1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BUỔI THẢO LUẬN THỨ năm môn NHỮNG vấn đề CHUNG về LUẬT dân sự

33 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 87,17 KB

Cấu trúc

  • 1.2. Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao? (7)
  • 1.3. Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời (9)
  • 1.4. Trong Bản án số 08, Toà án có coi diện tích đất tăng 85,5m 2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bán án có câu trả lời? (10)
  • 1.5. Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Toà án trong Bản án số 08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (10)
  • 1.6. Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m 2 đất, phần di sản của Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao? (10)
  • 1.7. Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K có được coi là di sản để chia không? Vì sao? (11)
  • 1.8. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K (12)
  • 1.9. Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà dùng cho tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di sản để chia không? Vì sao? (12)
  • 1.10. Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là bao nhiêu? Vì sao? (13)
  • 1.11. Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m2 có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao? (13)
  • 1.12. Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43,5m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao? (13)
  • 2.3. Trong Bản án số 11, việc Tòa án giao cho anh Hiếu (Tiến H) quyền quản lý (17)
  • 2.4. Khi người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền tôn đạo, tu sửa lại di sản như trong Bản án số 11 không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời (18)
  • 2.5. Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền giao lại cho người khác quản lý di sản (như trong Bản án số 11 là ông Thiện giao lại cho con trai) không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời (18)
  • 2.6. Trong Quyết định số 147, Tòa án xác định người quản lý không có quyền tự thỏa thuận mở lối đi cho người khác qua di sản có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời (19)
  • 3.1. Cho biết các loại thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế ở Việt Nam (20)
  • 3.2. Pháp luật nước ngoài có áp đặt thời hiệu đối với yêu cầu chia di sản không? (21)
  • 3.3 Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T là năm nào? Đoạn nào của Quyết định tạo lập thành Án lệ số 26/2018/AL cho câu trả lời? (21)
  • 3.4. Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao? 14 3.5. Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T với thời điểm bắt đầu từ thời điểm Pháp lệnh thừa kế năm 1990 được công bố có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao?14 (21)
  • 3.6 Suy nghĩ của anh/chị về Án lệ số 26/2018/AL nêu trên (22)

Nội dung

Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao?

Trong quá trình tồn tại, di sản có thể bị thay thế bởi các tài sản khác Ví dụ, theo Quyết định số 88/2009/DS-GĐT ngày 27-2-2009 của Tòa án nhân dân tối cao, phần di sản của ông Phẳng đã bị giải tỏa để làm đường và được bồi thường bằng đất nông nghiệp chưa chuyển đổi mục đích sử dụng Điều này cho thấy một phần di sản đã được thay thế bằng một di sản mới Tương tự, trong Quyết định số 636/2011/DS-GĐT ngày 22-8-2011, diện tích 2.334m² đất vườn thổ cư tại ấp 5 có nguồn gốc từ cha mẹ cụ Phận cũng được đề cập.

Theo Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế của Đại học Luật Tp.HCM, sau khi cụ Phận qua đời vào năm 1995, diện tích đất mà cụ và cụ Kiờu sử dụng đã bị Nhà nước thu hồi Gia đình được đền bù bằng 300m² đất thổ cư hoán đổi và 183.06m² đất thổ cư hỗ trợ Di sản đã được thay thế bởi một di sản trước đó.

Di sản bị thay thế không còn thuộc về những người thừa kế, và câu hỏi đặt ra là tài sản thay thế có được coi là di sản hay không Trong Quyết định số 636/2011/DS-GĐT, Tòa án xác định rằng diện tích đất tranh chấp do Nhà nước bồi thường là tài sản của cụ Phận và cụ Kiêu, trong đó 150m² đất của cụ Phận là di sản thừa kế Đối với phần đất thổ cư hỗ trợ, nếu được hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi, thì cũng được coi là di sản thừa kế Một quyết định năm 2013 cũng chỉ ra rằng đối với phần đất đã quy hoạch và đền bù, tiền đền bù và đất tái định cư mới cũng cần được xác định là di sản.

Tài sản thay thế di sản được hiểu là “di sản thừa kế”, mặc dù chưa có quy định cụ thể trong văn bản pháp luật nhưng vẫn được áp dụng trong trường hợp di sản được thay thế bằng tiền như tiền đền bù hoặc tiền bảo hiểm Khi di sản bị bán, Tòa án nhân dân tối cao coi tiền thu được từ việc bán là di sản, và nếu di sản đã được giao cho người không có quyền hưởng, người đó phải thanh toán giá trị tài sản Trong trường hợp Tòa án quyết định bán đấu giá di sản và di sản đã được chuyển nhượng hợp pháp, nếu quyết định giao di sản bị hủy, giá trị di sản sẽ được chuyển thành tiền và người nhận tiền có trách nhiệm chia sẻ với những người thừa kế khác.

Khi tài sản do người quá cố để lại bị thay thế bởi một tài sản mới tại thời điểm mở thừa kế, tài sản mới này sẽ không được coi là di sản.

Tại thời điểm mở thừa kế, tài sản của người quá cố trở thành di sản Nếu tài sản này bị thay thế bởi một tài sản mới, tài sản mới không phù hợp với ý chí của người quá cố và không thuộc quyền sở hữu của họ, đặc biệt là đối với động sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản Hơn nữa, Bộ luật Dân sự không có quy định nào liên quan đến vấn đề này Do đó, nếu tài sản do người quá cố để lại bị thay thế bởi tài sản mới sau thời điểm mở thừa kế, thì tài sản mới không được coi là di sản.

Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

Theo Điều 612 Bộ Luật Dân sự 2015, di sản được định nghĩa là tài sản riêng của người đã khuất cùng với phần tài sản của họ trong tài sản chung với người khác Do đó, để được công nhận là di sản, tài sản đó phải thuộc sở hữu của người chết trong suốt thời gian họ còn sống.

Theo Khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai 2013, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là văn bản pháp lý xác nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, tài sản gắn liền với đất của người sử dụng Điều này có nghĩa là, khi người sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, họ sẽ được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất một cách hợp pháp.

Theo Điều 168 Luật Đất đai 2013, người sử dụng đất chỉ có đầy đủ quyền và nghĩa vụ khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Điều này bao gồm cả quyền để lại di sản thừa kế Do đó, để quyền sử dụng đất của người quá cố được coi là di sản, bắt buộc phải có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

22 Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức - HộiLuật gia Việt Nam 2019.

Trong Bản án số 08, Toà án có coi diện tích đất tăng 85,5m 2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bán án có câu trả lời?

Trong bản án số 08, Tòa án xác định rằng diện tích đất tăng 85,5m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không được coi là di sản thừa kế Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã lập luận rằng diện tích đất này cần tiếp tục tạm giao cho ông Hòa, người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Toà án trong Bản án số 08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo Bản án số 08, việc xử lý của Tòa án về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hợp lý Kết quả xác minh từ UBND phường Đống Đa và các cơ quan chức năng cho thấy gia đình ông Hòa đã xây dựng nhà 3 tầng và các công trình khác trên phần đất này trong nhiều năm mà không có tranh chấp Đất này có mốc giới rõ ràng, không nằm trong quy hoạch di dời, và thuộc diện được cấp giấy chứng nhận sau khi nộp thuế Do đó, đây vẫn là tài sản hợp pháp của ông Hòa và bà Mai, tuy nhiên, các đương sự cần thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước Nếu không xác định rõ di sản thừa kế và phân chia, quyền lợi hợp pháp của các bên sẽ bị ảnh hưởng.

Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m 2 đất, phần di sản của Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao?

Trả lời: Ở Án lệ số 16/2017/AL, phần di sản của Phùng Văn N là 1 ngôi nhà cấp 4 cùng công trình phụ trên diện tích đất 398m 2

Ngôi nhà cấp 4 và công trình phụ trên diện tích 398m2 là tài sản chung của vợ chồng ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G Do không có thỏa thuận phân chia cụ thể về tỷ lệ sở hữu, tài sản này được coi là sở hữu chung hợp nhất theo quy định tại Điều 210 Bộ luật Dân sự 2015.

Sở hữu chung hợp nhất là hình thức sở hữu chung trong đó quyền sở hữu của từng thành viên không được phân định rõ ràng đối với tài sản chung.

2 Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung.” Điều 213 BLDS 2015 cũng quy định:

“1 Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia

2 Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

Ông N và bà G là vợ chồng, cùng sở hữu một tài sản chung gồm ngôi nhà cấp 4 và công trình phụ trên diện tích đất 398m2 Do đây là tài sản chung hợp nhất, ông N và bà G có quyền ngang nhau Mặc dù ông N không để lại di chúc trước khi qua đời, bà G vẫn có quyền định đoạt tài sản vì đó là tài sản chung của vợ chồng, và do tính chất chung của tài sản, việc xác định và phân chia là không thể.

Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K có được coi là di sản để chia không? Vì sao?

K có được coi là di sản để chia không? Vì sao?

Theo Án lệ, diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K không được coi là di sản Việc chuyển nhượng này đã được các con của bà Phùng Thị G biết và không phản đối Họ xác nhận rằng bà Phùng Thị G bán đất để lo cho cuộc sống của mình và các con Ông Phùng Văn K cũng đã nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ cơ quan nhà nước Do đó, có cơ sở khẳng định rằng các con bà Phùng Thị G đã đồng ý cho bà chuyển nhượng 131m² đất cho ông Phùng Văn K, nên phần đất này không phải là di sản để chia.

Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K

Tôi hoàn toàn đồng ý với hướng giải quyết trong Án lệ, theo đó vào năm 1991, bà Phùng Thị G đã chuyển nhượng 131m² đất cho ông Phùng Văn K trong tổng diện tích 398m² Các con của bà G đều biết về việc chuyển nhượng này và không ai phản đối, đồng thời họ xác nhận rằng bà G bán đất để cải thiện cuộc sống cho gia đình Ông K đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chứng minh rằng việc chuyển nhượng là hợp pháp Do đó, có đủ cơ sở để xác định rằng các con của bà G đã đồng ý cho bà thực hiện giao dịch này.

Do đó, diện tích đã chuyển nhượng cho ông K không được xem là di sản để phân chia, theo nhận định của Tòa án, là hợp lý và hợp tình.

Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà dùng cho tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di sản để chia không? Vì sao?

Theo quan điểm cá nhân, nếu bà Phùng Thị G bán đất không phải để chăm lo cho cuộc sống của các con mà sử dụng số tiền đó cho nhu cầu cá nhân của mình, thì số tiền này không được xem là di sản để chia.

Theo Điều 33 và Điều 66 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G là vợ chồng, sở hữu tài sản chung là 398m² đất Khi chia đôi, mỗi người sẽ nhận được 199m² đất Theo điểm a khoản 1 Điều 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015, hàng thừa kế thứ nhất sẽ được chia đều và có quyền ngang nhau đối với tài sản của ông N, tức 199m² đất.

Nếu bà G bán cho ông K 131m² mà không có sự đồng ý của các con, thì việc này đồng nghĩa với việc bà đã bán một phần trong khối tài sản 199m² của hai vợ chồng đã chia Giao dịch này không ảnh hưởng đến phần đất còn lại của ông N, vì phần đất bán cho ông K vẫn thuộc quyền định đoạt của bà Theo nguyên tắc, nếu bà không thực hiện giao dịch này, phần đất đó sẽ trở thành di sản để chia cho các đồng thừa kế.

=> Như vậy trong trường hợp này thì số tiền mà bà G bán để lo cho cuộc sống riêng thì đó không phải là di sản để chia.

Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là bao nhiêu? Vì sao?

Khi bà Phùng Thị G qua đời, di sản của bà bao gồm 398 m² đất, trong đó có 133,5 m² được xác định là tài sản chung của bà và ông Phùng Văn N do được hình thành trong thời kỳ hôn nhân Theo Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, bà Phùng Thị G chỉ có quyền định đoạt phần đất 267 m² thuộc sở hữu chung của vợ chồng Do đó, phần di sản của bà Phùng Thị G khi mất là 133,5 m² đất theo Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015.

Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m2 có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?

Tòa án xác định phần di sản còn lại của bà Phùng Thị G là 43,5m² là không thuyết phục, vì di sản của ông N (sau khi trừ đi phần đất bán cho ông K) là 267m², chia đều cho hàng thừa kế thứ nhất gồm bà G và 6 người con, mỗi người sẽ nhận được khoảng 19,07m² Do đó, phần di sản thực tế mà bà G để lại, sau khi trừ đi diện tích đã cho chị H1, là 133,5m² + 19,07m² - 90m².

Diện tích là 62,57m2 Nội dung này không thuộc về Án lệ 16, vì án lệ này chỉ tập trung vào việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất như một phần di sản thừa kế từ một trong các đồng thừa kế.

Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43,5m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?

Việc Tòa án quyết định “còn lại 43,5m 2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” là không thuyết phục.

Phần đất 43,5m² còn lại thuộc di sản phải được chia đều cho 06 người con thừa kế, bao gồm cả chị Phùng Thị H1 Việc bà Phùng Thị G chia di sản theo di chúc không làm ảnh hưởng đến quyền thừa kế của chị H1 Do đó, quyết định của Tòa án chỉ chia cho 05 người con còn lại không đảm bảo quyền lợi cho chị Phùng Thị H1 Đây không phải là nội dung của Án lệ số 16/2017/AL.

Án lệ số 16 xác định rằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có thể được công nhận là di sản thừa kế khi một trong các đồng thừa kế thực hiện việc chuyển nhượng và các đồng thừa kế khác biết đến mà không phản đối Số tiền từ việc chuyển nhượng đã được sử dụng để hỗ trợ cuộc sống của các đồng thừa kế, và bên nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Cụ thể, bà Phùng Thị G đã chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất cho ông Phùng Văn K.

An lệ số 16/2017/AL quy định về công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế Theo đó, di sản thừa kế có thể bao gồm quyền sử dụng đất, và việc chuyển nhượng quyền này phải tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành Điều này đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan trong quá trình thừa kế và chuyển nhượng tài sản.

VẤN ĐỀ 2: QUẢN LÝ DI SẢN

* Tóm tắt bản án số 11/2020/DS-PT, ngày 10/06/2020 của Tòa án nhân tỉnh Sơn La về V/v: Tranh chấp quyền quản lý di sản thừa kế:

Bố mẹ của nguyên đơn Phạm Tiến Hiệu, ông Đ và bà T, để lại di sản gồm 311m² đất và một ngôi nhà gỗ 4 gian mà không có di chúc hay giao quyền quản lý thừa kế cho ai Khi anh Hiệu được ủy quyền sửa chữa nhà từ các thành viên trong gia đình, cháu Phạm Tiến Nghĩa (bị đơn) được bố là Phạm Tiến Thiện giao quản lý di sản trong thời gian anh Thiện thi hành án.

Tại bản án sơ thẩm: Xử tạm giao cho anh Hiệu quản lý tài sản của ông Đ và bà

Anh Hiệu chỉ được sửa chữa phần hư hỏng và không được tự ý phá dỡ mà không có sự đồng ý của các thành viên trong gia đình Đồng thời, anh Nghĩa phải giao nhà và mọi hành vi cản trở đều bị nghiêm cấm.

Tại phiên Tòa phúc thẩm, quan hệ tranh chấp được xác định là "tranh chấp quyền quản lý di sản và thừa kế" Tòa án đã quyết định giao cho anh Hiệu nhiệm vụ quản lý di sản.

Quyết định giám đốc thẩm số 147/2020/DS-GĐT, ngày 09/07/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM liên quan đến tranh chấp lối đi giữa ông Trà Văn Đạm (nguyên đơn) và ông Phạm Văn Nhỏ (bị đơn) Ông Đạm sở hữu 1.497m² đất nằm trong thửa đất của ông Phạm Văn Ngót, do ông Nhỏ quản lý Hai bên đã có thỏa thuận cho ông Đạm mở lối đi qua đất của ông Nhỏ, tuy nhiên, việc này chỉ là ý kiến cá nhân của ông Nhỏ và không có sự đồng ý từ gia đình ông Ngót Ông Nhỏ cam kết mở lối đi đến hết đời nhưng không đồng ý cho ông Đạm mở lối đi mãi mãi.

Tại bản án dân sự sơ thẩm: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đạm, buộc bị đơn mở lối đi.

Tại bản án dân sự phúc thẩm: Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn.

Tại bản án giám đốc thẩm: Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử.

Trong Bản án số 11, Tòa án đã xác định rõ ai là người có quyền quản lý di sản của ông Đ và bà T Tuy nhiên, cần xem xét tính thuyết phục của việc xác định này, bao gồm các yếu tố pháp lý và thực tiễn liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan Sự hợp lý và minh bạch trong quyết định của Tòa án sẽ ảnh hưởng đến sự chấp nhận của các bên cũng như tính công bằng trong quản lý di sản.

Trong Bản án số 11/2020/DS-PT ngày 10/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn

Tòa án đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Tiến H, giao quyền quản lý di sản thừa kế của ông Đ và bà T cho anh Di sản này bao gồm nhà, đất và tài sản trên đất mang tên bà Đoàn Thị T, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0010/QSDĐ/323/QĐUB do UBND huyện M cấp ngày 02/4/2004, tại Tiểu khu C, thị trấn nông trường M, huyện M, tỉnh Sơn.

La (Có sơ đồ trích đo hiện trạng khu đất kèm theo).”

Tòa án xác định như vậy là hợp lý.

Anh Phạm Tiến H là người thừa kế thứ nhất của ông Đ và bà T, những người đã qua đời mà không để lại di chúc Theo Điều 636 BLDS 2005, quyền và nghĩa vụ tài sản của người thừa kế phát sinh từ thời điểm mở thừa kế Quyền quản lý di sản thừa kế được quy định tại Điều 616 BLDS 2015, xác định rõ quyền lợi và trách nhiệm của người thừa kế trong việc quản lý tài sản do người chết để lại.

“1 Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra.

Trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý, thì người đang chiếm hữu, sử dụng và quản lý di sản sẽ tiếp tục thực hiện việc quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế chỉ định được người quản lý.

Trong quá trình giải quyết vụ án, các thành viên trong hàng thừa kế thứ nhất đều đồng thuận giao quyền quản lý di sản của ông Đ và bà T cho anh Phạm Tiến H Tất cả các thành viên trong gia đình (ông bà Hiệu, Liền, Nhi, Nhường, Hoài, Hài) đều có năng lực hành vi dân sự và quyết định này hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối hay ép buộc, đồng thời không vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội Vì vậy, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm giao quyền quản lý di sản cho anh Phạm Tiến H là hoàn toàn phù hợp.

2.2 Trong Bản án số 11, ông Thiện trước khi đi chấp hành án có là người quản lý di sản không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Trong Bản án số 11/2020/DS-PT ngày 10/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn

La, ông Thiện trước khi đi chấp hành án là người quản lý di sản Cụ thể, trong

Theo nhận định của Tòa án, sau khi bà T qua đời vào năm 2012, ông Thiện là người sống tại nhà và đất, tiếp tục quản lý di sản của ông bà Đ T Theo khoản 2 Điều 616 Bộ luật Dân sự 2015, trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý, thì người đang chiếm hữu và sử dụng di sản sẽ tiếp tục quản lý cho đến khi có người được chỉ định.

Trong Bản án số 11, việc Tòa án giao cho anh Hiếu (Tiến H) quyền quản lý

lý di sản có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Trong Bản án số 11/2020/DS-PT ngày 10/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn

La, Tòa án giao cho anh Phạm Tiến H quyền quản lý di sản là có thuyết phục. Căn cứ vào Điều 616 BLDS 2015 về Người quản lý tài sản:

“1 Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra.

Trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và các thừa kế chưa cử được người quản lý, thì người đang chiếm hữu và sử dụng di sản sẽ tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế chỉ định được người quản lý.

Trong quá trình giải quyết vụ án, các thành viên trong hàng thừa kế thứ nhất đều đồng thuận giao quyền quản lý khối di sản của ông Đ và bà T cho anh Phạm Tiến H Tất cả các anh, chị, em trong gia đình (ông bà Hiệu, Liền, Nhi, Nhường, Hoài, Hài) đều có năng lực hành vi dân sự, và quyết định này được đưa ra hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối hay ép buộc, đồng thời không vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội Vì vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm giao quyền quản lý di sản cho anh Phạm Tiến H là hoàn toàn hợp lý.

Anh Phạm Tiến T, con trai trưởng trong gia đình và người quản lý di sản của ông bà Đ T, hiện đang chấp hành án Mặc dù anh T đã ủy quyền cho con trai là Phạm Tiến N trước khi thi hành án, nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 616 BLDS 2015, người quản lý di sản phải được chỉ định trong di chúc hoặc do các thừa kế thỏa thuận cử ra Do đó, giấy ủy quyền cho Phạm Tiến N không có giá trị pháp lý và không tạo ra quyền quản lý tài sản di sản của ông bà Đ T.

Vì những cơ sở trên, Tòa án quyết định giao cho anh Phạm Tiến H quyền quản lý di sản là có thuyết phục và có căn cứ.

Khi người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền tôn đạo, tu sửa lại di sản như trong Bản án số 11 không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

di sản như trong Bản án số 11 không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Theo Điều 617 BLDS năm 2015, người quản lý di sản không có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác Họ không phải là sở hữu chủ của di sản, vì vậy quyền định đoạt thuộc về những người thừa kế Để thực hiện các giao dịch như bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố hay thế chấp, cần có sự đồng ý bằng văn bản của tất cả các thừa kế.

Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền giao lại cho người khác quản lý di sản (như trong Bản án số 11 là ông Thiện giao lại cho con trai) không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

Trả lời: Điều 618 Quyền của người quản lý di sản

Người quản lý di sản theo quy định tại Điều 616 của Bộ luật có quyền đại diện cho những người thừa kế trong các giao dịch với bên thứ ba liên quan đến di sản thừa kế Họ cũng có quyền nhận thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế và được thanh toán chi phí bảo quản di sản.

2 Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều

Theo Điều 616 của Bộ luật, người thừa kế có quyền tiếp tục sử dụng di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc với sự đồng ý của các đồng thừa kế Họ cũng có quyền hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế và được thanh toán chi phí bảo quản di sản.

Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận về mức thù lao giữa người quản lý di sản và những người thừa kế, người quản lý di sản sẽ được hưởng một khoản thù lao hợp lý.

Như vậy người quản lý di sản không có quyền giao lại cho người khác quản lý

Trong Quyết định số 147, Tòa án xác định người quản lý không có quyền tự thỏa thuận mở lối đi cho người khác qua di sản có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

tự thỏa thuận mở lối đi cho người khác qua di sản có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

Tòa án khẳng định rằng người quản lý di sản không có quyền tự ý thỏa thuận mở lối đi cho người khác qua di sản, điều này phù hợp với quy định tại Điều 618 về quyền của người quản lý di sản.

Người quản lý di sản, theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 616 của Bộ luật, có quyền đại diện cho những người thừa kế trong các mối quan hệ với bên thứ ba liên quan đến di sản thừa kế, nhận thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế, và được thanh toán chi phí bảo quản di sản.

2 Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều

Theo Điều 616 của Bộ luật, người thừa kế có quyền tiếp tục sử dụng di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc với sự đồng ý của những người thừa kế Họ cũng có quyền nhận thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế và được thanh toán chi phí bảo quản di sản.

Trong trường hợp không có thỏa thuận giữa những người thừa kế về mức thù lao, người quản lý di sản sẽ nhận được một khoản thù lao hợp lý.

VẤN ĐỀ 3: THỜI HIỆU TRONG LĨNH VỰC THỪA KẾ

* Tóm tắt Án lệ số 26/2018/AL

Bà Cấn Thị N2 đã kiện cụ Nguyễn Thị L và ông Cấn Anh C để yêu cầu chia tài sản chung của cụ T và chia di sản thừa kế của cụ K theo quy định pháp luật Cụ T và cụ K, cha mẹ của nguyên đơn, đã tạo lập 612 m² đất cùng hai căn nhà ba gian Sau khi cụ T qua đời năm 1972, cụ K kết hôn với cụ Nguyễn Thị L và qua đời năm 2002, tài sản được quản lý bởi cụ L và ông Cấn Anh C Bản án sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng bị đơn đã kháng cáo Bản án phúc thẩm đã sửa đổi bản án sơ thẩm, chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn Bà Cấn Thị N2 đã đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã nhất trí kháng nghị bản án phúc thẩm Quyết định cuối cùng là chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, hủy toàn bộ bản án phúc thẩm và sơ thẩm, giao lại hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết lại theo đúng quy định pháp luật.

Cho biết các loại thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế ở Việt Nam

Theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, có 03 loại thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế:

Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế được quy định là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, tính từ thời điểm mở thừa kế Đối với các trường hợp thừa kế mở trước ngày 10/9/1990, thời hiệu khởi kiện chia di sản bất động sản sẽ được thực hiện theo Điều 36 của Pháp lệnh thừa kế 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, bắt đầu từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản của người đã khuất là 03 năm, bắt đầu từ thời điểm mở thừa kế.

Pháp luật nước ngoài có áp đặt thời hiệu đối với yêu cầu chia di sản không?

Pháp luật nước ngoài không quy định thời hạn cho người thừa kế tiến hành chia di sản, nghĩa là yêu cầu chia di sản vẫn có thể được chấp nhận dù đã quá thời hạn Cụ thể, theo luật dân sự Pháp, không thể buộc chủ sở hữu chung phải để tài sản trong tình trạng không thể phân chia nếu họ không yêu cầu chia trong một khoảng thời gian nhất định Điều 815 Bộ luật Dân sự Pháp nêu rõ rằng không ai có thể bị ép buộc chấp nhận tình trạng di sản chưa chia và có quyền yêu cầu chia di sản bất cứ lúc nào, trừ khi việc này bị tạm hoãn theo bản án hoặc thỏa thuận.

Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T là năm nào? Đoạn nào của Quyết định tạo lập thành Án lệ số 26/2018/AL cho câu trả lời?

Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T là ngày công bố Pháp lệnh thừa kế 30-8-1990 (tức ngày 10-9-1990).

Theo Quyết định thành lập Án lệ số 26/2018/AL, kể từ ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực, Tòa án sẽ áp dụng quy định tại Điều

Theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế ngày 30-8-1990 và Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, thời hiệu khởi kiện chia di sản của cụ T cho các đồng thừa kế vẫn còn hiệu lực tính từ ngày 01-01-2017 Điều này có nghĩa là các đồng thừa kế có quyền yêu cầu chia di sản trong thời gian quy định của pháp luật.

Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao? 14 3.5 Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T với thời điểm bắt đầu từ thời điểm Pháp lệnh thừa kế năm 1990 được công bố có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao?14

Tòa án cấp phúc thẩm đã xác định rằng thời hiệu khởi kiện về thừa kế của cụ T đã hết, do đó không chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn về việc chia tài sản chung liên quan đến phần di sản của cụ T là hoàn toàn đúng theo hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.4 mục.

Theo Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao, việc Tòa án cấp phúc thẩm tuyên cho các đồng thừa kế, cụ thể là cụ L và ông C, tiếp tục quản lý, sử dụng và sở hữu di sản của cụ T là không đúng quy định.

Việc Án lệ số 26/2018/AL, áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS cho di sản của cụ T có quy định tại khoản 1 Điều 623 BLDS 2015.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản bất động sản là 30 năm, tính từ thời điểm mở thừa kế.

Việc áp dụng thời hiệu trong Án lệ 26/2018/AL là hợp lý, bởi lẽ thời điểm khởi kiện vào ngày 02/11/2010 yêu cầu phải tuân theo Điều 165 BLDS 2005, dẫn đến việc đã vượt qua thời hiệu khởi kiện đối với di sản của cụ T Tuy nhiên, nhằm bảo vệ quyền lợi của các đương sự, Tòa án đã quyết định áp dụng hiệu lực hồi tố vào án lệ để giải quyết tranh chấp về di sản của cụ T.

Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm theo Bộ luật Dân sự 2015 cho di sản của cụ T, bắt đầu từ thời điểm công bố Pháp lệnh thừa kế năm 1990, đặt ra câu hỏi về cơ sở văn bản và tính thuyết phục của quyết định này Cần xem xét các quy định pháp lý liên quan để đánh giá tính hợp lý và sự phù hợp trong việc áp dụng thời hiệu này Việc nghiên cứu các quy định trước đó và sự phát triển của pháp luật về thừa kế sẽ giúp làm rõ vấn đề này.

Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm theo Bộ luật Dân sự 2015 cho di sản của cụ T, bắt đầu từ thời điểm công bố Pháp lệnh thừa kế năm 1990, nhưng không có cơ sở văn bản rõ ràng cho quy định này.

Theo khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, tính từ thời điểm mở thừa kế Bộ luật này quy định thời hiệu 30 năm bắt đầu từ thời điểm mở thừa kế mà không đề cập đến trường hợp thừa kế mở trước khi ban hành Pháp lệnh thừa kế ngày 30/8/1990 Do đó, cần làm rõ liệu thời điểm bắt đầu tính thời hiệu là từ thời điểm mở thừa kế hay từ ngày công bố Pháp lệnh.

Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của Bộ luật Dân sự 2015 cho di sản cụ T từ thời điểm công bố Pháp lệnh thừa kế năm 1990, mặc dù chưa có cơ sở văn bản rõ ràng nhưng vẫn thuyết phục Nội dung của Án lệ kết hợp giữa Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế 1990, xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế từ ngày 10/9/1990 Với quy định này, thời hiệu chia di sản thừa kế vẫn còn hiệu lực và được Tòa án kéo dài nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thừa kế.

Suy nghĩ của anh/chị về Án lệ số 26/2018/AL nêu trên

- Án lệ số 26/2018/AL tồn tại một số điểm bất hợp lý như sau:

+ Viện dẫn điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS 2015: “Thời hiệu được áp dụng theo quy định của bộ luật này.” Nhưng khoản 1 Điều 688 được áp dụng đối với

Theo Điều 116 Bộ luật Dân sự 2015, "giao dịch dân sự" được định nghĩa là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương có khả năng phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Trong vụ án tranh chấp về "thừa kế tài sản và chia tài sản chung" mà HĐTP đang xem xét, không tồn tại bất kỳ "giao dịch dân sự" nào Do đó, việc viện dẫn điều này làm căn cứ pháp lý là không hợp lý.

Theo khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế ngày 30/8/1990, có sự thiếu sót khi không đề cập đến Nghị quyết số 02/1990/NQ-HĐTP ngày 19/10/1990, trong đó hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp lệnh thừa kế Cụ thể, tại điểm b Điều 10 của Nghị quyết số 02, đã quy định rõ rằng đối với những vụ thừa kế đã mở trước ngày 10-9-1990, thời hiệu khởi kiện sẽ được tính từ ngày 10-9-1990.

Sau ngày 10-9-2000, cá nhân không còn quyền khởi kiện để yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình, hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác.

Sau ngày 10-9-1993, đương sự không còn quyền khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người đã chết để lại, cũng như thanh toán các chi phí liên quan đến di sản.

HĐTP đã áp dụng Điều 623 BLDS 2015 để hồi tố quyền khởi kiện cho các trường hợp mở thừa kế trước ngày 10/09/1990, điều này dẫn đến sự bất công bằng trong xã hội.

VẤN ĐỀ 4: TÌM KIẾM TÀI LIỆU

Bạch Thị Nhã Nam trong bài viết “Những bất cập của các quy định pháp luật về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản” đăng trên Tạp chí Luật học số 10/2018, trang 17-25, đã chỉ ra những hạn chế trong các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến quyền lợi bảo hiểm tài sản Bài viết nêu rõ các vấn đề pháp lý cần được cải thiện để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người tham gia bảo hiểm, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý trong lĩnh vực này.

2 Bạch Thị Nhã Nam, “Quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản”, Tạp chí Nghề luật, Số 5/2018 - Năm thứ Mười Ba, tr.32-37.

3 Ban biên tập Tạp chí Kiểm sát, “Kết luận trao đổi về bài viết “Lừa đảo hay cướp giật tài sản”, Tạp chí Kiểm sát, số 18 năm 2017, tr.54-56.

4 Bùi Ngọc Thanh, “Hoàn thiện các chế tài để công khai, minh bạch tài sản và thu nhập”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 12 (364)/Kỳ 2, tháng 6/2018, tr.35-40.6 5

Bùi Thị Thanh Hằng và Nguyễn Anh Thư đã nghiên cứu về ảnh hưởng của một số học thuyết pháp lý đối với chế định vật quyền trong Bộ luật Dân sự 2015 Bài viết được đăng tải trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1/2017, trang 50-59 Nghiên cứu này làm rõ mối liên hệ giữa lý thuyết pháp lý và các quy định cụ thể trong bộ luật, từ đó góp phần nâng cao hiểu biết về chế định vật quyền trong bối cảnh pháp lý hiện nay.

Cao Anh Nguyên trong bài viết "Di sản dùng vào việc thờ cúng - nhìn từ góc độ thực tiễn xét xử và thi hành án (Kỳ 1)" đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 1/2018, trang 39-41, phân tích vai trò của di sản văn hóa trong hoạt động thờ cúng và những thách thức trong việc bảo vệ chúng trong bối cảnh pháp lý hiện nay Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến việc xét xử và thi hành án đối với di sản văn hóa, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong đời sống tâm linh của người dân.

Cao Anh Nguyên trong bài viết "Di sản dùng vào việc thờ cúng - nhìn từ góc độ thực tiễn xét xử và thi hành án" (Tạp chí Tòa án nhân dân số 2/2018, tr.41-42) đã phân tích vai trò của di sản văn hóa trong việc thờ cúng, đồng thời nêu rõ những thách thức trong quá trình xét xử và thi hành án liên quan đến di sản này Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về những vấn đề pháp lý và thực tiễn mà các cơ quan chức năng phải đối mặt khi bảo vệ và quản lý di sản văn hóa trong bối cảnh hiện nay.

Cao Thị Kim Trinh đã có những bình luận sâu sắc về các sai sót trong quá trình kê biên và xử lý tài sản thế chấp nhằm thi hành các bản án và quyết định trong lĩnh vực kinh doanh thương mại Bài viết này được đăng tải trên Tạp chí, cung cấp cái nhìn toàn diện về những vấn đề pháp lý liên quan đến việc thực hiện các quyết định tài chính.

Nghề luật, Số 09/2020 - Năm thứ Mười Lăm, tr.57-60.

9 Châu Thị Vân, “Căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với tài sản không xác định được chủ sở hữu”, Tạp chí Khoa học Pháp Lý, Số 1/2018, tr 33-42.

Chu Thị Thanh An trong bài viết "Quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý thu hồi nợ của tổ chức tín dụng" đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (Số 11/2019, tr.25) đã phân tích quyền thu giữ tài sản bảo đảm của tổ chức tín dụng Bài viết làm rõ quy trình và các quy định pháp lý liên quan đến việc xử lý tài sản nhằm thu hồi nợ, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi cho cả bên cho vay và bên vay trong hoạt động tín dụng.

Đặng Ngọc Dư trong bài viết của mình đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng công tác kiểm sát thi hành án dân sự, đặc biệt là trong việc thu hồi tài sản liên quan đến tham nhũng và tài sản cho nhà nước Ông cũng đề cập đến các vấn đề thi hành án có liên quan đến tổ chức tín dụng, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả công tác này Bài viết được đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 24 năm.

Đặng Phước Thông đã trình bày về việc đăng ký quyền sở hữu căn hộ chung cư theo yêu cầu và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật trong bài viết của mình trên Tạp chí Khoa học Pháp Lý.

55 http://lapphap.vn/Pages/AnPham/chitietanpham.aspx?ItemIDC

Đặng Thu Hà trong bài viết "Diện và hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới" đăng trên Tạp chí Nghề luật, số 5/2018, đã phân tích các quy định về diện và hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam, đồng thời so sánh với các quy định tại một số quốc gia khác Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự khác biệt và tương đồng trong các hệ thống pháp luật, từ đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ các quy định này trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Đinh Văn Quế đã nêu ra một số vấn đề quan trọng liên quan đến tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo quy định trong Bộ Luật Hình sự năm 2015 Bài viết đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 18 năm 2015, cung cấp cái nhìn sâu sắc về những khía cạnh pháp lý và thực tiễn của loại tội phạm này, nhấn mạnh sự cần thiết phải hiểu rõ các quy định để đảm bảo việc áp dụng luật pháp một cách chính xác và hiệu quả.

15 Đinh Văn Quế, “Phân biệt một số tội phạm có hành vi chiếm đoạt tài sản”,

Tạp chí Kiểm sát, Số 03/2021, tr.17-22.

Ngày đăng: 22/04/2022, 23:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Lớp Hình sự 46A1 - BUỔI THẢO LUẬN THỨ năm môn NHỮNG vấn đề CHUNG về LUẬT dân sự
p Hình sự 46A1 (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w