Tớnh cấp thiết của ủề tài
Nông nghiệp đóng vai trò thiết yếu trong nền kinh tế quốc dân, cung cấp sản phẩm thiết yếu cho xã hội Trong quá trình công nghiệp hóa, nông nghiệp không chỉ cung cấp vốn, lao động và nguyên liệu mà còn là nguồn cung cấp các yếu tố đầu vào quan trọng cho ngành công nghiệp và các lĩnh vực kinh tế khác.
Trong những năm gần đây, ngành nông nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ với nhiều sản phẩm nông sản đạt thành tựu về thị phần và kim ngạch xuất khẩu như cà phê, cao su, gạo, hồ tiêu, và hạt điều Tuy nhiên, với việc Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu thông qua gia nhập WTO và TPP, yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa ngày càng cao từ thị trường trong nước và quốc tế đã đặt ra thách thức cho ngành nông nghiệp Do đó, cần phát triển theo hướng phát huy lợi thế so sánh của từng vùng để đáp ứng nhu cầu thị trường.
Huyện Đăk Mil, cách thị xã Gia Nghĩa 64 km theo quốc lộ 14 về hướng bắc, đã chú trọng đến sản xuất nông nghiệp và phát triển trong những năm qua Tuy nhiên, với lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội, huyện vẫn còn nhiều tồn tại và yếu kém, chưa khai thác tốt tiềm năng sẵn có Đời sống nông dân gặp khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao, đặc biệt là ở đồng bào dân tộc tại chỗ; cơ cấu sản xuất chưa hợp lý và chịu nhiều rủi ro, giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn thấp, trong khi chính sách phát triển nông nghiệp trên địa bàn còn nhiều hạn chế.
Để đáp ứng nhu cầu phát triển nông nghiệp huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông trong những năm tới, tác giả đã chọn đề tài "Phát triển nông nghiệp huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông" làm luận văn thạc sĩ kinh tế.
Mục tiêu nghiên cứu
Dựa trên lý luận và phân tích, bài viết đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp huyện Đắk Mil trong thời gian qua, nhằm đề xuất các giải pháp thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp tại địa phương trong thời gian tới.
ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 ðố i t ượ ng nghiên c ứ u ðối tượng nghiờn cứu là những vấn ủề lý luận và thực tiễn liờn quan ủến phỏt triển nụng nghiệp huyện ðăkMil- tỉnh ðăk Nụng
- Nội dung: ðề tài tập trung nghiờn cứu cỏc vấn ủề liờn quan ủến phỏt triển nông nghiệp theo nghĩa hẹp gồm trồng trọt và chăn nuôi
- Khụng gian: cỏc nội dung trờn ủược tập trung nghiờn cứu tại huyện ðăkMil- tỉnh ðăk Nông
- Thời gian: cỏc giải phỏp ủược ủề xuất trong luận văn cú ý nghĩa trong năm (5) năm tới.
Phương pháp nghiên cứu
ðể thực hiện mục tiờu nghiờn cứu trờn, ủề tài sử dụng cỏc phương phỏp nghiờn cứu sau ủõy:
- Phương pháp phân tích thực chứng, phương pháp phân tích chuẩn tắc;
- Phương pháp phân tích tổng hợp, khái quát hóa;
Bố cục của ủề tài
Ngoài phần mục lục, mở ủầu, danh mục tài liệu tham khảo ủề tài ủược chia làm 3 chương như sau:
- Chương 1: Một số vấn ủề lý luận về phỏt triển nụng nghiệp
- Chương 2: Thực trạng phát triển nông nghiệp huyện ðăkMil- tỉnh ðăk Nông thời gian qua
- Chương 3: Giải pháp phát triển nông nghiệp huyện ðăkMil- tỉnh ðăk Nông thời gian tới.
MỘT SỐ VẤN ðỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
1.1.1 Một số khái niệm a Nông nghi ệ p
Nông nghiệp là ngành sản xuất cơ bản của xã hội, bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp Tại Việt Nam, nông nghiệp không chỉ là nguồn thu nhập ngoại tệ từ xuất khẩu nông sản mà còn cung cấp yếu tố sản xuất lao động, vốn và thị trường tiêu thụ cho các sản phẩm và dịch vụ của ngành công nghiệp Ngoài ra, nông nghiệp còn có tác dụng giữ gìn và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường, đồng thời góp phần vào quá trình công nghiệp hóa.
Trong quá trình phát triển, nông nghiệp đã chuyển mình từ phương thức sản xuất tự cung tự cấp sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, tiến tới hình thành một nền nông nghiệp thương mại hóa với quy mô toàn cầu.
Nông nghiệp tự cung tự cấp là hình thức sản xuất mà người nông dân hoặc cộng đồng tự sản xuất để đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm, vải vóc và xây dựng nhà cửa mà không cần phụ thuộc vào thị trường Đặc điểm nổi bật của hình thức này là sản xuất gia đình chiếm ưu thế, với quyết định sản xuất hoàn toàn dựa vào nhu cầu hiện tại và dự trữ lương thực, thực phẩm cho mùa vụ Nông nghiệp tự cung tự cấp không chỉ là phương thức sinh sống của gia đình mà còn là nguồn sinh kế bền vững cho cộng đồng.
Nông nghiệp hàng hóa là hình thức sản xuất tập trung vào việc trao đổi hoặc mua bán nông sản trên thị trường nhằm mục tiêu phát triển Hình thức này xuất hiện khi có sự phân công lao động xã hội, trong đó sản phẩm nông nghiệp không chỉ cung cấp cho người sản xuất mà còn có dư thừa để trao đổi Về quy mô và phạm vi, nông nghiệp hàng hóa được xem là mức thấp trong quá trình thương mại hóa nông nghiệp.
Nông nghiệp thương mại hóa là nền nông nghiệp phát triển cao hơn và có phạm vi rộng hơn so với nông nghiệp hàng hóa, bao gồm cả lực lượng sản xuất và quy mô thị trường Sự tác động của khoa học và công nghệ, cùng với sự phát triển của giao thông vận tải, đã liên kết mọi miền và quốc gia, giúp sản xuất nông nghiệp và kinh doanh nông sản trở nên chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội phát triển Quá trình thương mại hóa nông nghiệp bao gồm việc hình thành và phát triển các hoạt động kinh doanh nông sản, liên kết các khâu từ sản xuất, thu mua, chế biến, xuất khẩu đến vận tải, nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
Trồng trọt là ngành sản xuất chủ yếu sử dụng cây trồng và ủất ủai để cung cấp lương thực, thực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp, đồng thời đáp ứng nhu cầu về giải trí và tạo cảnh quan Ngành nông học phân loại cây trồng theo nhiều tiêu chí: phương pháp canh tác với cây trồng nông học (như ngũ cốc, cây đậu, cây lấy sợi, cây lấy củ, và thức ăn gia súc) và cây trồng nghề vườn (bao gồm rau, cây ăn trái, hoa kiểng) Ngoài ra, cây trồng còn được phân loại theo ứng dụng như cây lương thực, cây cho sợi, cây dầu và cây thuốc Yêu cầu về điều kiện khí hậu cũng là một yếu tố quan trọng, chia thành cây ủới, cây ôn đới và cây nhiệt đới, cùng với thời gian sinh trưởng được phân chia thành cây hàng năm và cây lâu năm.
Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp,với ủối tượng sản xuất là cỏc loại ủộng vật nuụi nhằm cung cấp cỏc
Ngành chăn nuôi cung cấp các sản phẩm thiết yếu như thịt, trứng, và sữa, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của con người Khi xã hội phát triển, nhu cầu về sản phẩm chăn nuôi tăng nhanh hơn so với sản phẩm nông nghiệp khác Chăn nuôi không chỉ cung cấp nguyên liệu quý giá cho ngành chế biến thực phẩm và dược liệu mà còn đóng vai trò quan trọng trong xuất khẩu sản phẩm tươi sống và chế biến Mức tiêu dùng của người dân về các sản phẩm chăn nuôi ngày càng gia tăng về số lượng, chất lượng và cơ cấu Điều này dẫn đến xu hướng đầu tư xã hội cho ngành chăn nuôi cũng tăng nhanh, chuyển dịch từ sản xuất trồng trọt sang phát triển chăn nuôi, cùng với việc chuyển hướng hoạt động trồng trọt sang phát triển cây trồng làm thức ăn chăn nuôi.
Phát triển là quá trình liên tục nâng cao mức sống của con người và đảm bảo phân phối công bằng những thành quả của sự tăng trưởng trong xã hội (Raanan Weitz, 1995).
Theo từ ủiển tiếng việt: “Phỏt triển là sự lớn lờn về mặt kớch thước, ủộ rộng (số lượng) hay về mặt giá trị, tầm quan trọng (chất lượng)”
Phát triển trong sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất và dịch vụ, trong đó con người luôn nỗ lực làm biến đổi những tài nguyên thiên nhiên sẵn có để sản xuất lương thực, thực phẩm, quần áo, nhà ở và các sản phẩm khác nhằm đáp ứng nhu cầu sống.
Phát triển nông nghiệp bao gồm các biện pháp nhằm tăng sản lượng nông sản, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường Điều này được thực hiện thông qua việc khai thác hợp lý các nguồn lực trong nông nghiệp và từng bước nâng cao hiệu quả sản xuất.
1.1.2 ðặc ủiểm của sản xuất nụng nghiệp
- Sản xuất nụng nghiệp ủược tiến hành trờn ủịa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào ủiều kiện tự nhiờn nờn mang tớnh khu vực rừ rệt
- Trong nụng nghiệp, ủất ủai cú nội dung kinh tế khỏc ủú là tư liệu sản xuất chủ yếu khụng thể thay thế ủược
Đối tượng của sản xuất nông nghiệp bao gồm cây trồng và vật nuôi, cả hai đều phát triển theo quy luật sinh học nhất định, bao gồm sinh trưởng, phát triển và diệt vong.
Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ cao, với ủng là một đặc thù nổi bật Quá trình tái sản xuất kinh tế trong nông nghiệp gắn liền với quy trình sản xuất tự nhiên, nhưng thời gian hoạt động và sản xuất không hoàn toàn trùng khớp, dẫn đến tính thời vụ cao Tính thời vụ này là điều không thể xóa bỏ, và trong quá trình sản xuất, chỉ có thể tìm cách hạn chế nó.
Ngoài những ủặc ủiểm chung của SXNN, nụng nghiệp Việt Nam cũn cú những ủặc ủiểm riờng, ủú là:
- Nông nghiệp nước ta từ tình trạng lạc hậu, tiến lên xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa
Nông nghiệp nước ta hiện đang đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm mức độ phát triển còn thấp và cơ sở vật chất nghèo nàn Hệ thống hạ tầng nông thôn yếu kém, cùng với tỷ trọng lao động thuần nông chiếm phần lớn trong tổng lao động xã hội, đã ảnh hưởng đến năng suất ruộng đất và năng suất lao động chưa đạt yêu cầu.
- Nông nghiệp nước ta chuyển từ tự cung, tự cấp sang SXHH
Nền nông nghiệp Việt Nam chủ yếu là nông nghiệp nhiệt đới, với sự kết hợp giữa các yếu tố khí hậu khác nhau, đặc biệt là ở miền Bắc Nền nông nghiệp này trải rộng trên bốn vùng địa lý chính: trung du, miền núi, đồng bằng và ven biển.
1.1.3 Ý nghĩa của phát triển nông nghiệp a Phỏt tri ể n nụng nghi ệ p cú ý ngh ĩ a r ấ t l ớ n ủ ú là ủ úng gúp v ề th ị tr ườ ng
Nông nghiệp phát triển không chỉ cung cấp sản phẩm cho thị trường trong và ngoài nước mà còn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các khu vực khác nhau Sự phát triển này dẫn đến việc chuyển dịch nguồn lực như lao động và vốn từ nông nghiệp sang các lĩnh vực khác, đặc biệt là công nghiệp, nhằm giải quyết việc làm và thúc đẩy phát triển nông thôn Hơn nữa, việc phát triển nông nghiệp còn góp phần tăng trưởng nền kinh tế ổn định và bền vững.
NỘI DUNG CỦA PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
1.2.1 Gia tăng số lượng các cơ sở sản xuất nông nghiệp a S ố l ượ ng các c ơ s ở s ả n xu ấ t nông nghi ệ p
Số lượng các cơ sở sản xuất nông nghiệp là những địa điểm kết hợp các yếu tố nguồn lực, tham gia trực tiếp vào sản xuất và dịch vụ nông nghiệp Những cơ sở này được tổ chức theo nhiều hình thức, quy mô và trình độ khác nhau.
Gia tăng số lượng cơ sở sản xuất nông nghiệp (SXNN) không chỉ nâng cao quy mô và chất lượng mà còn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của thị trường Việc phát triển các cơ sở SXNN góp phần cải thiện đời sống người lao động và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Tại Việt Nam, các loại hình cơ sở SXNN cần được chú trọng bao gồm kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã và doanh nghiệp nông nghiệp.
Kinh tế nông hộ là hình thức tổ chức sản xuất cơ bản nhất, phù hợp với nền nông nghiệp quy mô nhỏ về đất đai, vốn và lao động gia đình Hình thức này giúp người nông dân gắn bó với đất đai và phát huy tính tự chủ trong sản xuất nông nghiệp, từ đó tối ưu hóa năng suất ruộng đất và lao động Khi nông nghiệp phát triển, năng lực kinh tế nông hộ và thu nhập tăng lên, khả năng tích lũy vốn cũng lớn hơn Tuy nhiên, khi nền nông nghiệp chuyển từ tự túc sang sản xuất hàng hóa, mô hình kinh tế nông hộ bộc lộ nhiều khuyết điểm như năng suất lao động thấp và chưa đáp ứng yêu cầu của các đơn hàng lớn.
Kinh tế nông nghiệp cần có các cơ sở sản xuất như kinh tế trang trại, hợp tác xã và doanh nghiệp nông nghiệp với quy mô lớn hơn để đáp ứng nhu cầu phát triển.
Kinh tế trang trại là hình thức sản xuất nông nghiệp tiên tiến, không chỉ đáp ứng nhu cầu của quá trình sản xuất cây trồng và vật nuôi mà còn khắc phục nhược điểm của kinh tế nông hộ thông qua quy mô lớn hơn về đất đai, vốn và lao động Sự phát triển của trang trại giúp nâng cao kết quả sản xuất hàng hóa và khả năng cạnh tranh, đáp ứng đơn hàng lớn và áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong nông nghiệp Số lượng trang trại sản xuất hàng hóa ngày càng tăng, với tỷ suất hàng hóa trong nông nghiệp cũng cao hơn Kinh tế trang trại được hình thành từ kinh tế nông hộ, có khả năng tích lũy vốn để phát triển Ngoài ra, nông nghiệp còn thu hút nguồn vốn từ các hộ dân cư khác, tạo điều kiện cho việc thành lập các trang trại quy mô lớn hơn Để đáp ứng yêu cầu cung ứng đầu vào và tiêu thụ sản phẩm, hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại cần mở rộng ra thị trường trong nước và quốc tế.
Theo Luật Hợp tác xã 2012, Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ, được thành lập bởi những cá nhân có nhu cầu và lợi ích chung, nhằm phát huy sức mạnh tập thể Hợp tác xã giúp các thành viên thực hiện hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ, từ đó cải thiện đời sống và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong bối cảnh thị trường hiện nay, Hợp tác xã cần đổi mới và hoạt động tích cực trong các lĩnh vực nông nghiệp và dịch vụ đầu vào.
Hợp tác xã trong nông nghiệp cần phát triển mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hóa ngày càng cao Việc hình thành các mối liên kết cung ứng đầu vào như vật tư, dịch vụ kỹ thuật, bảo hiểm và tín dụng là rất quan trọng Đồng thời, các hợp tác xã phải tăng cường vai trò trong tổ chức thu gom, bảo quản, chế biến và tiêu thụ nông sản Để phù hợp với thực tế sản xuất nông nghiệp và yêu cầu của thị trường, số lượng hợp tác xã cần phải gia tăng Ngoài ra, các xã viên hợp tác xã cũng nên được mở rộng bao gồm doanh nhân, chủ trang trại và các tổ chức kinh tế có pháp nhân.
Doanh nghiệp nông nghiệp được thành lập theo luật doanh nghiệp, hoạt động dựa trên liên kết từ khâu sản xuất, chế biến đến tiêu thụ nông sản Các doanh nghiệp này có thể thu mua nông sản hoặc cung cấp giống, kỹ thuật canh tác, chăn nuôi cho nông dân, đồng thời thu mua sản phẩm từ các nông hộ theo giá thỏa thuận Sự gia tăng số lượng và mở rộng địa bàn hoạt động trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp đã giúp doanh nghiệp nông nghiệp phát triển mạnh mẽ Những doanh nghiệp này không chỉ sản xuất kinh doanh trong các ngành hàng lớn có giá trị kinh tế cao mà còn tham gia xuất khẩu với kim ngạch và thị phần lớn, tạo dựng uy tín và thương hiệu trong và ngoài nước.
Tốc độ tăng trưởng về số lượng và giá trị của cải trong sản xuất nông nghiệp qua các năm yêu cầu phải cao hơn năm trước Sự phát triển của nông nghiệp dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng của cải, với các yếu tố nguồn lực sản xuất được sử dụng hợp lý, không gây ra lãng phí cho nền kinh tế Các tiêu chí về gia tăng các cơ sở sản xuất nông nghiệp cần được chú trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững.
- Số lượng các cơ sở sản xuất qua các năm (tổng số và từng loại)
- Tốc ủộ tăng và mức tăng của cỏc cơ sở sản xuất
1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp hợp lý
Cơ cấu sản xuất nông nghiệp là thành phần tỷ trọng và mối quan hệ giữa các ngành và tiểu ngành trong nội bộ ngành nông nghiệp
Cơ cấu sản xuất nông nghiệp hợp lý là sự phân bổ hợp lý giữa các ngành trong nông nghiệp, nhằm phát huy tối đa tiềm năng sản xuất và đáp ứng nhu cầu của thị trường và xã hội.
Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp hợp lý là quá trình điều chỉnh vai trò, vị trí và tỷ lệ các ngành, lĩnh vực trong sản xuất nông nghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế.
Cơ cấu sản xuất nông nghiệp hợp lý giúp tối ưu hóa nguồn lực hiện có, mở rộng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế Trong thực tế, nền nông nghiệp sẽ có cơ cấu sản xuất hợp lý khi chuyển dịch theo các xu hướng phát triển bền vững và thích ứng với nhu cầu thị trường.
Ngành nông nghiệp đang chuyển dịch từ mô hình tự cung tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hóa và thương mại hóa Sự chuyển đổi này thể hiện qua việc tăng tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp, đồng thời giảm tỷ trọng trong ngành trồng trọt.
- ðối với ngành trồng trọt xu hướng chuyển dịch là giảm dần diện tích cây lương thực, tăng diện tích cây ăn quả, cây rau, cây công nghiệp
Ngành chăn nuôi đang chuyển dịch theo hướng sử dụng các giống mới có năng suất và chất lượng cao, đồng thời tập trung vào các loại vật nuôi có giá trị kinh tế lớn và thị trường tiêu thụ ổn định, thay thế cho những vật nuôi có giá trị kinh tế thấp.
- Cỏc tiờu chớ ủỏnh giỏ chuyển dịch cơ cấu SXNN
+ Nhóm tiêu chí phản ánh cơ cấu kết quả sản xuất
* Giá trị sản xuất và tỷ trọng giá trị sản xuất của ngành, các bộ phận
18 trong kinh tế nông nghiệp
* Giá trị tăng thêm và tỷ trọng giá trị tăng thêm của các ngành, các bộ phận trong kinh tế nông nghiệp
+ Nhóm các tiêu chí phản ảnh hiệu quả
* Cỏc tiờu chớ trực tiếp: tăng trưởng kinh tế (GDP bỡnh quõn/ ủầu người) chung và của từng ngành trong nông nghiệp
Các tiêu chí gián tiếp bao gồm diện tích và cơ cấu đất đai, năng suất và cơ cấu các loại cây trồng và vật nuôi, cơ cấu các dạng sản phẩm, cùng với cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hóa.
NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ðẾN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
1.3.1 Nhõn tố ủiều kiện tự nhiờn ðối tượng của SXNN là sinh vật nờn cú sự gắn bú chặt chẽ với cỏc ủiều kiện tự nhiờn ðõy ủược xem là nhõn tố chớnh quyết ủịnh ủến chất lượng và ủặc ủiểm của nụng sản ủược sản xuất ra tại mỗi vựng, miền tự nhiờn của phõn cụng lao ủộng xó hội trong nụng nghiệp Cỏc tỏc ủộng của nền nụng nghiệp hàng húa chỉ thực sự cú ý nghĩa khi cỏc tỏc ủộng ủú thớch ứng với cỏc ủiều kiện tự nhiên và nhu cầu sinh trưởng phát triển các loại cây trồng a.V ị tr ị ủị a lý
Vị trí địa lý của một địa danh đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp Khu vực có điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ ảnh hưởng lớn đến việc phân bố cây trồng, vật nuôi, phương hướng sản xuất và hoạt động trao đổi thương mại.
Trong nền kinh tế thị trường, vị trí địa lý đóng vai trò quyết định trong việc giao thương hàng hóa giữa các vùng miền và xuất khẩu Điều kiện tự nhiên của đất đai là cơ sở quan trọng cho mọi quá trình sản xuất Để phát triển nông nghiệp bền vững, cần phân tích và đánh giá các tiêu chí của đất đai, bao gồm tổng diện tích, đất nông nghiệp, chất lượng đất, địa hình và độ cao Việc đánh giá mức độ thuận lợi hay khó khăn của đất đai cần gắn liền với từng loại cây trồng cụ thể và xem xét ảnh hưởng theo từng thời vụ trong năm đối với sản xuất của loại cây trồng nhất định.
Ruộng ủất đóng vai trò quan trọng trong nông nghiệp, vừa là đất trồng (ðTLð) vừa là tài nguyên lao động (TLLð) Quá trình sử dụng ruộng ủất giúp nâng cao chất lượng và tạo điều kiện thuận lợi cho việc gia tăng năng suất cây trồng Ruộng ủất trở thành tài sản sản xuất (TLSX) trong nông nghiệp khi con người áp dụng các công cụ lao động và các thuộc tính lý học, hóa học, sinh vật học để tác động lên cây trồng Sự kết hợp giữa ðTLð và TLLð làm cho ruộng ủất trở thành nguồn tài nguyên sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế Điều kiện khí hậu và thời tiết ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, với các thông số cơ bản như nhiệt độ trung bình, lượng mưa, độ ẩm không khí và thời gian chiếu sáng cần được theo dõi và phân tích để tối ưu hóa sản xuất.
30 phõn tớch, ủỏnh giỏ về mức ủộ ảnh hưởng ủến phỏt triển của từng loại cõy trồng và con vật nuôi cụ thể d Ngu ồ n n ướ c
Nước là nguồn tài nguyên thiết yếu cho nông nghiệp, bao gồm cả nước mặt và nước ngầm, cũng như khả năng chuyển nước từ nơi khác đến khu vực sản xuất.
Tóm lại, các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên được coi là cơ sở tự nhiên của phân công lao động trong nông nghiệp Sự phát triển nông nghiệp và chuyên môn hóa theo vùng ngày nay xuất phát từ sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, chủ yếu là sự khác biệt về khí hậu và nguồn nước.
1.3.2 Nhõn tố ủiều kiện xó hội
Những yếu tố điều kiện xã hội ảnh hưởng đến sản xuất và phát triển nông nghiệp bao gồm các yếu tố liên quan đến dân tộc, dân số, truyền thống và dân trí Sự đa dạng về dân tộc và văn hóa góp phần hình thành các phương thức sản xuất nông nghiệp khác nhau, trong khi dân số và trình độ dân trí quyết định khả năng tiếp nhận và áp dụng các kỹ thuật canh tác mới.
Dân tộc là cộng đồng những người có chung lịch sử, ngôn ngữ, lãnh thổ và văn hóa, bao gồm cả các giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra Mỗi dân tộc sinh sống tại những vùng khác nhau sẽ phát triển nền văn minh nông nghiệp riêng, và trong cùng một khu vực, các dân tộc khác nhau cũng sẽ có trình độ và tập quán sản xuất nông nghiệp khác biệt.
Trong nghiên cứu động lực học dân số, các yếu tố như kích cỡ dân số, độ tuổi, cấu trúc giới tính, tỷ lệ tăng dân số và sự phát triển dân số đều có mối liên hệ chặt chẽ với điều kiện kinh tế - xã hội Những yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững mà còn quyết định đến chất lượng cuộc sống của cộng đồng.
31 hội sẽ cú ảnh hưởng ủến chất lượng của nguồn nhõn lực
Nguồn nhân lực trong nông nghiệp bao gồm tổng thể sức lao động tham gia vào quá trình sản xuất, cả về số lượng và chất lượng Sự gia tăng nhanh chóng về số lượng lao động, cùng với trình độ học vấn và tay nghề cao, sẽ có tác động tích cực đến sự phát triển nông nghiệp Điều này giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường và hướng tới sự đa dạng hóa sản phẩm.
Truyền thống đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, với những truyền thống tốt đẹp góp phần tích cực vào sự phát triển sản xuất và xây dựng xã hội mới Trong lĩnh vực nông nghiệp, nếu truyền thống sản xuất lạc hậu sẽ cản trở sự phát triển, gây khó khăn trong việc áp dụng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất.
Trình độ dân trí có ảnh hưởng lớn đến chất lượng nguồn nhân lực trong ngành nông nghiệp Lao động nông nghiệp ở nông thôn thường có trình độ dân trí thấp hơn so với các ngành khác, dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng công nghệ và kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp Khi trình độ dân trí được nâng cao, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thay đổi tập quán sản xuất lạc hậu, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp.
1.3.3 Nhõn tố ủiều kiện kinh tế
Trong nông nghiệp, các yếu tố kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tăng trưởng Tình trạng nền kinh tế và thị trường đầu vào, cùng với thị trường tiêu thụ nông sản, đều ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành này Chính sách về nông nghiệp và phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn cũng là những yếu tố quyết định cho sự tiến bộ trong lĩnh vực nông nghiệp.
Mỗi nền kinh tế đều trải qua chu kỳ phát triển, trong đó mỗi giai đoạn có sự biến đổi nhất định về tốc độ tăng trưởng và cơ cấu kinh tế Sự thay đổi này là điều tất yếu, phản ánh những xu hướng và thách thức mà nền kinh tế phải đối mặt.
32 thay đổi sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu sản xuất của các ngành, đặc biệt là trong nông nghiệp Quá trình tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế hiện tại cũng tác động đến triển vọng phát triển các ngành trong tương lai, do đó, phát triển nông nghiệp trong tương lai sẽ chịu ảnh hưởng từ quá trình này.
Trong nụng nghiệp, thị trường ủảm bảo cho quỏ trỡnh PTNN là thị trường cỏc yếu tố ủầu vào và thị trường tiờu thụ nụng sản
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN ðĂK MIL, TỈNH ðĂK NÔNG THỜI GIAN QUA
ðặc ủiểm tự nhiờn
Huyện Đăk Mil nằm ở tọa độ 12°31'8"B - 107°42'24"Đ, thuộc phía tây bắc tỉnh Đăk Nông, với diện tích tự nhiên 682,99 km², cách thị xã Gia Nghĩa 60 km qua quốc lộ 14 Huyện có 10 đơn vị hành chính, bao gồm 1 thị trấn (Đăk Mil) và 9 xã: Đăk Lao, Đăk R’la, Đăk Găn, Đức Mạnh, Đăk N’Drót, Long Sơn, Đăk Săk, Thuận An và Đức Minh Đăk Mil có cửa khẩu Đăk Per thông thương với Campuchia, nằm trên trục quốc lộ 14, cùng với quốc lộ 14C, đóng vai trò quan trọng trong an ninh quốc phòng và giao lưu kinh tế khu vực Tây Nguyên.
Đăk Mil, với mã số 683 và ðT 682, có khả năng kết nối với các huyện Cư Jút, Đăk Song, Tuy Đức, và Krông Nô thuộc tỉnh Đăk Nông thông qua các tuyến đường này Địa hình Đăk Mil có độ cao trung bình khoảng 500m so với mực nước biển, trong đó khu vực phía bắc huyện dao động từ 400 - 600m và phía nam từ 700 - 900m Phần lớn địa hình nơi đây có dạng đồi lượn sóng nối liền, bị chia cắt bởi nhiều suối nhỏ và các hợp thủy, xen kẽ là những thung lũng nhỏ, bằng phẳng và thấp.
Huyện có địa hình dốc lượn nhẹ với độ dốc từ 0-15 độ, chủ yếu phân bố ở phía đông và khu vực trung tâm, chiếm khoảng 74,6% diện tích tự nhiên Khu vực này là nơi lý tưởng cho việc trồng cây công nghiệp như cà phê và cây ăn quả dài ngày.
(sầu riêng, bơ) chủ yếu của huyện
Huyện Đắk Mil có dạng địa hình dốc chia cắt mạnh với độ dốc lớn hơn 15 độ, phân bố chủ yếu ở phía Tây Bắc và Tây Nam, chiếm khoảng 25,4% diện tích tự nhiên Khu vực này thích hợp cho việc trồng các loại cây ăn quả lâu năm như xoài, mít, sầu riêng, cũng như các cây công nghiệp như điều, ca cao, cao su và hồ tiêu Khí hậu Đắk Mil đặc trưng bởi khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm, với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, chiếm hơn 90% lượng mưa cả năm, và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau với lượng mưa không đáng kể Nhiệt độ trung bình năm là 22,3°C, độ ẩm trung bình năm đạt 85%, tổng tích ôn là 7.200°C, và lượng mưa bình quân là 2.513 mm Một trong những thách thức lớn về khí hậu tại huyện là sự thiếu hụt lượng mưa trong năm và sự biến động lớn về biên độ nhiệt ngày đêm và theo mùa, do đó, việc cấp nước, giữ nước và bố trí mùa vụ cây trồng là yếu tố quyết định đến sản xuất và sinh hoạt.
Năm 2014, huyện có tổng diện tích tự nhiên 68.299 ha, được chia thành 9 xã và 1 thị trấn Diện tích đất giữa các đơn vị hành chính không đồng đều, với xã Đăk Lao chiếm 25.376 ha, xã Đăk Rla 9.280 ha, và Đăk Gằn 7.656 ha Trong khi đó, thị trấn Đăk Mil chỉ có 503 ha, và các xã Long Sơn, Đăk Săk, và Đức Minh có diện tích hơn 3.000 ha, như được thể hiện trong Bảng 2.1.
B ả ng 2.1 Di ệ n tớch ủấ t huy ệ n ðă k Mil phõn theo ủị a ủơ n v ị hành chính ðơn vị tính: ha
TT ðơn vị hành chính Tổng số ðất
SXNN ðất lâm nghiệp ðất chuyên dùng ðất ở ðất mặt nước, chưa sử dụng…
10 Xã ðức Minh 3.317 2.658 51 207 123 278 Tổng số 68.299 42.415 20.469 2.024 639 2.752
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện ðăk Mil năm 2014)
Theo Bảng 2.1, diện tích đất sản xuất nông nghiệp (SXNN) có sự chênh lệch lớn giữa các xã, với xã Đăk Rla có diện tích lớn nhất 8.750 ha, tiếp theo là xã Đăk Gằn 6.958 ha và xã Thuận An 5.165 ha Tuy nhiên, do địa hình chia cắt và độ dốc lớn, việc đưa các phương tiện cơ giới vào sản xuất gặp nhiều khó khăn Xã Đăk Lao, mặc dù có diện tích tự nhiên lớn (25.376 ha), nhưng diện tích đất SXNN chỉ đạt 4.106 ha, chiếm 16,18%, trong khi diện tích đất rừng lên tới 20.172 ha, chiếm 79,49%, chủ yếu là rừng tự nhiên và rừng phòng hộ Bên cạnh đó, diện tích đất chưa sử dụng tập trung chủ yếu tại hai xã biên giới Đăk Lao (737 ha) và xã Thuận An (546 ha), trong khi xã Đăk Gằn có 428 ha đất chưa sử dụng, chủ yếu là đất đồi núi khô cằn.
Tình hình sử dụng đất huyện Đắk Mil đến năm 2014 cho thấy tổng diện tích đất tự nhiên là 68.299 ha, chiếm 10,48% tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Đắk Nông (651.561 ha) Trong đó, diện tích đất nông nghiệp đạt 62.918 ha, tương đương 92,12% diện tích đất tự nhiên, vượt xa tỷ lệ đất nông nghiệp của tỉnh Đắk Nông chỉ 47% Điều này khẳng định diện tích đất nông nghiệp là thế mạnh trong nông nghiệp của huyện Đắk Mil, như được minh chứng trong Bảng 2.2.
B ả ng 2.2 Tỡnh hỡnh s ử d ụ ng ủấ t huy ệ n ðă k Mil n ă m 2014
STT Chỉ tiêu Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
1 Tổng diện tớch ủất tự nhiờn 68.299 100,00
2.1 ðất sản xuất nông nghiệp 42.415 67,41
2.1.1 ðất trồng cây hàng năm 16.168 38,12
2.1.2 ðất trồng cây lâu năm 26.247 61,88
2.3 ðất nuôi trồng thủy sản 34 0,06
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện ðăk Mil năm 2014)
Theo bảng 2.2, tổng diện tích sản xuất nông nghiệp (bao gồm sản xuất nông nghiệp, sản xuất lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản) toàn huyện là 62.918 ha, chiếm 92,12% diện tích tự nhiên Trong đó, diện tích sản xuất nông nghiệp là 42.415 ha, tương đương 67,41% tổng diện tích nông nghiệp Cụ thể, diện tích trồng cây hàng năm là 16.168 ha, chiếm 38,12%, trong khi diện tích trồng cây lâu năm là 26.247 ha.
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp chiếm 61,88%, trong đó cây trồng chủ lực là các loại cây lâu năm Đất lâm nghiệp có diện tích 20.469 ha, chiếm 32,53% tổng diện tích đất nông nghiệp, chủ yếu là rừng tự nhiên Diện tích rừng cần được quản lý và bảo vệ nhằm đảm bảo môi trường khí hậu và nguồn tài nguyên nước tại huyện Bên cạnh đó, diện tích đất phi nông nghiệp là 4.308 ha, và đất chưa sử dụng là 1.073 ha.
Kết quả điều tra của Phòng viện điều tra quy hoạch và thiết kế - Bộ Nông nghiệp cho thấy Đăk Mil là huyện có diện tích đất đỏ bazan phong phú và màu mỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các loại cây công nghiệp và cây ăn trái dài ngày nhiệt đới có giá trị cao, như được thể hiện tại Bảng 2.3.
B ả ng 2.3 T ổ ng h ợ p cỏc nhúm ủấ t huy ệ n ðă k Mil n ă m 2014
STT Chỉ tiêu Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Phòng Nông nghiệp huyện ðăk Mil năm 2014)
Diện tích nhúm ủất nõu ủỏ tại huyện Đắk Mil đạt 51.637 ha, chiếm hơn 75,6% diện tích ủất tự nhiên, phát triển trên nền đất bazan màu mỡ với tầng phong hóa dày, tơi xốp và nhiều mùn Địa hình chủ yếu là dốc nhẹ (từ 0 - 15 độ), tạo điều kiện thuận lợi cho việc trồng các loại cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao như cà phê, ca cao, cao su và các loại cây ăn trái Đây chính là thế mạnh nổi bật của huyện Đắk Mil trong phát triển nông nghiệp.
39 nhiờn do diện tớch cỏc thửa ủất của cỏc cơ sở sản xuất nhỏ nờn việc ỏp dụng cơ giới trong sản xuất chưa phát huy tốt hiệu quả
Nhúm ủất xỏm có diện tích 2.085 ha, chiếm 3,05% tổng diện tích tự nhiên, chủ yếu phân bố ở khu vực phía bắc huyện Đất ở đây nghèo dinh dưỡng, dễ bị xói mòn và rửa trụi Hiện tại, một số diện tích đã được người dân cải tạo để trồng cây ăn quả như xoài, mận, cũng như cây công nghiệp như điều và cao su.
Nhúm ủất xỏm bạc màu chỉ chiếm 0,03% diện tích tự nhiên với khoảng 19 ha, có đặc điểm là ủất nghốo dinh dưỡng và tầng ủất mỏng không đều Khu vực này chủ yếu được sử dụng để trồng các loại cỏ phục vụ cho chăn nuôi.
Nhúm ủất ủen có diện tích 1.701 ha, phân bố rõ ràng tại khu vực phía đông bắc của huyện Đất nghèo chất dinh dưỡng, hạn chế vào mùa nắng, chủ yếu được canh tác vào mùa mưa với các loại cây trồng ngắn ngày như bắp và đậu.
Nhúm ủất ủỏ bọt có diện tích 6.217 ha, chiếm 9,1% diện tích tự nhiên, hình thành trên ủỏ bọt bazan với tầng ủất mỏng và nhiều ủỏ lộ ủầu Khu vực này chủ yếu phân bố ở phía ủụng nam của huyện, nơi cây trồng chủ yếu là các loại cây ngắn ngày như bắp và ủậu.
ðặc ủiểm xó hội
Huyện Đăk Mil hiện có 19 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm 80.032 người, tương đương 81% dân số Dân tộc thiểu số tại chỗ là người M’Nông với 8.892 người, chiếm 9%, và các dân tộc thiểu số khác như Tày, Nựng, H’Mông có tổng cộng 9.881 người, chiếm 10% Sự chiếm ưu thế của dân tộc Kinh là lợi thế cho huyện, tạo điều kiện cho việc phát triển nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu trồng các loại cây có giá trị kinh tế, đặc biệt là cây công nghiệp và cây ăn trái dài ngày, đòi hỏi kỹ thuật cao Việc tập huấn kiến thức kỹ thuật và thay đổi giống cây mới có năng suất và chất lượng cao sẽ tạo thuận lợi cho sự phát triển này.
Năm 2014, huyện Đăk Mil có dân số trung bình là 98.805 người, chiếm 19,35% tổng dân số tỉnh Đắk Nông, với mật độ dân số đạt 144,67 người/km², cao hơn mức trung bình của tỉnh là 78,39 người/km² Trong đó, dân số thành thị tại thị trấn Đăk Mil là 10.924 người, còn lại 87.881 người sinh sống tại 9 xã nông thôn, như được thể hiện trong Bảng 2.4.
B ả ng 2.4 Di ệ n tớch, dõn s ố và m ậ t ủộ dõn s ố huy ệ n ðă k Mil n ă m
STT ðơn vị hành chính Diện tích
Dân số trung bình (người)
Mật ủộ dõn số (người/km 2 )
(Nguồn: Phòng Nông nghiệp huyện ðăk Mil năm 2014)
Theo Bảng 2.4, dân cư tại thị trấn Đắk Mil có mật độ 2.167,46 người/km², cho thấy sự tập trung đông đúc, trong khi các xã Đắk Lao lại có mật độ dân số thưa thớt hơn.
Mật độ dân số trung bình của huyện là 30 người/km², trong khi xã Long Sơn có mật độ 56 người/km² Một số xã nông thôn có mật độ dân số cao hơn mức trung bình của huyện, như xã Đức Minh với 438,11 người/km², xã Đăk Săk 426,47 người/km², xã Đức Mạnh 287,96 người/km² và xã Thuận An 180,93 người/km² Các xã này chủ yếu là nơi cư trú của đồng bào dân tộc Kinh trước năm 1954, trong khi dân tộc thiểu số M’Nông chỉ có 1.253 người sinh sống tại 2 bon thuộc xã Thuận An.
Bài viết này phân tích tình hình dân số huyện Đắk Mil theo các khu vực thành thị và nông thôn, đồng thời phân chia theo giới tính trong giai đoạn từ 2010 đến 2014, như thể hiện trong Bảng 2.5.
B ả ng 2.5 Tình hình dân s ố huy ệ n ðă k Mil th ờ i gian qua
1 Dân số (người) 91.856 93.177 95.246 97.268 98.805 Dân số thành thị 10.459 10.348 10.594 10.810 10.924 Dân số nông thôn 81.397 82.829 84.652 86.458 87.881
(người) 91.856 93.177 95.246 97.268 98.805 Dân số trung bình nam 47.450 48.042 49.155 50.159 51.041 Dân số trung bình nữ 44.406 45.135 46.091 47.109 47.764
3 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên (%) 18,62 18,39 17,08 17,27 17,10
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện ðăk Mil 2014)
Giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014, dân số thành thị tăng nhẹ, tập trung chủ yếu tại thị trấn Đăk Mil, chiếm 11% tổng dân số huyện, trong khi dân số nông thôn chiếm 89% Về giới tính, tỷ lệ nam giới chiếm 52% và nữ giới chiếm 48% trong tổng dân số huyện Tuy nhiên, vấn đề cần chú ý là tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của huyện có xu hướng giảm, từ 18,62% ở đầu kỳ xuống còn 17,10% ở cuối kỳ.
Dân số huyện Đắk Mil chủ yếu tập trung tại khu vực nông thôn, nếu được đào tạo tốt sẽ trở thành nguồn cung cấp lao động chất lượng cao, phục vụ cho sự phát triển nông nghiệp của huyện.
Trên địa bàn huyện, có 12 người lao động có trình độ thạc sĩ, 356 người có trình độ đại học, cùng với nhiều lao động có trình độ cao đẳng và trung cấp.
178 người Cán bộ quản lý có chuyên môn về nông nghiệp ở cấp huyện trình ủộ ủại học chiếm 61%, cấp xó chiếm 25%.[21]
Giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014, lực lượng lao động huyện Đắk Mil đã tăng lên đáng kể, chiếm 56% dân số Trong đó, 85% tổng số lao động đang làm việc, và lao động trong lĩnh vực nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản) đạt 35.810 người, chiếm 64,71% tổng số lao động đang làm việc.
B ả ng 2.6 Tỡnh hỡnh lao ủộ ng huy ệ n ðă k Mil th ờ i gian qua
1 Lao ủộng (người) 51.408 52.804 53.980 54.470 55.326 1.1 Lao ủộng ủang làm việc 43.883 44.982 45.863 46.169 46.923
Lao ủộng dịch vụ 7.870 8.221 9.273 9.475 9.986 1.2 Lao ủộng ủang ủi học 4.042 4.254 4.532 4.629 4.687
1.3 Lao ủộng làm nội trợ 1.316 1.343 1.375 1.409 1.440
1.4 Lao ủộng khụng làm việc 1.435 1.480 1.454 1.478 1.502
1.5 Lao ủộng khụng cú việc làm 732 745 756 785 774
2 Lao ủộng NLTS ủược ủào tạo
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện ðăk Mil 2014 và phòng Nông nghiệp huyện)
Theo Bảng 2.6, vào năm 2014, nguồn lao động của huyện đã tăng 3.918 người, từ 51.408 người năm 2010 lên 55.326 người Số lao động không làm việc cũng có xu hướng tăng qua các năm, cụ thể năm 2010 là 1.435 người và đến năm 2014 là 1.502 người, chiếm tỷ lệ giao động hàng năm.
Tỷ lệ thất nghiệp tại huyện hiện đạt 2,69% đến 2,80%, trong khi số lao động không có việc làm vẫn cao với 774 người, chiếm 0,01% tổng số lao động Đây là hai vấn đề quan trọng cần giải quyết trong việc phân bổ và sử dụng lao động tại địa phương Thêm vào đó, số lao động được đào tạo hàng năm có tăng nhưng vẫn ở mức thấp; năm 2014, chỉ có 6.312 lao động được đào tạo, chiếm 17,63% trong tổng số lao động có khả năng lao động.
Lực lượng lao động của huyện chiếm 56% dân số, chủ yếu tập trung vào ngành nông nghiệp Nếu được đào tạo tốt, đây sẽ là lợi thế lớn cho huyện trong việc phát triển nông nghiệp và cây công nghiệp có giá trị kinh tế.
Dân tộc Kinh chiếm 81% dân số huyện, sống chủ yếu tại trung tâm huyện và các xã, với truyền thống canh tác cây công nghiệp như cà phê, cao su và cây ăn trái như sầu riêng, bơ Họ đã tích lũy nhiều kinh nghiệm trong canh tác các loại cây này từ thời Pháp thuộc, tạo lợi thế cho việc áp dụng kỹ thuật canh tác tiên tiến và phát triển ngành nông nghiệp công nghệ cao trong tương lai Trong khi đó, đồng bào dân tộc thiểu số sống xen kẽ với dân tộc Kinh vẫn duy trì tập quán du canh du cư, học tập trồng cây công nghiệp và cây lương thực, nhưng còn gặp khó khăn về kỹ thuật canh tác và thiếu vốn đầu tư cho vườn cây, dẫn đến hiệu quả kinh tế chưa cao.
Năm 2014, tại huyện cú 57 trường và cơ sở giỏo dục, ủào tạo, trong ủú: Giáo dục mầm non có 17 trường; tiểu học có 23 trường; trung học cơ sở có 13
Trong khu vực, có 46 trường học, bao gồm 04 trường trung học phổ thông và 01 trung tâm giáo dục thường xuyên Cơ sở vật chất của các trường lớp được chú trọng đầu tư, với 100% xã và thị trấn có trường học xây dựng kiên cố Tỷ lệ phòng học kiên cố đạt trên 85%, đảm bảo môi trường học tập tốt cho học sinh.
Huyện ủó đã hoàn thành công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở, với 42 trường đạt chuẩn quốc gia Đồng thời, huyện cũng đang nâng cao năng lực sản xuất nông nghiệp thông qua việc áp dụng các kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất thực phẩm.
ðặc ủiểm kinh tế
a T ă ng tr ưở ng kinh t ế
Năm 2014, tổng giá trị sản xuất đạt 4.762.261 triệu đồng, trong đó khu vực nông lâm thủy sản chiếm 4.065.161 triệu đồng, công nghiệp và xây dựng đạt 377.400 triệu đồng, và thương mại, dịch vụ là 319.700 triệu đồng Sự tăng trưởng nhanh chóng của giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện được minh chứng qua Bảng 2.7.
B ả ng 2.7 Giá tr ị s ả n xu ấ t huy ệ n ðă k Mil th ờ i gian qua (theo giá hiện hành) ðơn vị tớnh: Triệu ủồng
1 Nông, lâm và thủy sản 2.004.779 2.666.895 3.520.817 3.582.741 4.065.161
3 Thương mại, dịch vụ 165.572 217.326 263.901 294.000 319.700 Tổng 2.297.403 3.039.451 3.952.968 4.214.741 4.762.261
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện ðăk Mil 2014 và phòng Nông nghiệp huyện)
Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của huyện Bình Quới giai đoạn 2010-2014 đạt 20,49%/năm, trong đó khu vực nông, lâm thủy sản tăng 20,07%/năm, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 35,78%/năm, và dịch vụ, thương mại tăng 18,21%/năm Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng trong năm 2013-2012 không đáng kể do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế và dịch bệnh, hạn chế sự phát triển của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản Mặc dù tốc độ tăng trưởng của khu vực nông, lâm thủy sản thấp hơn so với ngành công nghiệp và xây dựng, nhưng giá trị sản xuất lớn của nó đã đóng góp vào sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế toàn huyện.
Năm 2014, cơ cấu giá trị sản xuất của nông, lâm và thủy sản chiếm 85,36%, trong khi giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng chỉ đạt 7,92%, và thương mại, dịch vụ chiếm 6,72% trong tổng giá trị sản xuất.
Từ năm 2010 đến năm 2014, cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp có xu hướng giảm, trong khi giá trị sản xuất của ngành công nghiệp và xây dựng lại tăng dần Mặc dù dịch vụ thương mại cũng có xu hướng giảm, nhưng mức độ giảm không đáng kể, như thể hiện trong Bảng 2.8.
B ả ng 2.8 C ơ c ấ u giá tr ị s ả n xu ấ t huy ệ n ðă k Mil th ờ i gian qua
(theo giá hiện hành) ðơn vị tính: %
STT Các chỉ tiêu Năm
1 Nông, lâm và thủy sản 87,26 87,74 89,07 85,01 85,36
3 Thương mại, dịch vụ 7,21 7,15 6,67 6,97 6,72 Tổng GTSX 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện ðăk Mil 2014 và phòng Nông nghiệp huyện)
Cụ thể, nông lâm và thủy sản giảm từ 87,26% xuống còn 85,36%; công nghiệp, xây dựng tăng từ 5,53% lên 7,92%; dịch vụ thương mại từ 7,21% giảm xuống cũn 6,71% ủến năm 2014
Cơ cấu kinh tế huyện Đăk Mil trong những năm gần đây đã có sự chuyển dịch tích cực, với tỷ trọng nông, lâm nghiệp giảm và tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ tăng nhẹ Tuy nhiên, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn chiếm tỷ lệ cao, cho thấy nền kinh tế huyện vẫn phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp Thị trường các yếu tố đầu vào và tiêu thụ nông sản cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế địa phương.
Thị trường đầu vào tại Đăk Mil chủ yếu tập trung vào việc mua sắm các loại máy móc, vật tư, phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng và vật nuôi, với hoạt động diễn ra tại thị trấn Đăk Mil và các xã có giao thông thuận lợi Hiện nay, các cửa hàng ở trung huyện hoạt động như đại lý cấp 1 cho các nhà phân phối, nhờ vào giá cả hợp lý và số lượng hàng hóa ổn định Tuy nhiên, tại các trung tâm xã, việc mua bán hàng hóa và vật tư thường phải qua khâu trung gian, dẫn đến giá cả cao và thiếu ổn định, không đáp ứng kịp thời cho sản xuất nông nghiệp.
Hiện tại, các doanh nghiệp thu mua nông sản tại huyện Khỏ Phong Phỳ chủ yếu thu mua đúng mùa vụ và theo giá thị trường, mặc dù tỷ suất nông sản hàng hóa còn thấp Nông sản bán ra là nguồn thu chính cho nông hộ Tuy nhiên, thị trường tiêu thụ sản phẩm từ chăn nuôi gia súc và thịt gia súc còn nhỏ lẻ, do sản lượng thấp, thiếu ổn định và chưa có uy tín cũng như thương hiệu, dẫn đến giá bán cao và cạnh tranh khốc liệt Riêng nuôi heo và gà công nghiệp đã ký kết hợp đồng tiêu thụ ổn định Quá trình tiêu thụ nông sản vẫn gặp nhiều rủi ro về giá, trong khi các chính sách bảo trợ thị trường chưa được triển khai tại địa bàn.
Thủy lợi tại huyện trong năm 2014 có 45 hồ chứa lớn với tổng dung tích hơn 650 triệu m³ và hàng ngàn ao hồ nhỏ phân bố đều khắp Đặc biệt, khu vực này gặp phải tình trạng khô hạn kéo dài trong 4 tháng, bắt đầu từ đầu tháng.
Trong vòng 12 năm qua, nhiều hồ chứa nước đã không đủ lượng nước tưới cho mùa khô, đặc biệt là trong các công trình hồ chứa có dung tích từ 1,5 triệu m³ trở lên Điều này đã ảnh hưởng đến khả năng cung cấp nước tưới cho huyện, như được thể hiện trong Bảng 2.9.
B ả ng 2.9 Các công trình th ủ y l ợ i thi ế t y ế u huy ệ n ðă k Mil n ă m 2014
STT Các chỉ tiêu Dung tích
1 Hồ, ủập ủảm bảo nước tưới ẵ mùa khô ðập ðăk Ken 1,5 Xã ðăk Lao
Hồ 35 2,0 Xã ðăk Lao ðập 40 2,1 Xã ðăk Lao ðập ðăk Sai 1,7 Xã ðăk Lao
Hồ ðăk Láp 2,0 Xã ðăk Gằn ðập Nông trường Thuận An 2,2 Xã Thuận An
Hồ Bon ðăk Rla 1,8 Xã ðăk N’drot
2 Hồ, ủập ủảm bảo nước tưới
Hồ Tây 3,9 nằm tại Thị Trấn Đăk Mil, trong khi Đập Đô Ry 1 có chiều cao 3,0 tại Xã Đăk Rla Đập Đô Ry 2 cao 3,2 cũng thuộc Xã Đăk Rla Đập Bắc Sơn 1 có chiều cao 3,1 và nằm ở Xã Đăk Gằn, trong khi Đập Thác Hôn cao 3,3 tọa lạc tại Xã Đức Mạnh.
Hồ ðội 1 3,2 Xã ðăk Săk
Hồ ðăk Săk 4,0 Xã ðức Minh
Hồ Jul Jul 3,5 Xã ðức Minh ðập ðăk Gon thượng 2,6 Xã Thuận An
Hồ Yor lôm 2,5 Xã Thuận An
(Nguồn: phòng Nông nghiệp huyện ðăk Mil 2014)
Bảng 2.9 chỉ ra rằng các hồ chứa thiết yếu có dung tích từ 1,5 triệu m³ đến 2,2 triệu m³ thường ở mức cạn hoặc mực nước chết trong mùa khô, phục vụ cho 7 cụm trình và 11 cụm trình đảm bảo cung cấp nước tưới Nếu xem xét toàn huyện, có thể chia thành 2 nhóm cụ thể.
Có 23 hồ, đập đảm bảo tưới tiêu trong mùa khô, chủ yếu là các hồ, đập tích trữ nước trong mùa mưa với dung tích chứa nhỏ hơn 2,2 triệu m³ Những công trình này tập trung tại các xã phía tây bắc huyện như xã Đăk Gằn, xã Đăk N’drot, xã Đăk La và xã Đăk Lao ở phía tây nam huyện.
Trên 2,5 triệu m³ nước được lưu trữ tại 22 công trình hồ, đập, đảm bảo cung cấp đủ nước tưới cho toàn bộ mùa khô Các công trình này chủ yếu tập trung tại trung tâm thị trấn và các xã lân cận, bao gồm xã Đức Mạnh, Đức Minh ở phía đông bắc và xã Đắk Săk, Long Sơn ở phía đông nam.
Hệ thống kênh mương dài 54 km tại khu vực phía nam huyện phục vụ tưới cho 9.500 ha cây trồng Tuy nhiên, việc xây dựng và nâng cấp hồ đập cùng với lắp đặt trạm bơm chưa được đồng bộ, dẫn đến chỉ khoảng 68% diện tích cây trồng có nhu cầu tưới nước được đáp ứng.
Huyện Đắk Mil có hệ thống giao thông đường bộ thuận lợi, với Quốc lộ 14 chạy dọc theo hướng bắc-nam và Quốc lộ 14C theo hướng tây-tây bắc Các tuyến tỉnh lộ ĐT 682 và ĐT 683 đã được nhựa hóa 100% Ngoài ra, các tuyến đường liên thôn, bon, tổ dân phố cũng đã được nhựa hóa, với tổng chiều dài 79 km, tỷ lệ đạt 20,79% Đường liên xã và thị trấn nhựa hóa đạt 126 km, tỷ lệ đạt 31,27% Nhìn chung, các tuyến đường được nâng cấp đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong khu vực.
B ả ng 2.10 Chi ề u dài tuy ế n ủườ ng và t ỷ l ệ nh ự a, bờ tụng huy ệ n ðă k Mil ðường nhựa, bê tông
STT Các chỉ tiêu ðơn vị Số liệu
3 ðường tỉnh lộ 3 (ðT 683) Km 29 29 100
4 ðường tỉnh lộ 2 (ðT 682) Km 26 26 100
5 ðường tuần tra biên giới Km 46 46 100
7 ðường xã, thị trấn Km 403 126 31,27
8 ðường thôn, bon, tổ dân phố Km 380 79 20,79
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện ðăk Mil 2014 và phòng Nông nghiệp huyện)
- Nước sinh hoạt: chương trình nước sạch triển khai toàn huyện trong nhiều năm, hiện cú 21.470 hộ ủược dựng nước sạch, ủạt tỷ lệ 93,83%
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN ðĂK MIL, TỈNH ðĂK NÔNG
2.2.1 Số lượng cơ sở sản xuất nông nghiệp thời gian qua
Trong thời gian qua, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã được thực hiện theo hướng sản xuất hàng hóa, kết hợp với chế biến và tiêu thụ sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu Đồng thời, yêu cầu hoàn thiện các tiêu chí kinh tế hợp tác xã và trang trại ngày càng trở nên cấp thiết, đặc biệt là về quy mô và số lượng.
52 lượng của cơ sở SXNN cú sự biến ủộng Cụ thể tại Bảng 2.11
B ả ng 2.11 S ố l ượ ng các c ơ s ở SXNN huy ệ n ðă k Mil th ờ i gian qua ðơn vị tính: cơ sở
STT Cơ sở sản xuất Năm nông nghiệp 2010 2011 2012 2013 2014
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện ðăk Mil 2014 và phòng NN huyện) a S ố l ượ ng nông h ộ
Năm 2014, huyện ghi nhận 22.882 hộ sản xuất nông nghiệp, tăng 1.684 hộ so với năm 2010, với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7,94% Mặc dù số hộ sản xuất nông nghiệp tăng qua từng năm, nhưng tốc độ tăng trưởng giữa các xã có sự chênh lệch đáng kể.
B ả ng 2.12 S ố l ượ ng nông h ộ SXNN huy ệ n ðă k Mil th ờ i gian qua ðơn vị tính: hộ
TT ðơn vị hành chính 2010 2011 2012 2013 2014
10 Xã ðức Minh 3.118 3.125 3.164 3.184 3.315 6,34% Tổng cộng 21.198 21.590 21.850 21.986 22.882 7,94%
(Nguồn: phòng Nông nghiệp huyện ðăk Mil 2014)
Theo Bảng 2.12, tốc độ tăng trưởng sản xuất nông nghiệp tại các vùng nông thôn cao hơn so với thành phố, với thị trấn Đăk Mil chỉ tăng 2,65% Mức tăng này cũng cao hơn bình quân toàn huyện là 7,94%, đặc biệt tại các xã có mật độ dân số thấp và diện tích sản xuất nông nghiệp lớn như xã Đăk Găn (15,50%) và xã Đăk N’drot (11,17%).
Tỷ lệ tăng trưởng hộ sản xuất nông nghiệp tại xã Đăk Rla đạt 8,54% và khu vực 10,01% là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển sản xuất nông nghiệp tại những vùng có tiềm năng.
- GTSX do kinh tế hộ tạo ra ủạt 3.642.135triệu ủồng/năm, chiếm 85,17% trong tổng giá trị SXNN toàn huyện, bình quân 151,30 triệu ủồng/hộ/năm[21]
Trong lĩnh vực trồng trọt, các hộ sản xuất đã sử dụng 36.356 ha đất nông nghiệp, chiếm 85,71% tổng diện tích đất nông nghiệp với hệ số sử dụng đất đạt 1,5 lần, trung bình mỗi hộ canh tác trên 1,6 ha Về chăn nuôi, các hộ nuôi 3.290 con gia súc và 79.350 con gia cầm, trung bình mỗi hộ nuôi 1 con gia súc và 4 con gia cầm.
Trong những năm gần đây, số lượng hộ nông nghiệp đã tăng lên đáng kể, tuy nhiên, giá trị sản xuất nông nghiệp chủ yếu vẫn do các hộ gia đình tạo ra Mặc dù có tiềm năng lớn, nhưng sự phát triển của ngành nông nghiệp vẫn gặp nhiều hạn chế, chưa thể khai thác hết tiềm năng hiện có.
Trong giai đoạn 2010-2014, số lượng trang trại trên địa bàn huyện có sự biến động đáng kể Năm 2010, huyện có 207 trang trại, nhưng đến năm 2011, con số này giảm xuống chỉ còn 120 trang trại, tương ứng với tỷ lệ giảm 42,03% Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do việc đánh giá theo tiêu chí quy định tại Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/4/2011 Từ năm 2012 trở đi, sau khi đánh giá theo tiêu chí mới, số lượng trang trại không có sự biến động lớn, dao động trong khoảng 119 đến 124 trang trại.
Trờn ủịa bàn huyện, số trang trại phõn bố theo ủơn vị hành chớnh khụng ủồng ủều, cỏc trang trại chủ yếu tập trung khu vực nụng thụn (Bảng 2.13)
B ả ng 2.13 S ố l ượ ng trang tr ạ i SXNN huy ệ n ðă k Mil th ờ i gian qua ðơn vị tính: trang trại
STT ðơn vị hành chính Năm
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện ðăk Mil 2014)
Theo Bảng 2.13, số lượng trang trại năm 2014 so với năm 2010 chỉ tăng trưởng ở những xã có đặc điểm dân cư ổn định lâu năm, trong đó xã Đắk Săk tăng nhiều nhất với 16 trang trại Xã Đức Mạnh tăng 3 trang trại, trong khi xã Thuận An không có sự thay đổi và xã Đức Minh giảm 3 trang trại Tại các xã khác, do chủ trang trại không cập nhật thông tin để đáp ứng các tiêu chí mới, số lượng trang trại giảm đáng kể so với đầu kỳ phân tích năm 2010 Đây là vấn đề cần xem xét để chính quyền có những hỗ trợ nhằm phát triển các trang trại ổn định.
Năm 2014, huyện Đắk Mil có 119 trang trại, chủ yếu do người dân tộc Kinh làm chủ Trong đó, 114 trang trại trồng cây lâu năm chiếm 95,80% tổng số trang trại, còn 5 trang trại chăn nuôi chiếm 4,20% Tổng diện tích canh tác là 1.309 ha, trung bình mỗi trang trại có diện tích khoảng 11 ha.
Diện tích đất nông nghiệp là 55 ha, chiếm 3,09% tổng diện tích, với hệ số sử dụng đất đạt 1,4 lần Mỗi trang trại sử dụng 5 lao động và có vốn đầu tư trung bình khoảng 935 triệu đồng, tạo ra giá trị sản lượng nông sản hàng hóa đạt 149.820 triệu đồng, tương đương 1.259 triệu đồng/trang trại, chiếm 3,69% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp toàn huyện Ngoài ra, quản lý 79,30% tổng đàn gia súc chính (12.600 con) và 15,90% tổng đàn gia cầm (15.000 con) Tuy nhiên, các chủ trang trại còn gặp khó khăn trong việc lập dự án sản xuất kinh doanh và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đồng thời nguồn vốn vay chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất.
Kinh tế trang trại chủ yếu tập trung vào lĩnh vực trồng trọt, mang lại hiệu quả kinh tế nhưng chưa đóng góp nhiều vào giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện Mặc dù có sự phát triển trong sản xuất hàng hóa, việc giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông nghiệp ở nông thôn vẫn chưa đạt được nhiều kết quả Số lượng hợp tác xã cũng còn hạn chế.
Trong giai đoạn 2010-2014, huyện Đắk Mil không có nhiều tổ hợp tác, dẫn đến việc phát triển hợp tác xã (HTX) gặp khó khăn, với chỉ 6 HTX dịch vụ nông nghiệp hoạt động vào năm 2014 Mặc dù các HTX này đã hoạt động ổn định và cung cấp một số dịch vụ, nhưng quy mô còn hạn chế Các HTX nổi bật như HTX Công Bằng chuyên thu mua cà phê sạch và HTX Điện lực Đức Minh đã góp phần vào việc cải thiện mạng lưới điện tại địa phương Năm 2014, giá trị sản lượng nông sản hàng hóa và dịch vụ đạt 6.831 triệu đồng, trung bình 1.138 triệu đồng/HTX, chiếm 0,17% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp toàn huyện.
Nhìn chung số HTX kinh doanh có hiệu quả còn thấp, các loại hình
56 doanh nghiệp chưa phát triển, đội ngũ cán bộ quản lý phần lớn không được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ Do đó, các HTX chưa đáp ứng được nhu cầu của các xã viên và nhu cầu phát triển kinh tế xã hội tại địa phương.
Doanh nghiệp tại huyện Đăk Mil chủ yếu đến từ các nông lâm trường như Công ty Cà phê Thuận An, Công ty Cà phê Đức Lập, Công ty Cao su Đăk Nông, Công ty TNHH TM-DV Đại Thành và Công ty TNHH TM-DV Thuận Tân Những doanh nghiệp này tham gia trực tiếp vào ngành trồng trọt với tổng diện tích 4.660 ha, tạo ra giá trị sản lượng nông sản hàng hóa đạt 446.375 triệu đồng Họ chủ yếu quản lý diện tích vườn cây cho công nhân và hộ cá thể trên địa bàn, thu hoạch sản lượng theo hợp đồng ký kết Tuy nhiên, doanh nghiệp chưa thực hiện tốt chức năng tư vấn kỹ thuật và ký kết hợp đồng cung cấp vật tư đầu vào, trong khi bao tiêu sản phẩm vẫn còn nhiều hạn chế Riêng Công ty Cao su Đăk Nông cung cấp dịch vụ trồng, tư vấn kỹ thuật chăm sóc và khai thác, sau đó thu mua mủ cao su để chế biến và tiêu thụ ra thị trường.
Trên địa bàn có một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực mua bán phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và thu mua nông sản Tuy nhiên, các doanh nghiệp này chủ yếu hình thành từ hộ kinh doanh cá thể, chưa được đào tạo bài bản về nghiệp vụ chuyên môn cũng như kỹ năng quản trị Do đó, chúng vẫn mang tính chất nhỏ lẻ, tự phát và thiếu sự liên kết hỗ trợ trong kinh doanh.
2.2.2 Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nụng nghiệp thời gian gần ủõy
ðÁNH GIÁ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN ðĂK MIL
2.3.1 Thành công và hạn chế a Thành công
Các doanh nghiệp và hợp tác xã đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguyên vật liệu đầu vào và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa Mặc dù quy mô còn hạn chế, nhưng đây là một xu hướng tích cực trong phát triển nông nghiệp tại huyện Các trang trại và nông hộ cũng đang khẳng định vị trí của mình trong quá trình phát triển này.
Cơ cấu ngành nông nghiệp đang có sự chuyển dịch hợp lý, trong đó tỷ lệ trồng trọt có xu hướng giảm, trong khi chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp lại đang gia tăng.
- Huyện rất quan tõm ủến việc phỏt huy cỏc nguồn lực sẵn cú, tranh thủ
87 cỏc nguồn vốn ủể ủầu tư phỏt triển nụng nghiệp, chỳ trọng ỏp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp
- đã hình thành ựược những mô hình liên kết, tạo ựiều kiện cho người lao ủộng nụng nghiệp cú thờm việc làm, tiờu thụ sản phẩm
Thâm canh sản xuất lúa góp phần nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng trong điều kiện diện tích sản xuất nông nghiệp hạn chế Các cơ sở vật chất hỗ trợ cho thâm canh như hệ thống thủy lợi, máy cày, máy bơm nước, máy gặt và máy tuốt lúa ngày càng đáp ứng tốt nhu cầu thâm canh, đồng thời đưa giống lúa mới vào sản xuất diện rộng.
Cơ cấu cây trồng đang chuyển biến tích cực, phù hợp với điều kiện tự nhiên và khí hậu địa phương Năng suất của nhiều loại cây trồng chủ lực có giá trị kinh tế ngày càng gia tăng Một số mô hình sản xuất hiệu quả cao đã được nhân rộng và đưa vào ứng dụng trong thực tiễn.
Sản xuất nông nghiệp tại huyện đang có sự tăng trưởng ổn định, tạo ra nhiều cơ hội việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động Điều này không chỉ giúp cải thiện đời sống của nhân dân mà còn góp phần đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong khu vực.
- Kết cấu hạ tầng nụng thụn ngày càng ủược hoàn thiện, thu nhập bỡnh quõn ủầu người tăng, hộ nghốo giảm ủỏng kể b H ạ n ch ế
- Số lượng HTX, trang trại, các doanh nghiệp quá ít, giá trị SXNN chủ yếu do kinh tế hộ tạo ra nờn chưa thỳc ủẩy nụng nghiệp phỏt triển
- Chuyển dịch trong nông nghiệp chưa nhiều, cụ thể chăn nuôi và dịch vụ chiếm tỷ trọng thấp
Diện tích đất canh tác bình quân của từng hộ gia đình hạn chế khả năng sử dụng máy móc thiết bị, dẫn đến khó khăn trong việc đầu tư vốn và áp dụng công nghệ cải tiến sản xuất.
- Cỏc cơ sở sản xuất chưa tạo ủược sự liờn kết chặt chẽ, hỗ trợ nhau
88 trong sản xuất tiêu thụ sản phẩm
- Kỹ thuật lai tạo giống cây trồng có năng suất, chất lượng cao chưa ủược sử dụng ủại trà và kịp thời
Thu nhập lao động nông nghiệp hiện nay vẫn còn thấp, dẫn đến một số hộ dân tộc thiểu số gặp khó khăn trong việc đảm bảo lương thực khi giáp hạt Mặc dù nhiều hộ đã thoát nghèo, nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo Theo số liệu năm 2014, còn 1.684 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 7,36% tổng số hộ.
2.3.2 Nguyên nhân của các hạn chế
Công tác quy hoạch tiểu vùng tại khu vực phía Bắc và Đông Bắc chưa được thực hiện hiệu quả, dẫn đến việc phát triển cây trồng và vật nuôi gặp nhiều khó khăn Nguồn nước khan hiếm do các hộ dân tự phát triển mà không có sự hỗ trợ từ nhà nước và các chuyên gia Hơn nữa, hiệu quả sản xuất nông nghiệp chưa cao và thường xuyên đối mặt với rủi ro từ thời tiết.
Nguyên nhân thứ hai, các nội dung của phát triển nông nghiệp chưa hoàn thiện, cụ thể như:
Số lượng cơ sở sản xuất nông nghiệp hiện nay còn hạn chế, với quy mô nhỏ và thiếu vốn đầu tư, dẫn đến năng lực tổ chức sản xuất thấp Mặc dù gặp nhiều khó khăn như thông tin thị trường nông sản còn ít, nhưng các cơ sở này vẫn đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp.
- Nhõn sự quản lý cỏc doanh nghiệp, hợp tỏc xó chưa ủược ủào tạo nghiệp vụ chuyờn mụn, năng lực quản trị ủiều hành cũn nhiều hạn chế
- Cơ cấu SXNN chưa hợp lý, chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệpcòn chậm, chăn nuôi và dịch vụ chiếm tỷ trọng thấp
Quy mô sử dụng nguồn lực trong nông nghiệp hiện còn hạn chế, với tỷ lệ sản xuất nông nghiệp thấp và các chỉ tiêu về năng suất, hệ số sử dụng đất, cũng như diện tích canh tác bình quân trên hộ đều ở mức thấp Đầu tư vào lĩnh vực này cũng gặp khó khăn, dẫn đến khả năng thu hút vốn chậm Hơn nữa, lao động trong nông nghiệp chủ yếu vẫn mang tính chất sản xuất lạc hậu, và trình độ lao động qua đào tạo còn hạn chế.
Trong nông nghiệp, việc trồng và ủ thẩm canh vẫn còn gặp nhiều khó khăn do cơ sở vật chất chưa đầy đủ và đang xuống cấp Hơn nữa, việc bố trí giống vật nuôi và cây trồng chưa hợp lý, cùng với công tác vận động và tuyên truyền về sử dụng giống mới và kỹ thuật mới vẫn chưa được triển khai rộng rãi.
- Liên kết trong SXNN còn rất nhiều hạn chế Các cơ sở sản xuất chưa có liên kết kinh tế tiến bộ phù hợp
- Công tác thu hoạch, chế biến, bảo quản và tiêu thụ nông sản chưa ủược quan tõm, cụng tỏc khuyến nụng, phũng trừ sõu, dịch bệnh cũn hạn chế
Nguyên nhân thứ ba liên quan đến công tác quản lý, điều hành, cho thấy các cấp còn nhiều bất cập Bộ nông nghiệp hiện vẫn thiếu và yếu về trình độ chuyên môn, chưa tận dụng hết tiềm năng và cơ hội để phát triển nông nghiệp.
Huyện Đăk Mil sở hữu nhiều tiềm năng tự nhiên và tài nguyên phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Trong những năm gần đây, huyện đã chú trọng huy động các nguồn lực để phát triển nông nghiệp Mặc dù chưa đạt được kết quả như mong đợi, nhưng huyện đã bắt đầu thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp và dịch vụ một cách hợp lý.
Trong ngành nông nghiệp, sự chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng sản xuất đang diễn ra tích cực, nhờ vào việc triển khai hiệu quả nhiều chính sách nông nghiệp Đánh giá quá trình phát triển nông nghiệp tại huyện gần đây nhằm đưa ra các giải pháp phát triển toàn diện cho lĩnh vực này.