Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
sở pháp lý khi trả lời.
Căn cứ vào Điều 612, BLDS năm 2015 về Di sản thì:
“Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.
Việc xác định di sản có nhiều cách hiểu khác nhau:
Quan điểm cho rằng di sản bao gồm tài sản và nghĩa vụ tài chính của người chết, như nợ và thuế, mà người thừa kế phải gánh chịu nhằm đảm bảo công bằng xã hội và quyền lợi của chủ nợ Tuy nhiên, quan điểm này chỉ phù hợp khi tài sản và nợ của người chết không tách biệt với gia đình Điều này dẫn đến việc người thừa kế phải chịu trách nhiệm về nợ nần của tổ tiên, bất kể tài sản có đủ để thanh toán hay không Quan điểm này không phù hợp với việc xây dựng nhà nước pháp quyền, nơi mà mỗi cá nhân phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình, và vô hình trung bảo vệ tư tưởng phong kiến về "nợ truyền đời".
Quan điểm thứ hai về di sản thừa kế cho rằng di sản bao gồm tài sản và nghĩa vụ tài sản của người đã khuất, với người thừa kế chỉ phải thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi di sản mà họ nhận Quan điểm này tiến bộ hơn so với quan điểm trước, vì đã loại bỏ "Nợ truyền đời truyền kiếp" của chế độ phong kiến, nhưng vẫn xác định di sản bao gồm nghĩa vụ tài sản Tuy nhiên, quan điểm này không được nhiều nhà khoa học pháp lý ủng hộ, vì di sản thường được hiểu là tài sản của người chết để lại, và không ai muốn thừa hưởng nghĩa vụ hay công việc của người khác, kể cả khi đó là người thân.
Quan điểm thứ ba về di sản cho rằng di sản bao gồm tài sản của người chết để lại mà không bao gồm nghĩa vụ tài sản Nhiều nhà khoa học đồng ý với quan điểm này, được thể hiện trong Bộ luật Dân sự năm 2015 tại Điều 612, nêu rõ rằng di sản bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản chung với người khác Theo các Điều 659 đến 662, trước khi chia di sản, những người thừa kế cần phải thanh toán các nghĩa vụ của người chết để lại Việc thực hiện nghĩa vụ này không phải với tư cách là chủ thể của nghĩa vụ mà là từ chính tài sản của người chết.
Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao?
Trong quá trình tồn tại, di sản có thể bị thay thế bởi tài sản khác, như trong Quyết định số 88/2009/DS-GĐT ngày 27-2-2009 của Tòa án nhân dân tối cao, khi phần di sản của ông Phẳng bị giải tỏa để làm đường và được đền bù bằng đất nông nghiệp chưa chuyển đổi mục đích sử dụng Tương tự, trong Quyết định số 636/2011/DS-GĐT ngày 22-8-2011, diện tích 2.334m² đất vườn thổ cư tại ấp 5 cũng có nguồn gốc từ cha mẹ của cụ.
1 Nguyễn Xuân Quang, Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế của Đại học Luật Tp.HCM, Nxb Hồng Đức 2018, Chương IV tr.414 đến 415.
Vào năm 1995, sau khi cụ Phận qua đời, diện tích đất mà vợ chồng cụ Phận và cụ Kiờu sử dụng đã bị Nhà nước thu hồi Gia đình được bồi thường bằng 300m² đất thổ cư hoán đổi và 183.06m² đất thổ cư hỗ trợ Tương tự như các vụ việc trước, di sản này đã được thay thế bởi một di sản khác.
Di sản bị thay thế không còn thuộc về những người thừa kế, và câu hỏi đặt ra là liệu tài sản thay thế xuất hiện sau thời điểm mở thừa kế có được coi là di sản hay không Trong Quyết định số 88/2009/DS-GĐT, Tòa án dân sự Tòa án nhân dân tối cao chưa đưa ra hướng xử lý rõ ràng do đương sự không yêu cầu Tuy nhiên, Quyết định số 636/2011/DS-GĐT đã xác định rằng diện tích đất tranh chấp do Nhà nước bồi thường khi thu hồi đất của cụ Phận và cụ Kiêu cần được coi là di sản thừa kế Cụ thể, 300m² đất thổ cư hoán đổi là tài sản của cụ Phận và cụ Kiêu, trong đó 150m² đất của cụ Phận là di sản thừa kế Đối với phần đất thổ cư hỗ trợ, nếu được hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi, thì diện tích này cũng là di sản thừa kế Một quyết định năm 2013 cũng nhấn mạnh rằng tiền đền bù và đất tái định cư phải được xác định là di sản khi Nhà nước đã quy hoạch và đền bù cho đất.
Tài sản thay thế di sản thực chất là "di sản thừa kế", mặc dù chưa được quy định cụ thể trong văn bản pháp luật, nhưng vẫn được áp dụng trong trường hợp di sản được thay thế bằng tiền bồi thường hoặc tiền bảo hiểm Khi di sản bị bán, Tòa án nhân dân tối cao công nhận tiền từ việc bán là di sản Nếu Tòa án đã giao di sản cho một người không đủ điều kiện hưởng thừa kế, người nhận phải thanh toán giá trị tài sản, và giá trị này sẽ được chia như tài sản thừa kế Tương tự, khi Tòa án quyết định bán đấu giá di sản hoặc giao di sản cho người thừa kế, nếu sau đó quyết định giao di sản bị hủy, di sản sẽ được chuyển thành tiền và người nhận tiền phải chia cho các thừa kế khác.
Khi một tài sản cũ được thừa kế từ người quá cố và sau đó bị thay thế bởi một tài sản mới, tài sản mới này sẽ không được coi là di sản.
Tại thời điểm mở thừa kế, tài sản của người quá cố trở thành di sản Nếu tài sản này bị thay thế bằng một tài sản mới, tài sản mới đó không phù hợp với ý chí của người quá cố và không thuộc quyền sở hữu của họ, đặc biệt là trong trường hợp động sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản Hơn nữa, Bộ luật Dân sự không quy định về việc này Do đó, khi tài sản do người quá cố để lại bị thay thế bởi tài sản mới, thì tài sản mới không được coi là di sản.
Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
Theo Điều 612 Bộ Luật Dân sự 2015, di sản được định nghĩa là tài sản riêng của người đã khuất và phần tài sản của họ trong tài sản chung với người khác Điều này có nghĩa là để được công nhận là di sản, tài sản đó phải thuộc về người chết trong suốt thời gian họ còn sống.
Theo Khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai 2013, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất của người sử dụng Điều này có nghĩa là, khi người sử dụng đất có giấy chứng nhận, họ sẽ được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất một cách hợp pháp.
Theo Điều 168 Luật Đất đai 2013, người sử dụng đất chỉ có đầy đủ quyền và nghĩa vụ khi sở hữu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Điều này bao gồm quyền chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho, thế chấp và góp vốn Đặc biệt, để quyền sử dụng đất của người quá cố được coi là di sản thừa kế, cần phải có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp.
22 Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức -Hội Luật gia Việt Nam 2019.
Trong Bản án số 08, Toà án có coi diện tích đất tăng 85,5m 2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bán án có câu trả lời?
Trong bản án số 08, Tòa án xác định rằng diện tích đất tăng 85,5m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không được xem là di sản thừa kế Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã lập luận rằng diện tích này cần tiếp tục tạm giao cho ông Hòa, người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Toà án trong Bản án số 08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo Bản án số 08, Tòa án đã xử lý hợp lý về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông Hòa Kết quả xác minh từ UBND phường Đống Đa và các cơ quan liên quan cho thấy ông Hòa đã xây dựng nhà 3 tầng và các công trình khác trên diện tích đất này, mà ông đã quản lý và sử dụng nhiều năm mà không có tranh chấp Đất không nằm trong quy hoạch di dời và có mốc giới rõ ràng Vị trí đất của ông Hòa đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận sau khi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế Vì vậy, đây vẫn là tài sản của ông Hòa và bà Mai, nhưng các bên cần thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m 2 đất, phần di sản của Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao?
Trả lời: Ở Án lệ số 16/2017/AL, phần di sản của Phùng Văn N là 1 ngôi nhà cấp 4 cùng công trình phụ trên diện tích đất 398m 2
Ngôi nhà cấp 4 và công trình phụ trên diện tích 398m² thuộc sở hữu chung của vợ chồng ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G Do không có thỏa thuận phân chia tài sản cụ thể giữa hai người, nên tài sản này được xem là sở hữu chung hợp nhất theo quy định tại Điều 210 Bộ luật Dân sự 2015.
Sở hữu chung hợp nhất là hình thức sở hữu chung trong đó quyền sở hữu của từng chủ sở hữu không được xác định riêng biệt đối với tài sản chung.
2 Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung.” Điều 213 BLDS 2015 cũng quy định:
“1 Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia
2 Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
Ông N và bà G là vợ chồng, cùng sở hữu khối tài sản chung bao gồm một ngôi nhà cấp 4 và công trình phụ trên diện tích 398m2 Vì đây là tài sản chung hợp nhất, ông N và bà G có quyền ngang nhau Mặc dù ông N không để lại di chúc trước khi qua đời, bà G vẫn có quyền định đoạt tài sản này, do đó không thể xác định và phân chia rõ ràng.
Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K có được coi là di sản để chia không? Vì sao?
K có được coi là di sản để chia không? Vì sao?
Theo Án lệ, diện tích đất chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K không được xem là di sản, vì các con bà Phùng Thị G đều biết về việc chuyển nhượng này và không có ai phản đối Các con của bà G đã khai rằng bà bán đất để cải thiện cuộc sống cho bản thân và gia đình Ông Phùng Văn K đã nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ cơ quan nhà nước, chứng tỏ rằng các con bà G đã đồng ý cho bà chuyển nhượng 131m² đất cho ông Do đó, phần diện tích đất của ông Phùng Văn K không phải là di sản để chia.
Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K
Theo quan điểm cá nhân, tôi hoàn toàn đồng ý với hướng giải quyết trong Án lệ, khi bà Phùng Thị G đã chuyển nhượng 131m² đất cho ông Phùng Văn K vào năm 1991 Các con của bà đều biết về việc chuyển nhượng này và không ai phản đối, đồng thời họ khai rằng bà G bán đất để lo cho cuộc sống của mình và các con Ông Phùng Văn K đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chứng minh rằng việc chuyển nhượng là hợp pháp Do đó, có cơ sở xác định rằng các con bà Phùng Thị G đã đồng ý cho bà chuyển nhượng diện tích đất nêu trên.
Vì vậy, diện tích đã chuyển nhượng cho ông K không được xem là di sản để chia, điều này hoàn toàn hợp lý và hợp tình theo nhận định của Tòa án.
Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà dùng cho tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di sản để chia không? Vì sao?
Theo quan điểm cá nhân, nếu bà Phùng Thị G bán đất không phải để lo cho cuộc sống của các con mà để phục vụ cho nhu cầu cá nhân của mình, thì số tiền thu được từ việc bán đất đó không được xem là di sản để chia.
Theo Điều 33 và Điều 66 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G là vợ chồng và sở hữu tài sản chung là 398m² đất Khi chia đôi, mỗi người sẽ nhận được 199m² Theo Điều 651, điểm a, khoản 1 của Bộ luật Dân sự năm 2015, hàng thừa kế thứ nhất sẽ được chia đều và có quyền ngang nhau đối với tài sản của ông N là 199m².
Nếu bà G bán 131m² đất cho ông K mà không có sự đồng ý của các con, điều này đồng nghĩa với việc bà G đã bán một phần trong khối tài sản 199m² của vợ chồng đã chia Giao dịch này không ảnh hưởng đến phần đất còn lại của ông N, sẽ được chia cho các đồng thừa kế, vì phần đất bán cho ông K vẫn thuộc quyền định đoạt của bà G Theo nguyên tắc, nếu bà G không bán, phần đất này sẽ trở thành di sản để chia.
=> Như vậy trong trường hợp này thì số tiền mà bà G bán để lo cho cuộc sống riêng thì đó không phải là di sản để chia.
Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là bao nhiêu? Vì sao?
Khi bà Phùng Thị G qua đời, di sản của bà bao gồm 398 m² đất, trong đó có 133,5 m² đất Theo nhận định của Tòa án, mặc dù tài sản mang tên bà G, nhưng do được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, nên đây được coi là tài sản chung của bà và ông Phùng Văn N, theo Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 Do đó, bà G chỉ có quyền định đoạt phần đất trong tổng diện tích 267 m² tài sản chung của vợ chồng Khi bà G mất, phần di sản của bà chính là 133,5 m² đất nêu trên, theo Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015.
Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m2 có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?
Tòa án xác định phần di sản còn lại của bà Phùng Thị G là 43,5m² là không hợp lý, vì di sản của ông N (sau khi trừ phần đất đã bán cho ông K) là 267m², chia đều cho hàng thừa kế thứ nhất gồm bà G và 6 người con, dẫn đến phần của bà G là khoảng 19,07m² Do đó, phần di sản thực tế mà bà G để lại (sau khi trừ đi diện tích đã cho chị H1) là 133,5m² + 19,07m² - 90m².
Diện tích là 62,57m² Nội dung này không thuộc Án lệ 16, vì án lệ này chỉ tập trung vào việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất như một phần di sản thừa kế do một trong các đồng thừa kế thực hiện việc chuyển nhượng.
Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43,5m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?
Việc Tòa án quyết định “còn lại 43,5m 2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” là không thuyết phục.
Phần đất 43,5m² còn lại thuộc di sản cần được chia đều cho 06 người con thừa kế thứ nhất, bao gồm chị Phùng Thị H1 Việc bà Phùng Thị G chia di sản theo di chúc không làm ảnh hưởng đến quyền thừa kế của chị H1 Do đó, quyết định của Tòa án chỉ chia di sản cho 05 người con còn lại là không đảm bảo quyền lợi cho chị Phùng Thị H1, và điều này không liên quan đến nội dung của Án lệ số 16/2017/AL.
Án lệ số 16 xác nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế, do một trong các đồng thừa kế thực hiện và các đồng thừa kế khác đều biết và không phản đối Số tiền từ việc chuyển nhượng đã được sử dụng để hỗ trợ cuộc sống cho các đồng thừa kế, trong khi bên nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Cụ thể, bà Phùng Thị G đã chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất cho ông Phùng Văn K.
Bài viết đề cập đến án lệ số 16/2017/AL về công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế Án lệ này làm rõ quy định pháp luật liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong trường hợp thừa kế, nhấn mạnh quyền lợi của người thừa kế và tính hợp pháp của hợp đồng chuyển nhượng Việc áp dụng án lệ này sẽ giúp giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.
VẤN ĐỀ 2: QUẢN LÝ DI SẢN
* Tóm tắt bản án số 11/2020/DS-PT, ngày 10/06/2020 của Tòa án nhân tỉnh Sơn La về V/v: Tranh chấp quyền quản lý di sản thừa kế:
Bố mẹ của nguyên đơn Phạm Tiến Hiệu, ông Đ và bà T, đã để lại di sản gồm 311m² đất và một ngôi nhà gỗ 4 gian nhưng không để lại di chúc hay chỉ định ai quản lý thừa kế Khi anh Hiệu được ủy quyền sửa chữa nhà, cháu Phạm Tiến Nghĩa (bị đơn) lại được bố là anh Phạm Tiến Thiện giao cho quản lý di sản trong thời gian anh Thiện chấp hành án.
Tại bản án sơ thẩm: Xử tạm giao cho anh Hiệu quản lý tài sản của ông Đ và bà
Anh Hiệu chỉ được sửa chữa phần hư hỏng và không được tự ý phá dỡ mà chưa có sự đồng ý từ các thành viên trong gia đình Đồng thời, anh Nghĩa phải giao nhà và nghiêm cấm mọi hành vi cản trở trong quá trình này.
Tại phiên Tòa phúc thẩm, quan hệ tranh chấp được xác định là "tranh chấp quyền quản lý di sản và thừa kế", trong đó anh Hiệu được giao nhiệm vụ quản lý di sản.
Quyết định giám đốc thẩm số 147/2020/DS-GĐT, ngày 09/07/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM liên quan đến tranh chấp lối đi giữa ông Trà Văn Đạm và ông Phạm Văn Nhỏ Ông Đạm sở hữu 1.497m² đất nằm trong thửa đất của ông Phạm Văn Ngót, do ông Nhỏ quản lý Hai bên đã thỏa thuận cho ông Đạm mở lối đi qua đất của ông Nhỏ, nhưng việc này không có sự đồng ý từ gia đình ông Ngót Ông Nhỏ cho biết rằng lối đi chỉ được mở đến hết đời ông và không đồng ý việc ông Đạm mở lối đi mãi mãi.
Tại bản án dân sự sơ thẩm: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đạm, buộc bị đơn mở lối đi.
Tại bản án dân sự phúc thẩm: Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn.
Tại bản án giám đốc thẩm: Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử.
Trong Bản án số 11, Tòa án đã xác định quyền quản lý di sản của ông Đ và bà T Việc xác định này cần được xem xét tính thuyết phục, vì nó ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên liên quan và sự công bằng trong phân chia di sản.
Trong Bản án số 11/2020/DS-PT ngày 10/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn
Tòa án đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Tiến H, giao cho anh quyền quản lý di sản thừa kế của ông Phạm Tiến Đ và bà Đoàn Thị T Di sản bao gồm nhà, đất và tài sản trên đất mang tên bà Đoàn Thị T, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0010/QSDĐ/323/QĐUB bởi UBND huyện M vào ngày 02/4/2004, tọa lạc tại Tiểu khu C, thị trấn nông trường M, huyện M, tỉnh Sơn.
La (Có sơ đồ trích đo hiện trạng khu đất kèm theo).”
Tòa án xác định như vậy là hợp lý.
Anh Phạm Tiến H là người thừa kế thứ nhất của ông Đ và bà T, cả hai đã qua đời mà không để lại di chúc Theo Điều 636 BLDS 2005, từ thời điểm mở thừa kế, người thừa kế sẽ có quyền và nghĩa vụ tài sản do người chết để lại Quyền quản lý di sản thừa kế được quy định tại Điều 616 BLDS 2015, xác định rõ trách nhiệm của người quản lý tài sản thừa kế.
“1 Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra.
Trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý, người đang chiếm hữu, sử dụng và quản lý di sản sẽ tiếp tục thực hiện việc quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế chỉ định được người quản lý.
Trong quá trình giải quyết vụ án, các thành viên hàng thừa kế thứ nhất đều đồng thuận giao quyền quản lý khối di sản của ông Đ và bà T cho anh Phạm Tiến H Các thành viên trong gia đình như ông bà Hiệu, Liền, Nhi, Nhường, Hoài, Hài đều có đủ năng lực hành vi dân sự và quyết định này hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối hay ép buộc Việc giao quyền quản lý di sản cho anh Phạm Tiến H của Tòa án cấp sơ thẩm là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật và đạo đức xã hội.
2.2 Trong Bản án số 11, ông Thiện trước khi đi chấp hành án có là người quản lý di sản không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trong Bản án số 11/2020/DS-PT ngày 10/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn
La, ông Thiện trước khi đi chấp hành án là người quản lý di sản Cụ thể, trong
Theo nhận định của Tòa án, sau khi bà T qua đời vào năm 2012, ông Thiện là người sống tại nhà và đất, tiếp tục quản lý di sản của ông bà Đ T Dựa trên khoản 2 Điều 616 Bộ luật Dân sự 2015, trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý, thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản sẽ tiếp tục thực hiện việc quản lý cho đến khi người thừa kế chỉ định được người quản lý.
Trong Bản án số 11, việc Tòa án giao cho anh Hiếu (Tiến H) quyền quản lý
lý di sản có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trong Bản án số 11/2020/DS-PT ngày 10/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn
La, Tòa án giao cho anh Phạm Tiến H quyền quản lý di sản là có thuyết phục. Căn cứ vào Điều 616 BLDS 2015 về Người quản lý tài sản:
“1 Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra.
Trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý, thì người đang chiếm hữu, sử dụng và quản lý di sản sẽ tiếp tục thực hiện việc quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế chỉ định được người quản lý di sản.
Trong quá trình giải quyết vụ án, các thành viên trong hàng thừa kế thứ nhất, ngoại trừ ông Thiện, đã đồng thuận giao quyền quản lý khối di sản của ông Đ và bà T cho anh Phạm Tiến H Tất cả các anh, chị, em trong gia đình (ông bà Hiệu, Liền, Nhi, Nhường, Hoài, Hài) đều có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và quyết định này được đưa ra hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối hay ép buộc, đồng thời không vi phạm pháp luật hay đạo đức xã hội Vì vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm giao quyền quản lý di sản cho anh Phạm Tiến H là hoàn toàn hợp lý.
Mặc dù anh Phạm Tiến T là con trai trưởng và đang quản lý di sản của ông bà Đ T, anh hiện đang chấp hành án Trước khi chấp hành án, anh T đã ủy quyền cho con trai mình, Phạm Tiến N, nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 616 BLDS 2015, người quản lý di sản phải được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra Do đó, giấy ủy quyền mà anh T cấp cho Phạm Tiến N không có giá trị pháp lý và không tạo ra quyền quản lý tài sản của anh N đối với di sản của ông bà Đ T.
Vì những cơ sở trên, Tòa án quyết định giao cho anh Phạm Tiến H quyền quản lý di sản là có thuyết phục và có căn cứ.
Khi người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền tôn đạo, tu sửa lại di sản như trong Bản án số 11 không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
di sản như trong Bản án số 11 không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Theo Điều 617 BLDS năm 2015, người quản lý di sản không có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản Họ không phải là sở hữu chủ, do đó quyền định đoạt thuộc về những người thừa kế Để thực hiện các giao dịch như bán, trao đổi, tặng cho hay cầm cố, cần có sự đồng ý bằng văn bản của tất cả các thừa kế.
Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền giao lại cho người khác quản lý di sản (như trong Bản án số 11 là ông Thiện giao lại cho con trai) không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
Trả lời: Điều 618 Quyền của người quản lý di sản
Người quản lý di sản theo quy định tại Điều 616 của Bộ luật có quyền đại diện cho những người thừa kế trong các mối quan hệ với bên thứ ba liên quan đến di sản thừa kế, được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế, và có quyền yêu cầu thanh toán chi phí bảo quản di sản.
2 Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều
Theo Điều 616 của Bộ luật này, người thừa kế có quyền tiếp tục sử dụng di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc với sự đồng ý của những người thừa kế Họ cũng có quyền hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế và được thanh toán chi phí bảo quản di sản.
Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận với các thừa kế về mức thù lao, người quản lý di sản sẽ nhận được một khoản thù lao hợp lý.
Như vậy người quản lý di sản không có quyền giao lại cho người khác quản lý
Trong Quyết định số 147, Tòa án xác định người quản lý không có quyền tự thỏa thuận mở lối đi cho người khác qua di sản có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
tự thỏa thuận mở lối đi cho người khác qua di sản có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
Theo Điều 618, quyền của người quản lý di sản, tòa án đã xác định rằng người quản lý không có quyền tự ý thỏa thuận mở lối đi cho người khác qua di sản Quyết định này nhấn mạnh tính hợp pháp và trách nhiệm của người quản lý trong việc bảo vệ quyền lợi của di sản.
Người quản lý di sản có quyền đại diện cho các thừa kế trong các giao dịch với bên thứ ba liên quan đến di sản thừa kế, nhận thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế, và được thanh toán chi phí bảo quản di sản.
2 Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều
Theo Điều 616 của Bộ luật, người thừa kế có quyền tiếp tục sử dụng di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc với sự đồng ý của những người thừa kế Họ cũng được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế và có quyền yêu cầu thanh toán chi phí bảo quản di sản.
Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận về mức thù lao với những người thừa kế, người quản lý di sản sẽ được nhận một khoản thù lao hợp lý.
VẤN ĐỀ 3: THỜI HIỆU TRONG LĨNH VỰC THỪA KẾ
* Tóm tắt Án lệ số 26/2018/AL
Bà Cấn Thị N2 đã kiện cụ Nguyễn Thị L và ông Cấn Anh C nhằm yêu cầu chia tài sản chung của cụ T và chia di sản thừa kế của cụ K theo quy định pháp luật Cụ T và cụ K, là cha mẹ của nguyên đơn, đã tạo lập 612 m² đất và hai căn nhà ba gian Sau khi cụ T qua đời năm 1972, cụ K kết hôn với cụ Nguyễn Thị L và qua đời năm 2002, tài sản được quản lý bởi cụ L và ông Cấn Anh C Bản án dân sự sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng bị đơn đã kháng cáo Bản án phúc thẩm đã sửa đổi bản án sơ thẩm, chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn Bà Cấn Thị N2 đã đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đồng ý kháng nghị bản án phúc thẩm Quyết định cuối cùng đã hủy toàn bộ bản án phúc thẩm và sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết lại theo quy định pháp luật.
Cho biết các loại thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế ở Việt Nam
Theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, có 03 loại thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế:
Thời hiệu yêu cầu chia di sản cho người thừa kế là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, tính từ thời điểm mở thừa kế Đối với các trường hợp thừa kế mở trước ngày 10/9/1990, thời hiệu khởi kiện chia di sản bất động sản sẽ tuân theo quy định tại Điều 36 Pháp lệnh thừa kế 1990 và hướng dẫn trong Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao.
Thời hiệu yêu cầu xác nhận quyền thừa kế hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người thừa kế là 10 năm, bắt đầu từ thời điểm mở thừa kế.
Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản của người đã khuất là 03 năm, tính từ thời điểm mở thừa kế.
Pháp luật nước ngoài có áp đặt thời hiệu đối với yêu cầu chia di sản không?
Pháp luật nước ngoài không quy định thời hạn cho người thừa kế tiến hành chia di sản, nghĩa là họ có quyền yêu cầu chia di sản bất cứ lúc nào Cụ thể, trong pháp luật dân sự Pháp, chủ sở hữu chung không thể bị buộc phải chia tài sản nếu họ không yêu cầu trong một khoảng thời gian nhất định Điều 815 Bộ luật Dân sự Pháp nêu rõ rằng không ai có thể bị ép phải chấp nhận tình trạng di sản chưa chia và có quyền yêu cầu chia di sản bất kỳ lúc nào, trừ khi việc này bị hoãn theo bản án hoặc thỏa thuận.
Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T là năm nào? Đoạn nào của Quyết định tạo lập thành Án lệ số 26/2018/AL cho câu trả lời?
Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T là ngày công bố Pháp lệnh thừa kế 30-8-1990 (tức ngày 10-9-1990).
Theo Quyết định thành lập Án lệ số 26/2018/AL, kể từ ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực, Tòa án sẽ áp dụng quy định tại Điều
Theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế ngày 30-8-1990 và Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, thời hiệu khởi kiện chia di sản của cụ T cho các đồng thừa kế vẫn còn hiệu lực đối với trường hợp mở thừa kế vào ngày 01-01-2017.
Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao?.14 3.5 Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T với thời điểm bắt đầu từ thời điểm Pháp lệnh thừa kế năm 1990 được công bố có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao?14
Tòa án cấp phúc thẩm đã khẳng định rằng thời hiệu khởi kiện về thừa kế của cụ T đã hết, do đó không chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn về việc chia tài sản chung liên quan đến di sản của cụ T là hoàn toàn đúng theo hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.4 mục.
Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao quy định rằng Tòa án cấp phúc thẩm không đúng khi tuyên bố các đồng thừa kế, cụ L và ông C, được tiếp tục quản lý, sử dụng và sở hữu di sản của cụ T.
Việc Án lệ số 26/2018/AL, áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS cho di sản của cụ T có quy định tại khoản 1 Điều 623 BLDS 2015.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản đối với bất động sản là 30 năm, bắt đầu từ thời điểm mở thừa kế.
Án lệ 26/2018/AL áp dụng thời hiệu một cách hợp lý khi thời điểm khởi kiện là 02/11/2010, theo Điều 165 BLDS 2005, dẫn đến việc vượt qua thời hiệu khởi kiện di sản của cụ T Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi của các đương sự, Tòa đã quyết định áp dụng hiệu lực hồi tố nhằm giải quyết tranh chấp về di sản của cụ T.
Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của Bộ luật Dân sự 2015 cho di sản của cụ T, bắt đầu từ thời điểm công bố Pháp lệnh thừa kế năm 1990, đặt ra câu hỏi về cơ sở văn bản và tính thuyết phục của quy định này Việc xác định thời hiệu di sản cần dựa trên các quy định pháp lý hiện hành và sự hợp lý trong việc bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan Do đó, cần xem xét các căn cứ pháp lý và thực tiễn áp dụng để đánh giá tính hợp lý và khả năng thuyết phục của án lệ này.
Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm theo Bộ luật Dân sự 2015 cho di sản của cụ T, bắt đầu từ thời điểm công bố Pháp lệnh thừa kế năm 1990, hiện chưa có cơ sở văn bản rõ ràng.
Theo khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, tính từ thời điểm mở thừa kế Bộ luật này quy định rõ ràng rằng thời hiệu 30 năm bắt đầu từ thời điểm mở thừa kế mà không đề cập đến việc thừa kế mở trước khi ban hành Pháp lệnh thừa kế ngày 30/8/1990 Do đó, câu hỏi đặt ra là liệu thời điểm bắt đầu tính thời hiệu có phải là từ thời điểm mở thừa kế hay từ ngày công bố Pháp lệnh này.
Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của Bộ luật Dân sự 2015 cho di sản cụ T, bắt đầu từ thời điểm công bố Pháp lệnh thừa kế năm 1990, mặc dù chưa có cơ sở văn bản nhưng vẫn thuyết phục Nội dung của án lệ kết hợp giữa Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 4 Điều 36 của Pháp lệnh thừa kế 1990, xác định thời điểm tính thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế từ ngày 10/9/1990 Với quy định này, thời hiệu chia di sản thừa kế vẫn còn hiệu lực và được Tòa án kéo dài nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thừa kế.
Suy nghĩ của anh/chị về Án lệ số 26/2018/AL nêu trên
- Án lệ số 26/2018/AL tồn tại một số điểm bất hợp lý như sau:
+ Viện dẫn điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS 2015: “Thời hiệu được áp dụng theo quy định của bộ luật này.” Nhưng khoản 1 Điều 688 được áp dụng đối với
Theo Điều 116 BLDS 2015, "giao dịch dân sự" được định nghĩa là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương tạo ra, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Trong vụ án tranh chấp "thừa kế tài sản và chia tài sản chung" mà HĐTP đang xem xét, không tồn tại bất kỳ "giao dịch dân sự" nào Do đó, việc viện dẫn điều này làm căn cứ pháp lý là không hợp lý.
Theo khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế ngày 30/8/1990, cần lưu ý rằng Nghị quyết số 02/1990/NQ-HĐTP ngày 19/10/1990 cũng có vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn áp dụng các quy định của pháp lệnh này Cụ thể, tại điểm b Điều 10 Nghị quyết số 02 đã quy định rằng đối với những vụ thừa kế đã mở trước ngày 10-9-1990, thời hiệu khởi kiện sẽ được tính từ ngày 10-9-1990.
Sau ngày 10-9-2000, cá nhân không còn quyền khởi kiện để yêu cầu phân chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của bản thân hoặc phản đối quyền thừa kế của người khác.
Sau ngày 10-9-1993, cá nhân không còn quyền khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản từ di sản của người đã mất, cũng như thanh toán các chi phí liên quan đến di sản đó.
HĐTP đã áp dụng Điều 623 BLDS 2015 để hồi tố quyền khởi kiện cho các trường hợp mở thừa kế trước ngày 10/09/1990, dẫn đến sự bất công trong xã hội.
VẤN ĐỀ 4: TÌM KIẾM TÀI LIỆU
Bạch Thị Nhã Nam trong bài viết “Những bất cập của các quy định pháp luật về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản” đăng trên Tạp chí Luật học số 10/2018, đã chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật liên quan đến quyền lợi bảo hiểm trong lĩnh vực bảo hiểm tài sản Bài viết phân tích các vấn đề pháp lý hiện tại và đề xuất giải pháp nhằm cải thiện khung pháp lý, đảm bảo quyền lợi của người tham gia bảo hiểm được bảo vệ tốt hơn.
2 Bạch Thị Nhã Nam, “Quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản”, Tạp chí Nghề luật, Số 5/2018 - Năm thứ Mười Ba, tr.32-37.
3 Ban biên tập Tạp chí Kiểm sát, “Kết luận trao đổi về bài viết “Lừa đảo hay cướp giật tài sản”, Tạp chí Kiểm sát, số 18 năm 2017, tr.54-56.
4 Bùi Ngọc Thanh, “Hoàn thiện các chế tài để công khai, minh bạch tài sản và thu nhập”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 12 (364)/Kỳ 2, tháng 6/2018, tr.35-40.6 5
Bùi Thị Thanh Hằng và Nguyễn Anh Thư trong bài viết “Ảnh hưởng của một số học thuyết pháp lý đến chế định vật quyền trong Bộ luật Dân sự 2015” đã phân tích tác động của các học thuyết pháp lý đến quy định về vật quyền trong Bộ luật Dân sự Bài viết được đăng tải trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1/2017, trang 50-59, cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự tương tác giữa lý thuyết pháp lý và thực tiễn áp dụng trong lĩnh vực vật quyền.
Cao Anh Nguyên trong bài viết "Di sản dùng vào việc thờ cúng - nhìn từ góc độ thực tiễn xét xử và thi hành án (Kỳ 1)" đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 1/2018, trang 39-41, đã phân tích tầm quan trọng của di sản văn hóa trong hoạt động thờ cúng Bài viết nêu rõ những vấn đề pháp lý liên quan đến việc bảo tồn và sử dụng di sản này trong bối cảnh xét xử và thi hành án, đồng thời nhấn mạnh vai trò của di sản trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.
Cao Anh Nguyên trong bài viết "Di sản dùng vào việc thờ cúng - nhìn từ góc độ thực tiễn xét xử và thi hành án" đã phân tích các vấn đề liên quan đến việc sử dụng di sản văn hóa trong tín ngưỡng và thờ cúng Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn di sản văn hóa trong bối cảnh thực tiễn xét xử và thi hành án, đồng thời chỉ ra những thách thức mà hệ thống pháp luật hiện hành đang đối mặt Qua đó, tác giả kêu gọi sự cần thiết phải điều chỉnh các quy định pháp lý để bảo vệ tốt hơn các giá trị văn hóa truyền thống.
Cao Thị Kim Trinh đã có những bình luận sâu sắc về các sai sót trong quá trình kê biên và xử lý tài sản thế chấp nhằm thi hành bản án và quyết định trong lĩnh vực kinh doanh thương mại Bài viết xuất hiện trên tạp chí, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ quy trình pháp lý để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong việc thực hiện các quyết định liên quan đến tài sản thế chấp.
Nghề luật, Số 09/2020 - Năm thứ Mười Lăm, tr.57-60.
9 Châu Thị Vân, “Căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với tài sản không xác định được chủ sở hữu”, Tạp chí Khoa học Pháp Lý, Số 1/2018, tr 33-42.
Chu Thị Thanh An trong bài viết "Quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý thu hồi nợ của tổ chức tín dụng" đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (Số 11/2019, tr.25) đã phân tích quyền thu giữ tài sản bảo đảm của các tổ chức tín dụng trong quá trình thu hồi nợ Bài viết nêu rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi của tổ chức tín dụng thông qua các biện pháp thu hồi nợ hiệu quả, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải có cơ sở pháp lý rõ ràng để thực hiện quyền này.
Đặng Ngọc Dư đã đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát thi hành án dân sự, đặc biệt là trong việc thu hồi tài sản liên quan đến tham nhũng và tài sản cho Nhà nước Bài viết cũng nhấn mạnh vai trò của kiểm sát trong việc thi hành án có liên quan đến tổ chức tín dụng, nhằm đảm bảo tính hiệu quả và minh bạch trong quá trình này.
Đặng Phước Thông đã trình bày về quy trình đăng ký quyền sở hữu căn hộ chung cư theo yêu cầu, đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan Bài viết được đăng tải trên Tạp chí Khoa học Pháp Lý, góp phần nâng cao nhận thức và cải thiện quy định pháp lý trong lĩnh vực bất động sản.
55 http://lapphap.vn/Pages/AnPham/chitietanpham.aspx?ItemIDC
Đặng Thu Hà trong bài viết “Diện và hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới” đăng trên Tạp chí Nghề luật, số 5/2018, đã phân tích các quy định về diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam so với một số quốc gia khác Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự khác biệt và tương đồng trong các hệ thống pháp luật, từ đó làm nổi bật những vấn đề cần cải thiện trong luật thừa kế Việt Nam.
Đinh Văn Quế đã phân tích các vấn đề liên quan đến tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định trong Bộ Luật Hình sự năm 2015 Bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kiểm sát, số 18 năm 2015, cung cấp cái nhìn sâu sắc về các khía cạnh pháp lý và thực tiễn của tội danh này.
15 Đinh Văn Quế, “Phân biệt một số tội phạm có hành vi chiếm đoạt tài sản”,
Tạp chí Kiểm sát, Số 03/2021, tr.17-22.