TS VÕ THỊ NGỌC LAN PGS TS NGUYỄN VĂN TUẤN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC GIÁO TRÌNH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ******************* TS VÕ THỊ[.]
CƠ SỞ CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC
KHÁI NIỆM
Thuật ngữ “khoa học” chưa có định nghĩa thống nhất và tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Dưới đây là một số khái niệm về khoa học được sắp xếp từ tổng quát đến cụ thể, nhằm giúp độc giả có cái nhìn rõ ràng và đầy đủ hơn về thuật ngữ này.
Khoa học là lĩnh vực nghiên cứu và hệ thống hóa tri thức khách quan về thực tiễn, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ý thức xã hội Nó cung cấp nền tảng cho việc hiểu biết thế giới thông qua các tri thức chuyên ngành, giúp mô tả, giải thích và dự đoán các hiện tượng dựa trên các quy luật đã được khám phá.
Khoa học là một hoạt động xã hội tập trung vào việc khám phá và phát hiện các quy luật, hiện tượng tự nhiên Qua quá trình này, khoa học không chỉ tìm ra nguyên lý mà còn phát triển các giải pháp nhằm tác động và thay đổi trạng thái của sự vật và hiện tượng xung quanh chúng ta.
Khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, giúp giải thích nguồn gốc các sự kiện và phát hiện mối liên hệ giữa các hiện tượng Nó cung cấp cho con người tri thức về quy luật khách quan của thế giới thực, từ đó áp dụng vào sản xuất và đời sống.
Khoa học là sự tổng hợp tri thức về tự nhiên và xã hội, được tích lũy qua lịch sử với mục tiêu xây dựng lý luận nhằm giải thích và dự đoán các hiện tượng Đồng thời, khoa học cũng thực hiện chức năng xã hội của mình bằng cách phục vụ cho các hoạt động thực tiễn.
Từ những định nghĩa trên có thể rút ra đƣợc những điểm cơ bản của khoa học là:
- Hệ thống tri thức tự nhiên, xã hội, tƣ duy, kỹ thuật và công nghệ;
- Giải thích và tiên đoán các hiện tƣợng, sự vật và sự kiện nhằm áp dụng vào hoạt động thực tiễn
Hệ thống các khoa học đƣợc chia thành nhóm khoa học tự nhiên, nhóm khoa học kỹ thuật và nhóm khoa học xã hội
Giáo dục được định nghĩa là hoạt động tác động đến con người thông qua hệ thống biện pháp nhằm truyền thụ tri thức, rèn luyện kỹ năng và bồi dưỡng đạo đức Mục tiêu của giáo dục là giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với yêu cầu xã hội, từ đó chuẩn bị cho cá nhân tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội.
Khoa học giáo dục là lĩnh vực thuộc khoa học xã hội, chuyên nghiên cứu bản chất và quy luật hình thành nhân cách con người Nó là một phần trong hệ thống các khoa học nghiên cứu về con người, bao gồm giáo dục học, tâm lý học sư phạm và lý luận dạy học.
1 Nguyễn Văn Lê (1997), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, tr 12
Khoa học giáo dục, theo GS TS Dương Thiệu Tống (2002), có mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực như Triết học, Xã hội học, Dân số học, Kinh tế học và Quản lý học Đặc điểm nổi bật của khoa học giáo dục là tính phức tạp và tính tương đối Tính phức tạp được thể hiện qua sự giao thoa với các khoa học khác, đòi hỏi sự phối hợp do bản chất con người vốn đã phức tạp Hơn nữa, các quy luật trong khoa học giáo dục mang tính chất số đông và tương đối, không chính xác như các môn khoa học tự nhiên như toán học hay hóa học.
Khoa học giáo dục nghiên cứu quy luật của quá trình giáo dục và tác động giữa người với người, thuộc lĩnh vực khoa học xã hội Các phương pháp nghiên cứu trong khoa học giáo dục bao gồm quan sát, điều tra, trắc nghiệm, phỏng vấn, tổng kết kinh nghiệm và thực nghiệm.
Khoa học giáo dục tập trung vào việc thiết kế mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức quá trình giáo dục để đạt được kết quả tối ưu trong các điều kiện xã hội cụ thể Đây được coi là một hệ thống khép kín và ổn định.
Giáo dục được xem như một hoạt động xã hội quan trọng, đóng vai trò trong việc đào tạo lực lượng lao động mới Khoa học giáo dục nghiên cứu mối quan hệ giữa sản xuất xã hội và nhu cầu giáo dục, đào tạo đội ngũ lao động, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và xã hội.
- Các yêu cầu của sản xuất xã hội đối với đội ngũ lao động về kiến thức, kỹ năng, phẩm chất;
- Quy hoạch phát triển giáo dục;
- Hệ thống giáo dục quốc dân;
- Lôgíc tác động qua lại giữa nền sản xuất và đào tạo
Khi nghiên cứu vấn đề khoa học giáo dục, cần xem xét trong nhiều mối quan hệ và tiếp cận một cách hệ thống.
Hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm nhiều bộ phận và hệ thống con, có sự tương tác chặt chẽ với các lĩnh vực khác như kinh tế, chính trị và văn hóa Sự liên kết này tạo nên một môi trường giáo dục toàn diện, phản ánh sự phát triển và biến đổi của xã hội.
- Hệ thống quá trình đào tạo (giáo viên, học sinh, tài liệu, trang thiết bị, lớp học và các tác động của môi trường học ở địa phương,…);
- Hệ thống chương trình các môn học;
- Hệ thống tác động sƣ phạm đến từng cá thể và đặc điểm nhân cách, tâm lý lứa tuổi,…
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Nghiên cứu là quá trình khám phá và phát triển tri thức, đóng góp quan trọng vào kho tàng tri thức của nhân loại Thế hệ sau tiếp nối những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học, làm phong phú thêm hiểu biết và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực.
Nghiên cứu là một từ Hán Việt
Nhƣ vậy, nghiên cứu là lấy đá nghiền, lấy cối đâm, để biết tính chất thuộc tính bên trong của sự vật hiện tƣợng
Nghiên cứu lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam vào năm 1925 thông qua lời tựa của quyển “Cổ học tinh hoa”, cho thấy từ "nghiên cứu" đã được sử dụng tại nước ta từ những năm 20 của thế kỷ XX.
Năm 1932: trong giản yếu Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh giải thích: Nghiên cứu là tìm tòi nguyên lý cho tới cùng 3
Ngày nay nghiên cứu đƣợc hiểu là:
Để tìm kiếm thông tin đặc biệt cho một chủ đề cụ thể một cách khoa học và có hệ thống, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu hiệu quả Mục tiêu là phát hiện những sự thật bị ẩn giấu và chưa được khám phá, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về vấn đề đang được nghiên cứu.
- Vận dụng trí tuệ để tìm cách giải quyết, để phát minh ra tri thức mới
Tìm hiểu và nghiên cứu sâu rộng về một vấn đề hoặc lĩnh vực khoa học không chỉ giúp nâng cao kiến thức mà còn mở ra cơ hội phát minh ra những điều mới mẻ Qua việc so sánh và thực nghiệm, chúng ta có thể phát hiện ra những thông tin giá trị, từ đó cải thiện khả năng hiểu biết và đóng góp cho sự phát triển của khoa học.
Nghiên cứu là quá trình tìm tòi và phân tích sâu sắc một vấn đề nhằm nâng cao hiểu biết hoặc giải thích cho người khác Ví dụ, nghiên cứu có thể bao gồm việc giải quyết một bài toán, phân tích một câu nói để hiểu rõ hơn, hoặc xem xét bảng giờ tàu để lựa chọn chuyến đi phù hợp.
Nghiên cứu có hai dấu hiệu:
- Con người làm việc (tìm kiếm) tự lực (cá nhân hoặc nhóm);
- Tìm ra cái mới cho chủ thể, cho mọi người
3 Châu Kim Lang (2002), Phương pháp nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Sư phạm
Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh, tr 3
Nghiên cứu khoa học được định nghĩa là hoạt động tìm hiểu, phân tích một vấn đề khoa học một cách có hệ thống Khi con người tiếp cận và khám phá các vấn đề qua phương pháp khoa học, đó cũng được coi là nghiên cứu khoa học.
Khái niệm về nghiên cứu khoa học đƣợc nhìn nhận theo nhiều quan điểm thuộc các phạm vi khác nhau nhƣ sau:
Nghiên cứu khoa học là hoạt động xã hội nhằm khám phá những điều chưa được biết đến trong khoa học, phát hiện bản chất của sự vật, và nâng cao nhận thức về thế giới Đồng thời, nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc sáng tạo các phương pháp và công cụ kỹ thuật mới để cải tạo và cải tiến thế giới xung quanh chúng ta.
Nghiên cứu khoa học, theo TS Dương Thiệu Tống, là hoạt động tìm hiểu có hệ thống nhằm đạt được sự hiểu biết được kiểm chứng Đây là một nỗ lực có chủ đích và tổ chức, tập trung vào việc thu thập, phân tích và đánh giá thông tin Đồng quan điểm, Vũ Cao Đàm cho rằng nghiên cứu khoa học nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới.
- Khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật và hiện tƣợng;
- Phát hiện quy luật vận động của sự vật và hiện tƣợng;
- Vận dụng quy luật để sáng tạo giải pháp tác động lên sự vật hiện tƣợng
Nghiên cứu khoa học là quá trình khám phá và phát hiện tri thức mới về tự nhiên, xã hội và con người, nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức Quá trình này không chỉ tìm ra cái mới mà còn giải quyết mâu thuẫn nhận thức, đồng thời tạo ra các giải pháp có giá trị thực tiễn để tác động và biến đổi sự vật theo mục đích sử dụng.
Nghiên cứu khoa học là quá trình áp dụng các phương pháp khoa học và tư duy để khám phá hiện tượng, phát hiện quy luật, từ đó nâng cao hiểu biết và giải quyết các nhiệm vụ lý luận cũng như thực tiễn Qua đó, nghiên cứu khoa học không chỉ mang lại kiến thức mới mà còn đóng góp vào việc đưa ra các đề xuất dựa trên kết quả nghiên cứu.
Vũ Cao Đàm (2007) trong cuốn "Phương pháp luận nghiên cứu khoa học" đã trình bày rằng nghiên cứu khoa học là quá trình áp dụng các ý tưởng, nguyên lý và phương pháp khoa học để khám phá kiến thức mới, phục vụ cho việc mô tả, giải thích và dự báo các hiện tượng trong thế giới khách quan.
Nghiên cứu khoa học là quá trình áp dụng ý tưởng và nguyên lý khoa học, kết hợp với các phương pháp tư duy, nhằm khám phá và phát hiện các khái niệm, hiện tượng mới Mục tiêu của nghiên cứu là phát hiện quy luật tự nhiên và xã hội, từ đó giải quyết các mâu thuẫn trong nhận thức và thực tiễn Qua đó, nghiên cứu khoa học góp phần sáng tạo các giải pháp, tác động tích cực đến sự vật và hiện tượng, cải thiện chất lượng cuộc sống và hiệu quả lao động sản xuất.
2.2 Các đặc trƣng của nghiên cứu khoa học
Một đề tài nghiên cứu khoa học nói chung phải bao gồm các đặc trƣng sau:
Nghiên cứu khoa học là quá trình tìm tòi và khám phá thế giới nhằm phát hiện những quy luật và tri thức mới Hoạt động này không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thế giới xung quanh mà còn ứng dụng những hiểu biết đó để cải tạo và phát triển xã hội Tính hướng mục đích trong nghiên cứu khoa học thể hiện rõ ràng qua việc khám phá và vận dụng tri thức vào thực tiễn.
Nghiên cứu khoa học là quá trình khám phá những điều chưa được biết đến, nhằm hướng tới việc phát hiện và sáng tạo mới Tính mới mẻ là yếu tố cốt lõi trong lao động khoa học, vì nó không cho phép sự lặp lại của những phát hiện hay sáng tạo trước đó Do đó, tính mới mẻ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tiến bộ và đổi mới trong nghiên cứu.
Tính tin cậy của một nghiên cứu được xác định bởi khả năng kiểm chứng của kết quả, với các kết quả tương tự được lặp lại trong nhiều lần nghiên cứu dưới cùng điều kiện Để chứng minh độ tin cậy, người nghiên cứu cần trình bày rõ ràng các điều kiện, yếu tố và phương tiện thực hiện Ngoài ra, tính tin cậy cũng phụ thuộc vào tài liệu tham khảo, do đó, việc lựa chọn tài liệu, tác giả và nhà xuất bản phải được thực hiện một cách cẩn trọng.
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghiên cứu khoa học giáo dục là hoạt động nghiên cứu đặc thù trong lĩnh vực giáo dục, mang tính hệ thống và xuất phát từ những khó khăn trong giáo dục hoặc nhu cầu nhận thức về hoạt động giáo dục Mục tiêu của nghiên cứu này là hiểu sâu sắc cấu trúc, cơ chế và biện chứng của sự phát triển trong hệ thống giáo dục, đồng thời khám phá những khái niệm và quy luật mới trong thực tiễn giáo dục mà trước đây chưa được biết đến.
Sản phẩm của nghiên cứu khoa học giáo dục bao gồm những hiểu biết mới về hoạt động giáo dục, như nguyên tắc, phương pháp dạy học và lý thuyết mới, cùng với những dự báo có căn cứ Đây không chỉ là tập hợp thông tin có sẵn, mà là kết quả của hoạt động sáng tạo trong việc phát triển tri thức, kinh nghiệm và phương pháp mới trong giáo dục.
Ngoài những đặc trưng của nghiên cứu khoa học nói chung, nghiên cứu khoa học giáo dục còn có đặc trưng cụ thể 9 là:
Thu thập, tích lũy sự kiện mới, vì sự kiện khoa học là nền tảng để xây dựng lý thuyết trong bất kỳ khoa học nào
Để giải quyết một vấn đề cụ thể trong thực tiễn giáo dục, cần phân tích mối quan hệ giữa các biến số và hiểu rõ nguyên nhân cũng như hệ quả của chúng Việc này giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình học tập và giảng dạy, từ đó đưa ra giải pháp hiệu quả nhằm cải thiện chất lượng giáo dục.
Xây dựng lý thuyết chính xác hoặc phát hiện quy luật là quá trình bắt đầu từ nghiên cứu trên mẫu dữ liệu, sau đó khái quát hóa các quy luật từ những phát hiện đó.
Để tiến hành nghiên cứu hiệu quả, cần nắm vững các thông tin hiện có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Điều này bao gồm việc hiểu rõ hệ thống các khái niệm sẽ được sử dụng và áp dụng một phương pháp luận chính xác.
Trần Thúc Trình (1994) trong tác phẩm "Giáo dục, khoa học giáo dục và nghiên cứu khoa học giáo dục" đã trình bày những khái niệm cơ bản về giáo dục và vai trò của khoa học giáo dục Bài giảng này, được biên soạn cho nghiên cứu sinh các lớp sau đại học, cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục tại TP Hồ Chí Minh.
Người nghiên cứu cần quan sát và mô tả chính xác các sự kiện, đồng thời tạo ra các dụng cụ để thu thập và đo đạc số liệu Việc phân tích và xử lý số liệu cũng là một phần quan trọng trong quá trình nghiên cứu.
Là một quá trình có hệ thống, lôgíc và có mục đích
3.3 Các lĩnh vực nghiên cứu khoa học giáo dục
Khoa học giáo dục Việt Nam vẫn là một lĩnh vực chưa được khai thác đầy đủ, theo nhận định của nhiều học giả, trong đó có GS Dương Thiệu Tống Các lĩnh vực trong khoa học giáo dục rất đa dạng, và PGS Lê Phước Lộc đã chỉ ra bốn lĩnh vực thiết yếu cần được nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục.
Tìm hiểu về hệ thống vĩ mô của giáo dục
Hệ thống giáo dục quốc dân;
Quản lý giáo dục: phân cấp, tài chính;
Những chính sách, kế hoạch phát triển giáo dục;
Ngành nghề đào tạo, hướng nghiệp,
Hệ thống giáo dục quốc dân là mạng lưới trường học của một quốc gia, được tổ chức theo cấp và ngành học, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Việc xây dựng và phát triển hệ thống giáo dục quốc dân là nhiệm vụ chiến lược quan trọng của quốc gia Các nguyên tắc xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân cần được xác định rõ ràng để đảm bảo chất lượng và hiệu quả trong giáo dục và đào tạo.
Trường học là nơi dành cho tất cả mọi người, đảm bảo giáo dục bình đẳng cho mọi công dân Mục tiêu chính của trường học là phổ cập giáo dục cho toàn dân, đặc biệt là giáo dục tiểu học Đồng thời, giáo dục đại học cũng hướng tới việc đại chúng hóa, nhằm nâng cao cả số lượng và chất lượng giáo dục.
Đa dạng hóa các hình thức đào tạo là cần thiết để mọi người có thể lựa chọn phương pháp học phù hợp với điều kiện cá nhân Điều này không chỉ giúp họ học thường xuyên mà còn khuyến khích việc học tập suốt đời.
- Mở rộng các thành phần kinh tế trong việc tổ chức các trường học: có trường công lập, trường dân lập, trường tư thục,…
Nền giáo dục quốc dân cần phải tương thích với trình độ kinh tế xã hội và nhu cầu nhân lực của đất nước, đồng thời phải phục vụ cho chiến lược phát triển xã hội – kinh tế của quốc gia.
Giáo dục quốc gia cần phải theo kịp với giáo dục quốc tế, đặc biệt là các nước trong khu vực, nhằm đảm bảo nội dung giáo dục phản ánh những thành tựu khoa học hiện đại Hệ thống giáo dục quốc gia phải được xây dựng theo hướng tiên tiến, liên tục và đồng bộ để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.
Hệ thống giáo dục quốc dân ngày càng phát triển với quy mô lớn và tổ chức phức tạp, đòi hỏi sự quản lý hiệu quả và đội ngũ quản lý có trình độ cao Do đó, việc nghiên cứu hệ thống quản lý giáo dục là cần thiết, đặc biệt ở một số khía cạnh quan trọng.
Nghiên cứu cơ cấu tổ chức và chức năng của cơ quan quản lý giáo dục là cần thiết, từ cấp cơ sở đến cấp trung ương, với trọng tâm là cấp trường học và cấp huyện Việc phân tích này giúp hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động và quản lý giáo dục, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục tại các địa phương.
- Nghiên cứu phương pháp tổ chức quản lý và điều hành giáo dục nhƣ là một khoa học
Hệ thống ngành nghề đào tạo của quốc gia là một công cụ quản lý
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CƠ SỞ CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Phương pháp được hiểu là cách thức đạt được mục tiêu và giải quyết công việc cụ thể Trong nghiên cứu khoa học, có một hệ thống phương pháp riêng biệt mà nhà khoa học cần nắm vững Việc hiểu rõ bản chất và cách sử dụng các phương pháp này là điều cần thiết để đảm bảo hoạt động nghiên cứu đạt hiệu quả cao.
1.1.2 Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học dựa trên các định đề bản thể luận về đặc trưng của hoạt động xã hội, dẫn đến sự đa dạng trong các phương pháp nghiên cứu Mỗi đề tài nghiên cứu cần tuân thủ các quan điểm để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả.
10 Phạm Viết Vƣợng (1996), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, Hà Nội, tr 28 – 34 và PGS Lê Phước Lộc, Nghiên cứu khoa học, tr 10 (10.2009)
- Quan điểm hệ thống - cấu trúc
Mọi vấn đề trong bất kỳ lĩnh vực nào đều bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh và các yếu tố xung quanh Bản chất của sự vật không tồn tại độc lập mà là một phần của tổng thể, tạo thành một chỉnh thể chứa đựng vấn đề Do đó, việc nghiên cứu một sự việc hay vấn đề cần được thực hiện trong một mạng lưới các mối liên hệ chặt chẽ, mà chúng ta gọi là hệ thống của vấn đề nghiên cứu.
Khi phân tích kỹ lưỡng các mối liên hệ và sự phụ thuộc giữa các yếu tố, chúng ta có thể nhận diện rõ ràng cấu trúc của mạng lưới Các mối quan hệ này bao gồm sự phân loại, phân hạng, cũng như sự phụ thuộc bản chất và không bản chất, tạo nên một hệ thống liên kết chặt chẽ.
Hệ thống các vấn đề liên quan có tính cấu trúc và ngược lại, với mục đích thống nhất các sự vật trong một hệ thống khách quan Quan điểm này hướng dẫn người nghiên cứu duy trì sự nhất quán trong tư duy và tôn trọng sự tồn tại khách quan của vấn đề nghiên cứu.
Mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa hệ thống và cấu trúc còn cần đƣợc thể hiện ở cách trình bày vấn đề sau khi đã đƣợc giải quyết
Quan điểm lịch sử - lôgíc nhấn mạnh sự tồn tại tất yếu của mọi sự vật, sự việc trong diễn biến thời gian, phản ánh lịch sử hình thành và phát triển của vấn đề Những biểu hiện hiện tại đều mang dấu ấn của thời gian và môi trường xã hội, tự nhiên Lịch sử là phức tạp, đa dạng và đầy ngẫu nhiên, nhưng vẫn bị chi phối bởi cái tất nhiên, tức là lôgíc khách quan của sự vật Việc không chú ý đến tính lịch sử đồng nghĩa với việc không tôn trọng sự hình thành và phát triển tất yếu của sự việc, từ đó không tôn trọng quy luật khách quan của tự nhiên và xã hội.
Lịch sử chính là lôgíc, như Ănghen đã chỉ ra rằng phương pháp lôgíc thực chất là phương pháp lịch sử, chỉ khác ở chỗ đã tách rời khỏi các hình thức và yếu tố ngẫu nhiên Quá trình tư duy khởi đầu từ những điểm xuất phát của lịch sử.
Nguyên lý giáo dục cơ bản của Đảng ta nhấn mạnh mối liên hệ chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn Mọi nghiên cứu cần bắt nguồn từ thực tiễn và phục vụ cho nó Giá trị của một công trình nghiên cứu khoa học được thể hiện qua sự kết hợp hài hòa giữa lý luận chung, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại địa phương, vùng miền.
Cấu trúc của phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Trong nghiên cứu khoa học, việc chứng minh luận điểm khoa học (giả thuyết nghiên cứu) là rất quan trọng Người nghiên cứu cần có đầy đủ luận cứ khoa học để hỗ trợ cho luận điểm của mình Để tìm ra và củng cố luận cứ, người nghiên cứu phải áp dụng các luận chứng (phương pháp) nhất định Quy trình này thể hiện cấu trúc của phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học.
Luận điểm 11 (luận đề) là yếu tố quan trọng cần chứng minh trong nghiên cứu khoa học, trả lời câu hỏi "Cần chứng minh điều gì?" Đây là một phán đoán hoặc giả thuyết cần được xác thực Chẳng hạn, trong đề tài "Khảo sát thực trạng và đề xuất phương pháp tự học ở Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP HCM", luận điểm được đưa ra là nếu sinh viên áp dụng các phương pháp tự học như quản lý thời gian và lập kế hoạch chi tiết cho tuần hoặc học kỳ, thì kết quả học tập sẽ được cải thiện.
Luận cứ là bằng chứng xác thực nhằm chứng minh một luận điểm, bao gồm việc thu thập thông tin, tài liệu tham khảo, cũng như quan sát và thực nghiệm khoa học Nó trả lời câu hỏi “Chứng minh bằng cái gì?” và được chia thành hai loại.
Luận cứ lý thuyết bao gồm các lý thuyết, luận điểm, tiên đề, định lý, định luật và quy luật đã được khoa học chứng minh và xác nhận là đúng Đây được xem là cơ sở lý luận vững chắc cho việc phát triển kiến thức và nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học khác nhau.
- Luận cứ thực tiễn : dựa trên cơ sở số liệu thu thập, quan sát và làm thực nghiệm hay thí nghiệm
Luận chứng là phương pháp tìm kiếm và tổ chức luận cứ nhằm chứng minh luận điểm, trả lời câu hỏi "Chứng minh bằng cách nào?" Trong nghiên cứu khoa học, để xác minh một luận điểm, giả thuyết hay phán đoán, nhà nghiên cứu áp dụng luận chứng thông qua các phép suy luận, bao gồm suy luận quy nạp, suy luận suy diễn và loại suy Ngoài ra, luận chứng còn được sử dụng như một phương pháp tiếp cận để thu thập thông tin và số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học, bao gồm cả thực nghiệm và điều tra.
1.1.3 Phương pháp nghiên cứu khoa học
Phương pháp nghiên cứu khoa học được nhiều tác giả đưa ra định nghĩa khác nhau, nhƣng không mâu thuẫn Chẳng hạn, Hà Thế Ngữ phát
Phương pháp nghiên cứu khoa học là tập hợp các phương pháp thu thập thông tin khoa học, nhằm thiết lập các mối quan hệ và quy luật phụ thuộc, từ đó xây dựng lý thuyết khoa học.
Phương pháp nghiên cứu khoa học bao gồm các thao tác và biện pháp thực tiễn hoặc lý thuyết mà các nhà khoa học áp dụng để nhận thức và khám phá đối tượng nghiên cứu Qua đó, họ tạo ra hệ thống kiến thức phong phú về đối tượng đó.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC
Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục là cách thức mà các nhà nghiên cứu thu thập và xử lý dữ liệu trong lĩnh vực giáo dục Mục tiêu của phương pháp này là thiết lập các mối quan hệ quy luật và xây dựng lý luận khoa học, từ đó đạt được những mục tiêu nghiên cứu cụ thể.
2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn (hiện trường)
2.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm
* Thế nào là phương pháp quan sát sư phạm?
Quan sát khoa học là phương pháp thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu thông qua việc cảm nhận trực tiếp đối tượng và các yếu tố liên quan trong lĩnh vực khoa học giáo dục.
Quan sát khoa học là một phương pháp nghiên cứu có mục đích và kế hoạch, được thực hiện một cách hệ thống Đây là hình thức nhận thức kinh nghiệm quan trọng, giúp tạo ra thông tin ban đầu cho việc xây dựng và kiểm tra lý thuyết bằng thực nghiệm Nhờ đó, quan sát khoa học kết nối nghiên cứu lý thuyết với hoạt động thực tiễn.
Quan sát sư phạm là phương pháp hiệu quả để thu thập thông tin về quá trình giáo dục và dạy học thông qua việc tri giác trực tiếp và ghi chép các hoạt động sư phạm Phương pháp này cung cấp tài liệu thực tiễn quý giá, giúp rút ra những quy luật cần thiết nhằm nâng cao chất lượng tổ chức giáo dục cho thế hệ trẻ.
Khi quan sát, cần thỏa mãn ba đòi hỏi sau:
Nhận thức các đặc điểm, các mối liên hệ hiện có của đối tƣợng nghiên cứu
- Chức năng thu thập thông tin thực tiễn Đây là chức năng quan trọng nhất
- Chức năng kiểm chứng các lý thuyết, các giả thuyết đã có
- Chức năng so sánh đối chiếu các kết quả trong nghiên cứu lý thuyết với thực tiễn (Đối chiếu lý thuyết với thực tế)
Quan sát là quá trình mà một chủ thể sử dụng để nhận thức một đối tượng cụ thể trong một khoảng thời gian và không gian nhất định, với mục đích rõ ràng và thông qua một phương tiện nhất định Do đó, quan sát có những đặc điểm đặc trưng riêng.
Nhà khoa học hay cộng tác viên, dù là ai, cũng đều mang tính chủ quan trong quá trình quan sát Tính chủ quan này xuất phát từ trình độ, kinh nghiệm, thế giới quan và cảm xúc tâm lý của mỗi người Dù sử dụng kỹ thuật hiện đại, sự quan sát vẫn luôn bị ảnh hưởng bởi lăng kính chủ quan của "cái tôi" Hơn nữa, quy luật ảo giác của cảm giác và tri giác cũng chi phối hoạt động nhận thức, làm cho việc quan sát trở nên phức tạp hơn.
Kết quả quan sát, dù khách quan, vẫn chịu ảnh hưởng từ cách xử lý thông tin của người nghiên cứu Vì vậy, việc lựa chọn thông tin cần tuân theo các tiêu chuẩn nhất định và được xử lý bằng phương pháp toán học hoặc dựa trên một lý thuyết cụ thể.
Quy trình tiến hành cuộc quan sát sư phạm bao gồm sáu bước cần thiết để đảm bảo thu thập thông tin đầy đủ và chính xác.
Bước 1: Xác định mục đích, khách thể và đối tượng quan sát
Xác định mục đích rõ ràng trong quá trình quan sát giúp người lập phiếu và người thực hiện quan sát tập trung hơn vào nội dung cần thiết Để làm điều này, cần phải trả lời câu hỏi: Quan sát với mục đích gì?
Khi quan sát một lớp học, mục đích quan sát sẽ xác định trọng tâm của người quan sát Nếu mục tiêu là đánh giá việc sử dụng phương tiện giảng dạy của giáo viên và học sinh, người quan sát sẽ chú ý đến cách thức và hiệu quả sử dụng các công cụ học tập Ngược lại, nếu mục đích là xem xét sự tuân thủ nội quy của học sinh trong giờ học, thì người quan sát sẽ tập trung vào hành vi của học sinh, như việc nói chuyện riêng hay thời gian đến lớp của họ.
Trên cơ sở của mục đích quan sát, người ta xác định chính xác khách thể và đối tƣợng quan sát
Bước 2: Xác thời gian, liên hệ và xin phép cơ sở đào tạo sẽ thực hiện quan sát
Khi tiến hành quan sát, người nghiên cứu thường ở thế bị động, vì vậy cần lập kế hoạch cụ thể và chính xác về địa điểm, thời gian và thực hiện các thủ tục cần thiết trước khi bắt đầu quan sát để đảm bảo thu thập dữ liệu hiệu quả.
Bước 3: Xác định nội dung quan sát và phương pháp quan sát
Sau khi xác định mục đích và đối tượng nghiên cứu, cần trả lời các câu hỏi về nội dung quan sát, bao gồm việc quan sát cái gì, cách thức quan sát và công cụ sử dụng Nếu mục đích quan sát rõ ràng, nội dung sẽ được định hình dễ dàng thông qua việc lựa chọn đối tượng, số lượng mẫu, thời điểm và thời gian quan sát Nội dung này có thể được trình bày dưới dạng dấu hiệu quan sát hoặc câu hỏi Phương pháp và công cụ quan sát sẽ được quyết định dựa trên quy mô và độ phức tạp của đề tài.
Bước 4 trong quy trình nghiên cứu là lập phiếu quan sát và kế hoạch quan sát Để đảm bảo việc quan sát diễn ra một cách chủ động và nhất quán giữa các lần quan sát cũng như giữa các cộng tác viên, người nghiên cứu cần thiết kế phiếu quan sát với ba phần rõ ràng.
- Phần thủ tục: đối tượng, địa chỉ, ngày giờ quan sát, người quan sát
Phần nội dung là yếu tố quyết định sự thành công của đề tài nghiên cứu, nơi ghi chép quan trọng trong quá trình quan sát Nội dung cần được trình bày cụ thể và chi tiết về các dấu hiệu quan sát cũng như các câu hỏi liên quan, giúp người quan sát thuận tiện hơn trong việc ghi chép và đo lường.
+ Có bao nhiêu học sinh đến lớp trễ sau 5 phút? , hay + Số học sinh đến lớp trễ sau 5 phút
Tránh những câu hỏi không đếm được , ví dụ:
+ Học sinh có tích cực xây dựng bài không?
Phần bổ sung bằng câu hỏi phỏng vấn là một công cụ quan trọng để xác minh và làm rõ thông tin chưa rõ ràng trong quá trình quan sát Chẳng hạn, khi viết phiếu quan sát về việc sử dụng phương tiện dạy học của giáo viên, chúng ta có thể đặt câu hỏi phỏng vấn như: "Xin Thầy/Cô vui lòng cho biết việc sử dụng các phương tiện trong tiết giảng này có đạt kết quả như đã dự kiến hay không? Xin vui lòng cho biết lý do." Việc này giúp thu thập ý kiến phản hồi và cải thiện chất lượng giảng dạy.
Bước 5: Tiến hành quan sát