1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BUỔI THẢO LUẬN THỨ năm môn NHỮNG vấn đề CHUNG về LUẬT dân sự

35 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Vấn Đề Chung Về Luật Dân Sự
Tác giả Nguyễn Đỗ Tâm An, Nguyễn Huỳnh Tường An, Nguyễn Thị Bảo An, Võ Trần Hoài An, Dương Thị Huế Anh, Nguyễn Bùi Vân Anh, Nguyễn Ngọc Tú Anh, Nguyễn Huỳnh Tuyết Nhi
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Tấn Hoàng Hải
Trường học Khoa Luật Hình sự
Chuyên ngành Luật dân sự
Thể loại buổi thảo luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 106,71 KB

Cấu trúc

  • 1.1. Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời (8)
  • 1.2. Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao? (9)
  • 1.3. Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời (11)
  • 1.4. Trong Bản án số 08, Toà án có coi diện tích đất tăng 85,5m 2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bán án có câu trả lời? (12)
  • 1.5. Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Toà án trong Bản án số 08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (12)
  • 1.6. Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m 2 đất, phần di sản của Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao? (12)
  • 1.7. Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K có được coi là di sản để chia không? Vì sao? (13)
  • 1.8. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K (14)
  • 1.9. Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà dùng cho tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di sản để chia không? Vì sao? (14)
  • 1.10. Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là bao nhiêu? Vì sao? (15)
  • 1.11. Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m2 có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao? (15)
  • 1.12. Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43,5m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao? (15)
  • 2.2. Trong Bản án số 11, ông Thiện trước khi đi chấp hành án có là người quản lý (18)
  • 2.3. Trong Bản án số 11, việc Tòa án giao cho anh Hiếu (Tiến H) quyền quản lý (19)
  • 2.4. Khi người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền tôn đạo, tu sửa lại di sản như trong Bản án số 11 không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời (20)
  • 2.5. Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền giao lại cho người khác quản lý di sản (như trong Bản án số 11 là ông Thiện giao lại cho con trai) không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời (20)
  • 2.6. Trong Quyết định số 147, Tòa án xác định người quản lý không có quyền tự thỏa thuận mở lối đi cho người khác qua di sản có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời (21)
  • 3.1. Cho biết các loại thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế ở Việt Nam (22)
  • 3.2. Pháp luật nước ngoài có áp đặt thời hiệu đối với yêu cầu chia di sản không? 13 (23)
  • 3.3 Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T là năm nào? Đoạn nào của Quyết định tạo lập thành Án lệ số 26/2018/AL cho câu trả lời? (23)
  • 3.4. Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao?.14 3.5. Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T với thời điểm bắt đầu từ thời điểm Pháp lệnh thừa kế năm 1990 được công bố có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao?14 (23)
  • 3.6 Suy nghĩ của anh/chị về Án lệ số 26/2018/AL nêu trên (24)

Nội dung

Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

sở pháp lý khi trả lời.

Căn cứ vào Điều 612, BLDS năm 2015 về Di sản thì:

“Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.

Việc xác định di sản có nhiều cách hiểu khác nhau:

Quan điểm cho rằng di sản bao gồm tài sản và nghĩa vụ tài sản của người chết, như nợ và thuế, là cần thiết để đảm bảo công bằng xã hội và quyền lợi của chủ nợ Tuy nhiên, quan điểm này chỉ hợp lý khi tài sản và nợ của người chết không tách biệt với tài sản và nợ của gia đình Điều này dẫn đến việc người thừa kế phải gánh chịu cả tài sản lẫn nợ của người đã khuất, bất kể tài sản có đủ để thanh toán hay không Tuy nhiên, quan điểm này không phù hợp với việc xây dựng nhà nước pháp quyền, nơi mỗi cá nhân phải chịu trách nhiệm với hành vi của mình, và có thể được xem như là sự bảo vệ cho chế độ phong kiến với khái niệm "nợ truyền đời".

Quan điểm thứ hai về di sản thừa kế cho rằng di sản bao gồm tài sản và nghĩa vụ tài sản của người đã khuất, với người thừa kế chỉ phải thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản mà họ nhận Quan điểm này được coi là tiến bộ hơn so với quan điểm trước, khi xóa bỏ di sản phong kiến “Nợ truyền đời truyền kiếp”, nhưng vẫn xác định rằng di sản cũng bao gồm các nghĩa vụ tài sản Tuy nhiên, quan điểm này không được nhiều nhà khoa học pháp lý ủng hộ, vì di sản thường được hiểu là tài sản mà người sống thừa hưởng từ người chết, và hiếm ai muốn thừa hưởng nghĩa vụ hay công việc của người khác, ngay cả khi đó là người thân.

Quan điểm thứ ba về di sản cho rằng di sản bao gồm tài sản của người chết mà không bao gồm nghĩa vụ tài sản Quan điểm này được nhiều nhà khoa học đồng thuận và được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 tại Điều 612, nêu rõ rằng di sản bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của họ trong tài sản chung với người khác Theo các Điều 659 đến 662 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trước khi chia di sản, những người thừa kế phải thanh toán các nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại Việc thực hiện nghĩa vụ này không phải với tư cách là chủ thể của nghĩa vụ, mà là thực hiện các nghĩa vụ của người chết bằng chính tài sản của họ.

Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao?

Trong quá trình tồn tại, di sản có thể được thay thế bởi tài sản khác, như trong Quyết định số 88/2009/DS-GĐT ngày 27-2-2009 của Tòa án nhân dân tối cao, khi phần di sản do ông Phẳng để lại bị giải tỏa để làm đường và được bồi thường bằng đất nông nghiệp chưa chuyển đổi mục đích sử dụng Tương tự, trong Quyết định số 636/2011/DS-GĐT ngày 22-8-2011, diện tích 2.334m² đất vườn thổ cư tại ấp 5 có nguồn gốc từ cha mẹ cũng được đề cập.

Giáo trình "Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế" của Nguyễn Xuân Quang, xuất bản bởi Nxb Hồng Đức năm 2018, cung cấp cái nhìn sâu sắc về các khía cạnh pháp lý liên quan đến tài sản và quyền sở hữu Trong Chương IV, từ trang 414 đến 415, tác giả phân tích các quy định pháp luật hiện hành, giúp người đọc hiểu rõ hơn về quyền thừa kế và cách thức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân Để tải tài liệu, vui lòng liên hệ qua email: skknchat@gmail.com.

Vào năm 1995, sau khi cụ Phận qua đời, diện tích đất mà vợ chồng cụ Phận và cụ Kiờu sử dụng đã bị Nhà nước thu hồi Gia đình được đền bù bằng 300m² đất thổ cư hoán đổi và 183.06m² đất thổ cư hỗ trợ Tương tự như vụ việc trước đó, di sản này đã được thay thế bởi một di sản khác.

Di sản bị thay thế không còn thuộc về những người thừa kế, đặt ra câu hỏi về việc tài sản thay thế có được coi là di sản hay không Trong Quyết định số 88/2009/DS-GĐT, Tòa án chưa đưa ra hướng xử lý rõ ràng do đương sự không yêu cầu nữa Tuy nhiên, Quyết định số 636/2011/DS-GĐT đã xác định rõ rằng diện tích đất tranh chấp do Nhà nước bồi thường là tài sản của cụ Phận và cụ Kiêu, và phần đất thổ cư hoán đổi cũng được coi là di sản thừa kế Đối với đất hỗ trợ, nếu được cấp cho người có đất bị thu hồi, thì cũng cần xác định là di sản thừa kế Một quyết định năm 2013 đã nhấn mạnh rằng tiền đền bù và đất tái định cư cũng phải được coi là di sản khi đất đã quy hoạch và đền bù.

Tài sản thay thế di sản thực chất là "di sản thừa kế", mặc dù chưa được quy định rõ ràng trong văn bản pháp luật Hướng giải quyết này rất thuyết phục và thường được áp dụng khi di sản được thay thế bằng tiền, chẳng hạn như tiền đền bù hay tiền bảo hiểm Khi di sản bị bán, Tòa án nhân dân tối cao cũng công nhận rằng tiền từ việc bán là di sản Nếu Tòa án đã giao di sản cho một người không được hưởng, người sở hữu tài sản phải thanh toán giá trị tài sản, và giá trị này sẽ được chia như tài sản thừa kế Tương tự, trong trường hợp Tòa án quyết định bán đấu giá di sản và di sản đã được bán hợp pháp, hoặc khi di sản được chuyển nhượng cho người khác nhưng sau đó quyết định giao di sản bị hủy, thì di sản sẽ được chuyển thành tiền và người nhận tiền phải chia cho những người thừa kế đã nhận.

Khi một tài sản do người quá cố để lại bị thay thế bởi một tài sản mới tại thời điểm mở thừa kế, tài sản mới đó sẽ không được coi là di sản.

Tại thời điểm mở thừa kế, tài sản của người quá cố trở thành di sản Nếu tài sản này bị thay thế bởi một tài sản mới, tài sản mới không phù hợp với ý chí của người quá cố và không thuộc quyền sở hữu của họ, đặc biệt là đối với động sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản Hơn nữa, Bộ luật Dân sự không có quy định liên quan đến vấn đề này Do đó, nếu tài sản do người quá cố để lại bị thay thế bởi tài sản mới sau thời điểm mở thừa kế, thì tài sản mới sẽ không được xem là di sản.

Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

Theo Điều 612 Bộ Luật Dân sự 2015, di sản được định nghĩa là tài sản riêng của người đã khuất và phần tài sản của họ trong tài sản chung với người khác Do đó, để được công nhận là di sản, tài sản đó phải thuộc quyền sở hữu của người chết trong suốt thời gian họ còn sống.

Theo Khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai 2013, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là văn bản pháp lý xác nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, tài sản gắn liền với đất của người sử dụng Điều này có nghĩa là khi người sử dụng đất sở hữu giấy chứng nhận này, họ sẽ được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất một cách hợp pháp.

Theo Điều 168 Luật Đất đai 2013, người sử dụng đất chỉ được thực hiện các quyền như chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho hay thế chấp khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Điều này có nghĩa là để quyền sử dụng đất trở thành di sản thừa kế, người quá cố cần phải có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp.

22 Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam 2019. download by : skknchat@gmail.com

Trong Bản án số 08, Toà án có coi diện tích đất tăng 85,5m 2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bán án có câu trả lời?

Trong bản án số 08, Tòa án xác định rằng diện tích đất tăng 85,5m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không được coi là di sản thừa kế Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã lập luận rằng diện tích này cần tiếp tục tạm giao cho ông Hòa, người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Toà án trong Bản án số 08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tòa án trong Bản án số 08 đã có hướng xử lý hợp lý đối với diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông Hòa Kết quả xác minh từ UBND phường Đống Đa và các cơ quan liên quan cho thấy ông Hòa đã xây dựng nhà 3 tầng, sân và lán bán hàng trên phần đất này mà không có tranh chấp, đồng thời có mốc giới rõ ràng và không nằm trong diện quy hoạch phải di dời Diện tích đất này đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận sau khi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, do đó vẫn là tài sản của ông Hòa và bà Mai Việc không xác định diện tích này là di sản thừa kế và phân chia sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.

Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m 2 đất, phần di sản của Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao?

Trả lời: Ở Án lệ số 16/2017/AL, phần di sản của Phùng Văn N là 1 ngôi nhà cấp 4 cùng công trình phụ trên diện tích đất 398m 2 download by : skknchat@gmail.com

Ngôi nhà cấp 4 và công trình phụ trên diện tích đất 398m² là tài sản chung của vợ chồng ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G Do không có thỏa thuận rõ ràng về tỷ lệ sở hữu, tài sản này được coi là sở hữu chung hợp nhất theo quy định tại Điều 210 Bộ luật Dân sự 2015.

Sở hữu chung hợp nhất là hình thức sở hữu chung trong đó quyền sở hữu của từng thành viên không được xác định riêng biệt đối với tài sản chung.

2 Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung.” Điều 213 BLDS 2015 cũng quy định:

“1 Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia

2 Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

Ông N và bà G là vợ chồng, cùng sở hữu một khối tài sản chung bao gồm một ngôi nhà cấp 4 và công trình phụ trên diện tích đất 398m2 Tài sản này được xem là tài sản chung hợp nhất, do đó ông N và bà G có quyền ngang nhau Mặc dù ông N không để lại di chúc trước khi qua đời, bà G vẫn có quyền định đoạt tài sản vì đây là tài sản chung của vợ chồng Hơn nữa, do tính chất chung của tài sản, việc xác định và phân chia là không thể thực hiện.

Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K có được coi là di sản để chia không? Vì sao?

K có được coi là di sản để chia không? Vì sao?

Theo án lệ, diện tích đất chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K không được coi là di sản Việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất đã được các con bà biết và không phản đối, đồng thời họ khai rằng bà bán đất để lo cho cuộc sống của mình và các con Ông Phùng Văn K đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do đó, có cơ sở xác định rằng các con bà Phùng Thị G đã đồng ý cho bà chuyển nhượng 131m² đất cho ông K Vì vậy, phần diện tích đất của ông Phùng Văn K không phải là di sản để chia.

Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K

Theo quan điểm cá nhân, tôi hoàn toàn đồng ý với hướng giải quyết trong Án lệ, trong đó bà Phùng Thị G đã chuyển nhượng 131m2 đất cho ông Phùng Văn K vào năm 1991 Các con của bà đều biết về việc chuyển nhượng này nhưng không ai phản đối, và họ đã khai rằng bà G bán đất để lo cho cuộc sống của gia đình Ông Phùng Văn K đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ cơ quan nhà nước, chứng minh rằng việc chuyển nhượng là hợp pháp Do đó, có căn cứ xác định rằng các con của bà Phùng Thị G đã đồng ý cho bà thực hiện giao dịch này.

Do đó, diện tích đã chuyển nhượng cho ông K không được xem là di sản để phân chia, và nhận định của Tòa án về vấn đề này là hợp lý và hợp tình.

Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà dùng cho tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di sản để chia không? Vì sao?

Theo quan điểm cá nhân, nếu bà Phùng Thị G bán đất không phải để chăm lo cho cuộc sống của các con mà dùng số tiền đó cho mục đích cá nhân, thì số tiền này không được xem là di sản để chia.

Theo Điều 33 và Điều 66 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G là vợ chồng, sở hữu tài sản chung là 398m² đất Khi chia tài sản, mỗi người sẽ nhận được 199m² Theo điểm a khoản 1 Điều 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015, hàng thừa kế thứ nhất sẽ được chia đều và có quyền ngang nhau đối với tài sản của ông N, tương ứng với 199m² đất.

Nếu bà G bán cho ông K 131m² mà không có sự đồng ý của các con, điều này đồng nghĩa với việc bà đã bán một phần trong khối tài sản 199m² của hai vợ chồng đã chia Giao dịch này không ảnh hưởng đến phần đất còn lại của ông N, sẽ được chia cho các đồng thừa kế, vì phần đất bán cho ông K vẫn nằm trong tài sản mà bà có quyền định đoạt Theo nguyên tắc, nếu bà G không bán, phần đất này sẽ trở thành di sản để chia.

=> Như vậy trong trường hợp này thì số tiền mà bà G bán để lo cho cuộc sống riêng thì đó không phải là di sản để chia.

Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là bao nhiêu? Vì sao?

Tại thời điểm bà Phùng Thị G qua đời, di sản của bà bao gồm 398 m² đất, trong đó 133,5 m² là tài sản riêng Tuy nhiên, theo Toà án, tài sản này được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, do đó, nó được xác định là tài sản chung của ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G, theo Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 Do đó, bà Phùng Thị G chỉ có quyền định đoạt phần diện tích đất trong tổng diện tích 267 m² đất chung của vợ chồng, và phần di sản chính của bà khi qua đời là 133,5 m² đất.

Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m2 có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?

Việc Tòa án xác định phần di sản còn lại của bà Phùng Thị G là 43,5m² không thuyết phục, vì di sản của ông N sau khi trừ phần đất bán cho ông K là 267m², chia đều cho bà G và 6 người con theo quy định tại Điều 651 BLDS 2015, mỗi người nhận khoảng 19,07m² Do đó, phần di sản thực tế mà bà G để lại, sau khi trừ đi diện tích cho chị H1, là 62,57m² Đây không phải nội dung của Án lệ 16, vì án lệ này chỉ liên quan đến việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế.

Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43,5m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?

Việc Tòa án quyết định “còn lại 43,5m 2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” là không thuyết phục. download by : skknchat@gmail.com

Phần đất 43,5m² còn lại thuộc về di sản cần được chia đều cho 06 người con thừa kế thứ nhất, bao gồm cả chị Phùng Thị H1 Việc bà Phùng Thị G chia di sản theo di chúc không làm ảnh hưởng đến quyền thừa kế của chị H1 Do đó, quyết định của Tòa án chỉ chia cho 05 người con còn lại là không đảm bảo quyền lợi cho chị Phùng Thị H1 Nội dung này không liên quan đến Án lệ số 16/2017/AL.

Án lệ số 16 xác định rằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có thể được công nhận là di sản thừa kế khi một trong các đồng thừa kế thực hiện việc chuyển nhượng mà không bị phản đối bởi các đồng thừa kế khác Số tiền từ việc chuyển nhượng đã được sử dụng để hỗ trợ cuộc sống của các đồng thừa kế, và bên nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Cụ thể, bà Phùng Thị G đã chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất cho ông Phùng Văn K.

Bài viết này đề cập đến án lệ số 16/2017/AL về công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế Nội dung chính nhấn mạnh rằng quyền sử dụng đất có thể được chuyển nhượng và công nhận như một phần của di sản thừa kế, tạo điều kiện cho việc thừa kế và chuyển nhượng tài sản hợp pháp Án lệ này đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn các trường hợp tương tự trong tương lai, góp phần làm rõ quy định pháp luật liên quan đến quyền sử dụng đất và thừa kế.

VẤN ĐỀ 2: QUẢN LÝ DI SẢN

* Tóm tắt bản án số 11/2020/DS-PT, ngày 10/06/2020 của Tòa án nhân tỉnh Sơn La về V/v: Tranh chấp quyền quản lý di sản thừa kế:

Bố mẹ của nguyên đơn Phạm Tiến Hiệu, ông Đ và bà T, để lại di sản gồm 311m² đất và một ngôi nhà gỗ 4 gian mà không có di chúc hoặc người quản lý thừa kế Khi anh Hiệu được ủy quyền sửa chữa nhà từ các thành viên trong gia đình, thì cháu Phạm Tiến Nghĩa, bị đơn trong vụ án, được cha mình là anh Phạm Tiến Thiện giao nhiệm vụ quản lý di sản trong thời gian anh Thiện chấp hành án.

Tại bản án sơ thẩm: Xử tạm giao cho anh Hiệu quản lý tài sản của ông Đ và bà

Anh Hiệu chỉ được sửa chữa phần hư hỏng mà không được tự ý phá dỡ nếu chưa có sự đồng ý của các thành viên trong gia đình Đồng thời, anh Nghĩa phải giao nhà và nghiêm cấm mọi hành vi cản trở quá trình này.

Tại phiên Tòa phúc thẩm, quan hệ tranh chấp được xác định là "tranh chấp quyền quản lý di sản và thừa kế", trong đó anh Hiệu được giao nhiệm vụ quản lý di sản.

Quyết định giám đốc thẩm số 147/2020/DS-GĐT, ngày 09/07/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM liên quan đến tranh chấp lối đi giữa ông Trà Văn Đạm và ông Phạm Văn Sơn Nhỏ Ông Đạm sở hữu 1.497m² đất nằm trong thửa đất của ông Phạm Văn Ngót, do ông Nhỏ quản lý Hai bên đã thỏa thuận cho ông Đạm mở lối đi qua đất của ông Nhỏ; tuy nhiên, thửa đất 525 là tài sản hương hỏa của gia đình ông Ngót và việc mở lối đi là quyết định cá nhân của ông Nhỏ, không có sự đồng ý từ gia đình Ông Nhỏ chỉ đồng ý mở lối đi trong suốt cuộc đời mình, không chấp nhận việc ông Đạm mở lối đi mãi mãi.

Tại bản án dân sự sơ thẩm: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đạm, buộc bị đơn mở lối đi.

Tại bản án dân sự phúc thẩm: Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn.

Tại bản án giám đốc thẩm: Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử.

Trong Bản án số 11, Tòa án đã xác định quyền quản lý di sản của ông Đ và bà T Câu hỏi đặt ra là liệu việc xác định này có thuyết phục hay không và lý do cho sự thuyết phục đó là gì.

Trả lời: download by : skknchat@gmail.com

Trong Bản án số 11/2020/DS-PT ngày 10/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn

Tòa án đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Tiến H, giao cho anh quyền quản lý di sản thừa kế của ông Phạm Tiến Đ và bà Đoàn Thị T Di sản này bao gồm nhà, đất và tài sản trên đất mang tên bà Đoàn Thị T, với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0010/QSDĐ/323/QĐUB do UBND huyện M cấp ngày 02/4/2004 tại Tiểu khu C, thị trấn nông trường M, huyện M, tỉnh Sơn.

La (Có sơ đồ trích đo hiện trạng khu đất kèm theo).” Tòa án xác định như vậy là hợp lý.

Anh Phạm Tiến H được công nhận là người thừa kế thứ nhất của ông Đ và bà T, những người đã qua đời mà không để lại di chúc Theo Điều 636 BLDS 2005, quyền và nghĩa vụ tài sản của người thừa kế phát sinh từ thời điểm mở thừa kế Điều này có nghĩa là kể từ khi di sản được mở ra, anh Hiệu có quyền và nghĩa vụ liên quan đến tài sản do người đã khuất để lại Thêm vào đó, quyền quản lý di sản thừa kế được quy định tại Điều 616 BLDS 2015, xác định rõ trách nhiệm của người quản lý tài sản thừa kế.

“1 Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra.

Trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý, thì người đang chiếm hữu, sử dụng và quản lý di sản sẽ tiếp tục đảm nhận trách nhiệm quản lý di sản đó cho đến khi các thừa kế chỉ định được người quản lý phù hợp.

Trong quá trình giải quyết vụ án, các thành viên trong hàng thừa kế thứ nhất đều đồng thuận giao quyền quản lý khối di sản của ông Đ và bà T cho anh Phạm Tiến H Tất cả các anh, chị, em trong gia đình đều có đủ năng lực hành vi dân sự và quyết định này hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối hay ép buộc, đồng thời không vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội Vì vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm giao quyền quản lý di sản cho anh Phạm Tiến H là hoàn toàn hợp lý.

Trong Bản án số 11, ông Thiện trước khi đi chấp hành án có là người quản lý

quản lý di sản không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Trong Bản án số 11/2020/DS-PT ngày 10/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn

La, ông Thiện trước khi đi chấp hành án là người quản lý di sản Cụ thể, trong download by : skknchat@gmail.com

Theo nhận định của Tòa án, sau khi bà T qua đời vào năm 2012, ông Thiện là người đang sinh sống và quản lý di sản của ông bà Đ T Dựa trên khoản 2 Điều 616 BLDS 2015, nếu di chúc không chỉ định người quản lý di sản và các thừa kế chưa cử được người quản lý, thì người đang chiếm hữu và sử dụng di sản sẽ tiếp tục quản lý cho đến khi có người được chỉ định.

Trong Bản án số 11, việc Tòa án giao cho anh Hiếu (Tiến H) quyền quản lý

lý di sản có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Trong Bản án số 11/2020/DS-PT ngày 10/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn

La, Tòa án giao cho anh Phạm Tiến H quyền quản lý di sản là có thuyết phục Căn cứ vào Điều 616 BLDS 2015 về Người quản lý tài sản:

“1 Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra.

Trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý, người đang chiếm hữu, sử dụng và quản lý di sản sẽ tiếp tục thực hiện việc quản lý di sản cho đến khi những người thừa kế có thể chỉ định được người quản lý phù hợp.

Trong quá trình giải quyết vụ án, các thành viên trong hàng thừa kế thứ nhất đều đồng thuận giao quyền quản lý khối di sản của ông Đ và bà T cho anh Phạm Tiến H Tất cả các thành viên trong gia đình (ông bà Hiệu, Liền, Nhi, Nhường, Hoài, Hài) đều có năng lực hành vi dân sự, và quyết định này hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối hay ép buộc, đồng thời không vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội Vì vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm giao quyền quản lý di sản cho anh Phạm Tiến H là hoàn toàn hợp lý.

Anh Phạm Tiến T, con trai trưởng của gia đình và người đang quản lý di sản của ông bà Đ T, hiện đang chấp hành án Mặc dù anh T đã ủy quyền cho con trai mình, Phạm Tiến N, nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 616 BLDS 2015, người quản lý di sản phải được chỉ định trong di chúc hoặc do các thừa kế thống nhất cử ra Do đó, giấy ủy quyền mà anh Phạm Tiến T cấp cho Phạm Tiến N không có giá trị pháp lý, không đủ điều kiện để xác lập quyền quản lý tài sản của Phạm Tiến N đối với di sản của ông bà Đ T.

Vì những cơ sở trên, Tòa án quyết định giao cho anh Phạm Tiến H quyền quản lý di sản là có thuyết phục và có căn cứ.

Khi người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền tôn đạo, tu sửa lại di sản như trong Bản án số 11 không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

di sản như trong Bản án số 11 không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 617 Bộ luật Dân sự năm 2015, người quản lý di sản thừa kế không có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc thực hiện các hành vi định đoạt khác đối với tài sản mà họ đang quản lý Người quản lý di sản không phải là chủ sở hữu, vì vậy quyền định đoạt tài sản thuộc về những người thừa kế Do đó, để thực hiện các giao dịch như bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố hay thế chấp, cần phải có sự đồng ý bằng văn bản của tất cả những người thừa kế.

Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền giao lại cho người khác quản lý di sản (như trong Bản án số 11 là ông Thiện giao lại cho con trai) không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

Trả lời: Điều 618 Quyền của người quản lý di sản

Người quản lý di sản theo quy định tại Điều 616 của Bộ luật có quyền đại diện cho những người thừa kế trong các giao dịch với bên thứ ba liên quan đến di sản thừa kế, nhận thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế và được thanh toán chi phí bảo quản di sản.

2 Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều

Theo Điều 616 của Bộ luật này, người thừa kế có quyền tiếp tục sử dụng di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc với sự đồng ý của các thừa kế khác Họ cũng có quyền nhận thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế và được thanh toán chi phí bảo quản di sản.

Trong trường hợp không thể đạt được thỏa thuận về mức thù lao với các thừa kế, người quản lý di sản sẽ nhận được một khoản thù lao hợp lý.

Như vậy người quản lý di sản không có quyền giao lại cho người khác quản lý download by : skknchat@gmail.com

Trong Quyết định số 147, Tòa án xác định người quản lý không có quyền tự thỏa thuận mở lối đi cho người khác qua di sản có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

tự thỏa thuận mở lối đi cho người khác qua di sản có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Tòa án đã xác định rằng người quản lý di sản không có quyền tự ý thỏa thuận mở lối đi cho người khác qua di sản, điều này phù hợp với quy định tại Điều 618 về quyền của người quản lý di sản.

Người quản lý di sản theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 616 của Bộ luật này có quyền đại diện cho những người thừa kế trong các quan hệ với bên thứ ba liên quan đến di sản thừa kế, nhận thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế và được thanh toán chi phí bảo quản di sản.

2 Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều

Theo Điều 616 của Bộ luật này, người thừa kế có quyền tiếp tục sử dụng di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc với sự đồng ý của những người thừa kế Họ cũng có quyền hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế và được thanh toán chi phí bảo quản di sản.

Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận với những người thừa kế về mức thù lao, người quản lý di sản sẽ nhận được một khoản thù lao hợp lý.

VẤN ĐỀ 3: THỜI HIỆU TRONG LĨNH VỰC THỪA KẾ

* Tóm tắt Án lệ số 26/2018/AL

Nguyên đơn bà Cấn Thị N2 đã kiện cụ Nguyễn Thị L và ông Cấn Anh C để yêu cầu chia tài sản chung của cụ T và chia di sản thừa kế của cụ K theo quy định pháp luật Cụ T và cụ K, cha mẹ của nguyên đơn, đã tạo lập 612 m² đất với 2 căn nhà 3 gian Sau khi cụ T qua đời năm 1972, cụ K kết hôn với cụ Nguyễn Thị L và qua đời năm 2002, tài sản được quản lý bởi cụ L và ông Cấn Anh C Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng bị đơn đã kháng cáo vào ngày 13-8-2012 Bản án phúc thẩm đã chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm và chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn Bà Cấn Thị N2 đã đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, được Viện kiểm sát nhân dân tối cao đồng ý Quyết định cuối cùng chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, hủy toàn bộ bản án phúc thẩm và sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết lại theo đúng quy định pháp luật.

Cho biết các loại thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế ở Việt Nam

Theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, có 03 loại thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế:

Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế được quy định là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, tính từ thời điểm mở thừa kế Đối với các trường hợp thừa kế mở trước ngày 10/9/1990, thời hiệu khởi kiện chia di sản bất động sản sẽ thực hiện theo Điều 36 của Pháp lệnh thừa kế 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, bắt đầu từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người đã mất là 03 năm, tính từ thời điểm mở thừa kế.

Pháp luật nước ngoài có áp đặt thời hiệu đối với yêu cầu chia di sản không? 13

Pháp luật nước ngoài không quy định thời hạn cho người thừa kế tiến hành chia di sản, nghĩa là việc yêu cầu chia di sản không bị từ chối nếu quá thời gian nhất định Chẳng hạn, theo pháp luật dân sự Pháp, chủ sở hữu chung không thể bị buộc phải giữ tài sản trong tình trạng không thể phân chia nếu họ không yêu cầu chia trong một khoảng thời gian nhất định Điều 815 Bộ luật Dân sự Pháp nêu rõ rằng không ai có thể bị ép phải chấp nhận tình trạng di sản chưa chia và có quyền yêu cầu chia di sản bất cứ lúc nào, trừ khi việc này bị hoãn theo phán quyết hoặc thỏa thuận.

Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T là năm nào? Đoạn nào của Quyết định tạo lập thành Án lệ số 26/2018/AL cho câu trả lời?

Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T là ngày công bố Pháp lệnh thừa kế 30-8-1990 (tức ngày 10-9-1990).

Theo Quyết định thành lập Án lệ số 26/2018/AL, kể từ khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực, Tòa án sẽ áp dụng các quy định tại Điều

Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện chia di sản của cụ T cho các đồng thừa kế vẫn còn hiệu lực đối với trường hợp mở thừa kế vào ngày 01-01-2017 Căn cứ vào khoản 4 Điều 36 của Pháp lệnh thừa kế ngày 30-8-1990, quy định này khẳng định rằng quyền lợi của các đồng thừa kế vẫn được bảo vệ theo quy định của pháp luật.

Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao?.14 3.5 Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T với thời điểm bắt đầu từ thời điểm Pháp lệnh thừa kế năm 1990 được công bố có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao?14

Tòa án cấp phúc thẩm đã xác định rằng thời hiệu khởi kiện về thừa kế của cụ T đã hết, do đó không chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn về việc chia tài sản chung đối với phần di sản của cụ T là hoàn toàn đúng theo hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.4 mục.

Theo Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao, việc Tòa án cấp phúc thẩm tuyên cho các đồng thừa kế, cụ thể là cụ L và ông C, tiếp tục quản lý, sử dụng và sở hữu di sản của cụ T là không đúng.

Việc Án lệ số 26/2018/AL, áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS cho di sản của cụ T có quy định tại khoản 1 Điều 623 BLDS 2015. download by : skknchat@gmail.com

Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu yêu cầu chia di sản cho người thừa kế là 30 năm đối với bất động sản, tính từ thời điểm mở thừa kế.

Việc áp dụng thời hiệu trong Án lệ 26/2018/AL là hợp lý, bởi vì thời điểm khởi kiện vào ngày 02/11/2010 phải dựa trên Điều 165 BLDS 2005, dẫn đến việc vượt qua thời hiệu khởi kiện di sản của cụ T Tuy nhiên, nhằm bảo vệ quyền lợi của các đương sự, Tòa án đã quyết định áp dụng hiệu lực hồi tố vào án lệ để giải quyết tranh chấp di sản của cụ T.

Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của Bộ luật Dân sự 2015 cho di sản của cụ T, bắt đầu từ thời điểm công bố Pháp lệnh thừa kế năm 1990, đặt ra câu hỏi về tính hợp lý và cơ sở văn bản của quyết định này Việc xác định thời hiệu cần dựa trên các quy định pháp lý hiện hành và sự phù hợp với nguyên tắc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người thừa kế Sự thuyết phục của án lệ này phụ thuộc vào việc phân tích các yếu tố pháp lý, lịch sử và thực tiễn liên quan đến di sản thừa kế.

Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm theo Bộ luật Dân sự 2015 cho di sản của cụ T, bắt đầu từ thời điểm công bố Pháp lệnh thừa kế năm 1990, hiện chưa có cơ sở văn bản rõ ràng.

Theo khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu yêu cầu chia di sản của người thừa kế là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, tính từ thời điểm mở thừa kế Bộ luật này quy định thời hiệu 30 năm bắt đầu từ thời điểm mở thừa kế mà không đề cập đến việc thừa kế mở trước khi ban hành Pháp lệnh thừa kế ngày 30/8/1990 Do đó, cần làm rõ liệu thời điểm bắt đầu tính thời hiệu là từ thời điểm mở thừa kế hay từ ngày công bố Pháp lệnh.

Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của Bộ luật Dân sự 2015 cho di sản cụ T, bắt đầu từ thời điểm công bố Pháp lệnh thừa kế năm 1990, mặc dù chưa có cơ sở văn bản rõ ràng nhưng vẫn thuyết phục Nội dung của Án lệ kết hợp giữa Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế 1990, xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là từ ngày 10/9/1990 Quy định này cho thấy thời hiệu chia di sản thừa kế vẫn còn hiệu lực và được Tòa án kéo dài nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thừa kế.

Suy nghĩ của anh/chị về Án lệ số 26/2018/AL nêu trên

- Án lệ số 26/2018/AL tồn tại một số điểm bất hợp lý như sau: download by : skknchat@gmail.com

Theo điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS 2015, "Thời hiệu được áp dụng theo quy định của bộ luật này", tuy nhiên, điều này chỉ áp dụng cho "giao dịch dân sự" Theo Điều 116 BLDS 2015, "giao dịch dân sự" được định nghĩa là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Trong vụ án tranh chấp "thừa kế tài sản và chia tài sản chung" mà HĐTP đang xem xét, không có "giao dịch dân sự" nào tồn tại Do đó, việc viện dẫn điều này làm căn cứ pháp lý là không hợp lý.

Theo khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế ngày 30/8/1990, cần lưu ý rằng Nghị quyết số 02/1990/NQ-HĐTP ngày 19/10/1990 cũng rất quan trọng trong việc hướng dẫn áp dụng quy định của pháp lệnh này Cụ thể, tại điểm b Điều 10 Nghị quyết số 02 đã nêu rõ rằng đối với các vụ thừa kế mở trước ngày 10-9-1990, thời hiệu khởi kiện sẽ được tính từ ngày 10-9-1990.

Sau ngày 10-9-2000, cá nhân không còn quyền khởi kiện để yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình, hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác.

Sau ngày 10-9-1993, cá nhân không còn quyền khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản từ di sản của người đã khuất, cũng như thanh toán các chi phí liên quan đến di sản đó.

HĐTP áp dụng Điều 623 BLDS 2015 để hồi tố quyền khởi kiện cho các trường hợp mở thừa kế trước ngày 10/09/1990, điều này dẫn đến sự bất công bằng trong xã hội.

44 http://vanphongluatsuso6.com/?p29&i=1 download by : skknchat@gmail.com

VẤN ĐỀ 4: TÌM KIẾM TÀI LIỆU

Bạch Thị Nhã Nam đã chỉ ra những bất cập trong các quy định pháp luật liên quan đến quyền lợi có thể được bảo hiểm trong lĩnh vực bảo hiểm tài sản Trong bài viết đăng trên Tạp chí Luật học, số 10/2018, trang 17-25, tác giả phân tích các vấn đề hiện tại và đề xuất giải pháp nhằm cải thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo quyền lợi của người tham gia bảo hiểm được bảo vệ một cách hiệu quả hơn.

2 Bạch Thị Nhã Nam, “Quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản”,

Tạp chí Nghề luật, Số 5/2018 - Năm thứ Mười Ba, tr.32-37.

3 Ban biên tập Tạp chí Kiểm sát, “Kết luận trao đổi về bài viết “Lừa đảo hay cướp giật tài sản”, Tạp chí Kiểm sát, số 18 năm 2017, tr.54-56.

4 Bùi Ngọc Thanh, “Hoàn thiện các chế tài để công khai, minh bạch tài sản và thu nhập”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 12 (364)/Kỳ 2, tháng 6/2018, tr.35-40.6 5

Bùi Thị Thanh Hằng và Nguyễn Anh Thư đã nghiên cứu ảnh hưởng của một số học thuyết pháp lý đến chế định vật quyền trong Bộ luật Dân sự 2015 Bài viết được đăng trên Tạp chí Nhà nước và nhấn mạnh vai trò của các học thuyết này trong việc hình thành và phát triển quy định pháp luật về vật quyền Nghiên cứu cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự tương tác giữa lý thuyết và thực tiễn pháp lý, đồng thời chỉ ra những điểm cần cải thiện trong bộ luật hiện hành.

Bài viết của Cao Anh Nguyên, "Di sản dùng vào việc thờ cúng - nhìn từ góc độ thực tiễn xét xử và thi hành án (Kỳ 1)", đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 1/2018, trang 39-41, phân tích vai trò của di sản văn hóa trong việc thờ cúng và những vấn đề pháp lý liên quan đến xét xử và thi hành án Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ di sản văn hóa trong bối cảnh pháp luật hiện hành, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện quy trình xét xử liên quan đến di sản Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực tiễn áp dụng pháp luật và những thách thức mà các cơ quan chức năng phải đối mặt trong việc bảo tồn di sản văn hóa.

Cao Anh Nguyên trong bài viết "Di sản dùng vào việc thờ cúng - nhìn từ góc độ thực tiễn xét xử và thi hành án" (Tạp chí Tòa án nhân dân số 2/2018, tr 41-42) đã phân tích vai trò của di sản trong việc thờ cúng, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ và quản lý di sản văn hóa trong bối cảnh pháp lý hiện nay Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực tiễn xét xử và thi hành án liên quan đến di sản, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy giá trị của di sản trong đời sống tâm linh của cộng đồng.

Cao Thị Kim Trinh đã chỉ ra những sai sót trong quy trình kê biên và xử lý tài sản thế chấp nhằm thi hành các bản án và quyết định kinh doanh thương mại Bài viết đăng trên Tạp chí Nghề luật cung cấp cái nhìn sâu sắc về những vấn đề pháp lý liên quan, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ quy định trong quá trình này.

Số 09/2020 - Năm thứ Mười Lăm, tr.57-60.

9 Châu Thị Vân, “Căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với tài sản không xác định được chủ sở hữu”, Tạp chí Khoa học Pháp Lý, Số 1/2018, tr 33-42.

Chu Thị Thanh An trong bài viết “Quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý thu hồi nợ của tổ chức tín dụng” đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11/2019, trang 25, đã phân tích quyền thu giữ tài sản bảo đảm trong bối cảnh xử lý nợ của các tổ chức tín dụng Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực thi quyền này nhằm bảo vệ quyền lợi của tổ chức tín dụng và đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động cho vay.

Đặng Ngọc Dư trong bài viết “Nâng cao chất lượng công tác kiểm sát thi hành án dân sự đối với việc thu hồi tài sản về tham nhũng, thu hồi tài sản cho nhà nước, việc thi hành án có liên quan đến tổ chức tín dụng” trên Tạp chí Kiểm sát, số 24 năm 2017, trang 33-40, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện quy trình kiểm sát thi hành án dân sự Bài viết đề cập đến các biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng và tài sản thuộc về nhà nước, đồng thời nêu rõ mối liên hệ giữa thi hành án và các tổ chức tín dụng, từ đó góp phần nâng cao chất lượng công tác này trong hệ thống tư pháp.

Đặng Phước Thông trong bài viết "Đăng ký quyền sở hữu căn hộ chung cư theo yêu cầu và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật" đăng trên Tạp chí Khoa học Pháp Lý, Số 3/2020, trang 37-49, đã đề cập đến quy trình đăng ký quyền sở hữu căn hộ chung cư và đưa ra những kiến nghị nhằm cải thiện hệ thống pháp luật liên quan.

55 http://lapphap.vn/Pages/AnPham/chitietanpham.aspx?ItemIDC download by : skknchat@gmail.com

Đặng Thu Hà trong bài viết “Diện và hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới” đã phân tích các quy định về di sản thừa kế tại Việt Nam và so sánh với pháp luật của một số quốc gia khác Bài viết được đăng trên Tạp chí Nghề luật, số 5/2018, trang 85, cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy tắc và nguyên tắc thừa kế, từ đó giúp độc giả hiểu rõ hơn về hệ thống pháp luật liên quan đến thừa kế.

Bài viết của Đinh Văn Quế, đăng trên Tạp chí Kiểm sát năm 2017, tập trung vào các vấn đề liên quan đến tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo quy định của Bộ Luật Hình sự năm 2015 Tác giả phân tích các khía cạnh pháp lý và thực tiễn của tội phạm này, nhấn mạnh những khó khăn trong việc xác định và xử lý các trường hợp vi phạm Qua đó, bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về các vấn đề cần cải thiện trong quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân và tổ chức.

15 Đinh Văn Quế, “Phân biệt một số tội phạm có hành vi chiếm đoạt tài sản”, Tạp chí Kiểm sát, Số 03/2021, tr.17-22.

16 Đỗ Lường Thiện, “Hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội trộm cắp tài sản”, Tạp chí Nghề luật, Số 4/2017 - Năm thứ Mười Hai, tr.71-73.

17 Đỗ Ngọc Bình - Vũ Minh Giám, “Bùi Xuân N phạm tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”, Tạp chí Toà án nhân dân, số 14-2017, tr.37-38.

Ngày đăng: 23/04/2022, 07:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Lớp Hình sự 46A1 - BUỔI THẢO LUẬN THỨ năm môn NHỮNG vấn đề CHUNG về LUẬT dân sự
p Hình sự 46A1 (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w