng điểm phía

Nam và tiến xa hơn, đóng một vai trò quan trọng của vùng Đông Nam Á.

Việc quy hoạch cần phải dựa vào những phương hướng nêu trên đây, như ý kiến của Chính phủ đã thông báo:

Để nâng cao sức cạnh tranh của tỉnh, cần có cái nhìn toàn cục về quan hệ kinh tế trong vùng và cả nước, đồng thời mở rộng tầm nhìn ra thế giới và các nước trong khu vực Việc xác định rõ các lĩnh vực trọng điểm, ngành nghề và sản phẩm mũi nhọn phù hợp với tiềm năng và lợi thế so sánh của tỉnh là rất quan trọng, đặc biệt là trong bối cảnh cạnh tranh với các sản phẩm từ các nước ASEAN.

Trong quá trình thu hút FDI theo các mục tiêu đó cần bảo đảm các yêu cầu sau đây:

Huy động FDI cân đối với nguồn vốn trong Tỉnh

Tính chất cân đối cần thể hiện trong cơ cấu quy mô

FDI và vốn đầu tư trong tỉnh qua các thời kỳ phản ánh rõ ràng trong cơ cấu các ngành kinh tế kỹ thuật và sự phát triển của từng doanh nghiệp, đóng vai trò như những tế bào của nền kinh tế Để đạt được sự phát triển bền vững, FDI và vốn đầu tư cần được tích hợp một cách đồng bộ trong cơ cấu kinh tế chung của vùng và của tỉnh.

FDI, dù lớn đến đâu, chỉ là một phần trong cấu trúc của nền kinh tế quốc dân Nó không thể tự mình hình thành nên một cơ cấu kinh tế hoàn chỉnh, mà chỉ đóng vai trò bổ sung, tương tác với các bộ phận và thành phần kinh tế khác trong tổng thể nền kinh tế.

Việc huy động FDI cần chuyển từ thế thụ động sang thế chủ động

Thay vì chờ đợi nhà đầu tư nước ngoài đến Tỉnh,

Tỉnh cần chủ động tìm kiếm các đối tác phù hợp với yêu cầu và mục tiêu của mình Cục Đầu Tư Thái Lan (BOI) đã nhấn mạnh một nguyên tắc quan trọng: "Chúng ta phải đến với khách hàng, không chỉ ngồi chờ đợi."

Huy động và sử dụng FDI cần tính đến cái giá phải trả

Mở cửa nền kinh tế và thu hút FDI cần đảm bảo độc lập chính trị, bảo vệ chủ quyền và lợi ích lâu dài của dân tộc Việc thu hút đầu tư nước ngoài không chỉ dựa vào lợi thế so sánh mà còn phải tận dụng thời cơ và tạo môi trường ổn định về chính trị và kinh tế Nguyên tắc hai bên cùng có lợi là điều kiện tiên quyết để xây dựng mối quan hệ đầu tư bền vững Khi mở cửa, chúng ta chấp nhận những thách thức từ ảnh hưởng bên ngoài, do đó cần có chiến lược lâu dài để hạn chế tác động tiêu cực và đảm bảo sự ổn định cho các nhà đầu tư quốc tế.

Thu hút FDI phải có chọn lọc những yếu tố mà Tỉnh đang thieáu

Kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhằm phát triển lực lượng sản xuất tại Tỉnh, nhưng không làm suy yếu các doanh nghiệp trong nước Để đạt được mục tiêu này, cần hoàn thiện cơ sở pháp lý, cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực quản lý nhà nước Đồng thời, cần xây dựng quy hoạch phát triển các ngành và địa bàn, xác định rõ các dự án cần kêu gọi FDI và những dự án do doanh nghiệp trong nước thực hiện.

Trong các đối tượng nước ngoài - gồm Chính Phủ, các

Doanh nghiệp nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ với công chúng và DN trong nước Để thu hút vốn FDI hiệu quả, cần nắm bắt rõ các động thái kinh doanh của các doanh nghiệp này.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG VIỆC THU HÚT NGUOÀN VOÁN FDI

NGUỒN VỐN FDI 3 2.1 Đa dạng hóa các nguồn vốn và phương thức huy động vốn FDI

Có 3 lý do để thực hiện giải pháp này :

Để giảm thiểu sự phụ thuộc kinh tế vào các thế lực tài chính, cần thiết phải có các biện pháp nhằm ngăn chặn áp lực từ những yêu sách không mong muốn.

Mỗi nguồn vốn và phương thức huy động FDI đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng Do đó, việc đa dạng hóa các phương thức huy động FDI là cần thiết để tận dụng những lợi thế và khắc phục những hạn chế của từng phương thức.

Để giảm thiểu rủi ro, các nhà tài trợ thường đa dạng hóa khoản đầu tư của mình, do đó, không thể kỳ vọng vào việc huy động một nguồn vốn lớn từ chỉ một vài đối tượng Việc huy động vốn cần phải hướng đến nhiều đối tượng tài trợ khác nhau, vì mỗi loại hình tài trợ đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng.

-Đa phương hóa các đối tác, các đối tượng nước ngoài đưa vốn vào Tỉnh

Hiện nay, tỉnh đang thu hút vốn đầu tư chủ yếu từ các nhà đầu tư người Hoa (Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Trung Quốc), nhưng cần mở rộng nguồn vốn từ nhiều quốc gia khác, đặc biệt là châu Âu, Bắc Mỹ, Úc và các nước Đông Nam Á, để cân bằng sức mạnh tài chính Tỉnh cũng nên chú trọng thu hút vốn từ các công ty đa quốc gia và các tập đoàn tài chính lớn, đồng thời khuyến khích sự hợp tác giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ với doanh nghiệp Việt Nam, nhằm tạo ra những đối trọng vững mạnh với các công ty lớn Kinh nghiệm từ nhiều nước cho thấy, doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ tạo ra nhiều việc làm hơn mà còn có sự cam kết cao hơn trong hoạt động kinh doanh.

Tỉnh cần chú trọng thu hút vốn từ kiều bào, cả trực tiếp lẫn gián tiếp, để phát triển kinh tế Hiện tại, việc vận động Việt kiều đầu tư trực tiếp tại tỉnh đã được thực hiện, tuy nhiên, cần mở rộng hỗ trợ họ sử dụng vốn kinh doanh ở nước ngoài như một cầu nối cho hàng Việt Nam thâm nhập vào thị trường quốc tế Đây là một phương thức hiệu quả để thu hút vốn gián tiếp, góp phần vào mục tiêu tăng trưởng của tỉnh.

Để nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư nước ngoài, cần hạn chế tối đa và tiến tới chấm dứt việc cấp phép cho các dự án không nằm trong danh mục đầu tư kêu gọi vốn.

Đầu tư vốn cho các dự án "chào hàng" nhằm thu hút đầu tư nước ngoài là rất quan trọng Điều này cần tuân thủ các quy hoạch ngành và lãnh thổ, giúp dẫn dắt các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện các mục tiêu mà tỉnh đã đề ra.

Chúng tôi sẽ tập trung vào một số lĩnh vực đầu tư cụ thể và chỉ cho phép thực hiện các dự án nằm trong danh mục kêu gọi đầu tư Nguyên tắc quan trọng là không cấp phép đầu tư cho các dự án không có trong danh mục này.

Cần chấm dứt tình trạng tự động coi các đơn vị sở hữu nhà đất là đối tác liên doanh với nước ngoài Việc xây dựng tiêu chuẩn đối tác rõ ràng và áp dụng một cách nghiêm ngặt là rất cần thiết để đảm bảo chất lượng và tính minh bạch trong các mối quan hệ hợp tác.

- Kiểm soát hoạt động đầu tư nước ngoài thông qua vai trò của những người đối tác

Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia cho thấy, bất kể quy mô của bộ máy quản lý Nhà nước, việc thiếu vai trò "giữ gôn" hiệu quả đối với lợi ích của tỉnh, đất nước và các đối tác FDI, đặc biệt là những người tham gia vào các liên doanh, sẽ dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng.

- thì cũng không thể kiểm soát được các hoạt động của các liên doanh, các lợi ích của đất nước nói chung.

Các “đối tác” được tuyển chọn phải là những người :

(1) biết đặt lợi ích đất nước lên trên hết;

(2) có tinh thần thượng tôn pháp luật và

(3) có đủ năng lực để thực hiện 2 tiêu chuẩn trên.

- Chính quyền địa phương phải là người có trách nhiệm quản lý nhà nước toàn diện về mọi hoạt động của các DN FDI trên địa bàn Tỉnh.

Hiện nay, quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang gặp khó khăn do sự phân chia thẩm quyền giữa Trung ương và địa phương, dẫn đến trách nhiệm không rõ ràng Hệ quả là gây phiền hà cho nhà đầu tư và không đảm bảo được kiểm soát hiệu quả.

Đề nghị với Trung ương là khi một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép, toàn bộ quyền quản lý cần chuyển giao cho chính quyền tỉnh Điều này bao gồm việc quản lý toàn bộ quá trình từ triển khai đầu tư đến hoạt động của doanh nghiệp Nguyên tắc “một cửa” chỉ nên áp dụng trong giai đoạn đầu, khi xem xét cấp giấy phép đầu tư.

Chính quyền Tỉnh sẽ thành lập một bộ phận chuyên trách trực thuộc UBND Tỉnh nhằm quản lý toàn diện các doanh nghiệp FDI hoạt động trong mọi lĩnh vực.

Tại các sở chuyên ngành, sẽ được thành lập một nhóm chuyên viên chuyên trách để quản lý các nhiệm vụ liên quan, dưới sự điều phối chung của bộ phận chuyên quản.

UBND Tỉnh có bộ phận chuyên quản có nhiệm vụ tiếp nhận và quản lý các dự án đầu tư sau khi cấp giấy phép Bộ phận này thực hiện chế độ một cửa để đảm bảo quản lý hiệu quả toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp FDI.

Ngày đăng: 27/08/2022, 16:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w