Cấu trúc của sách
Sách giáo khoa Tiếng Việt 3 được thiết kế theo cấu trúc chủ điểm và kỹ năng, trong đó chủ điểm là khung cho toàn bộ sách và kỹ năng là khung cho từng tuần học Sách gồm 15 đơn vị học, mỗi đơn vị liên kết với một chủ điểm và được học trong hai tuần, ngoại trừ chủ điểm Ngôi nhà chung, học trong ba tuần Tập một bao gồm 8 đơn vị học với các chủ điểm cụ thể.
- Măng non (Thiếu nhi) (Tuần 1,2).
- Mái ấm (Gia đình) (Tuần 3, 4).
- Tới trường (Trường học) (Tuần 5, 6).
- Cộng đồng (Sống với những người xung quanh ta) (Tuần 7, 8).
- Bắc - Trung - Nam (Các vùng, miền trên đất nước ta) (Tuần 12, 13)
- Anh em một nhà (Các dân tộc anh em trên đất nước ta) (Tuần 14, 15).
- Thành thị và nông thôn (Sinh hoạt ở đô thị, nông thôn, công nhân, nông dân) (Tuần 16, 17)
- Tuần 9 dành để ôn tập giữa học kỳ ; Tuần 18 - ôn tập cuối học kỳ. b Tập hai: gồm 8 đơn vị học, với các chủ điểm có tên gọi như sau:
- Bảo vệ Tổ quốc (gương chiến đấu xưa nay, bộ đội, công an, dân quân tự vệ) (Tuần 19, 20).
- Sáng tạo (Hoạt động khoa học, trí thức) (Tuần 21, 22).
- Ngôi nhà chung (Các nước, một số vấn đề toàn cầu - hòa bình, hữu nghị - hợp tác bảo vệ môi trường ) (Tuần 30, 31, 32).
- Bầu trời và mặt đất( Các hiện tượng thiên nhiên, vũ trụ, con người với thiên nhiên, vũ trụ, ) (Tuần 33, 34).
- Tuần 27 dành để ôn tập giữa học kỳ II; Tuần 35 - ôn tập cuối học kỳ II.
Nội dung dạy học phân môn Tập làm văn
a Số bài và thời lượng dạy: HS được học 31 tiết Tập làm văn trong cả năm học. b Nội dung:
- Các nghi thức lời nói tối thiểu.
- Các kĩ năng phục vụ học tập và đời sống hàng ngày.
Trong quá trình rèn luyện kỹ năng giao tiếp, việc nói và viết về những sự việc đơn giản là rất quan trọng Chúng ta có thể mô tả sơ lược về người và vật xung quanh thông qua việc sử dụng tranh ảnh hoặc đặt câu hỏi Bên cạnh đó, cần chú ý đến các hình thức rèn luyện khác để nâng cao khả năng diễn đạt và hiểu biết.
Ngoài ra, còn có hình thức nghe - kể chuyện - trả lời câu hỏi theo nội dung câu chuyện.
MỤC TIÊU MÔN TIẾNG VIỆT
Kỹ năng
Hình thành và phát triển bốn kỹ năng sử dụng Tiếng Việt bao gồm nghe, nói, đọc, viết là rất quan trọng để học tập ở các bậc học cao hơn và giao tiếp hiệu quả trong các môi trường hoạt động phù hợp với lứa tuổi.
Rèn luyện các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, khái quát và hệ thống không chỉ giúp nâng cao phẩm chất tư duy mà còn cải thiện năng lực nhận thức của mỗi cá nhân.
Kiến thức
- Các hiểu biết sơ giản về hệ thống Tiếng Việt và tri thức sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp.
- Các hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa và văn học của Việt Nam và nước ngoài.
Thái độ
- Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt, góp phần hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng và giàu đẹp của Tiếng Việt.
- Góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
YÊU CẦU VỀ DẠY TẬP LÀM VĂN Ở LỚP 3
1 Rèn luyện cho HS các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết phục vụ cho việc học tập và giao tiếp.
Trau dồi thái độ ứng xử văn hóa và tinh thần trách nhiệm trong công việc là điều cần thiết Đồng thời, việc bồi dưỡng những tình cảm lành mạnh và tốt đẹp thông qua nội dung bài dạy cũng rất quan trọng để tạo ra môi trường học tập tích cực.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Đọc tài liệu bồi dưỡng GV dạy học các môn học lớp 3, PHDH các môn học lớp
Sách giáo viên Tiếng Việt 3 cung cấp 88 câu hỏi quan trọng về giảng dạy Tiếng Việt ở bậc Tiểu học, cùng với giáo trình dạy đọc và phần Hỏi - Đáp về phương pháp giảng dạy Để tìm tài liệu hiệu quả, cần vận dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, lý thuyết, phân loại và thống kê, từ đó hệ thống hóa và sắp xếp tài liệu một cách khoa học.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Thực trạng việc học tập phân môn Tập đọc của HS trong những năm qua.
Phương pháp phân loại, thống kê
Để đánh giá phân loại trình độ của HS.
Phương pháp phỏng vấn, quan sát
Phỏng vấn và quan sát HS môn Tập làm văn.
THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
Việc dạy và học môn Tập làm văn ở Tiểu học hiện nay gặp nhiều vấn đề bất cập, chủ yếu do giáo viên thiếu kiến thức và năng lực sư phạm Thái độ giảng dạy thường rơi vào hai cực: hướng dẫn chung chung hoặc sử dụng văn mẫu, dẫn đến học sinh không biết cách viết và ngại học văn Nguyên nhân một phần đến từ việc giáo viên chưa đánh giá đúng vị trí của môn Tiếng Việt, đặc biệt là phân môn Tập làm văn, trong chương trình học Phân môn này không chỉ là môn thực hành tổng hợp mà còn là nền tảng cho các môn học khác, đòi hỏi học sinh phải biết quan sát, nhận xét và diễn đạt một cách rõ ràng, mạch lạc.
Học sinh lớp 3 gặp nhiều khó khăn trong việc áp dụng kiến thức sách vở vào thực tế Các em thường lúng túng trong việc sử dụng từ ngữ, đặt câu, và diễn đạt ý tưởng khi nói và viết Bên cạnh đó, việc sử dụng dấu câu trong câu văn và đoạn văn cũng là một thách thức lớn đối với các em.
Những hạn chế trong giảng dạy chủ yếu xuất phát từ sự thiếu hụt kỹ năng của giáo viên (GV) Vai trò của GV là yếu tố quyết định đến chất lượng dạy và học Hiện nay, nhiều GV vẫn chưa trang bị đầy đủ các kỹ năng cần thiết, dẫn đến việc không thể kiểm soát hiệu quả các nội dung dạy học theo hướng tiếp cận tích cực.
Vì thế, dưới đây tôi xin đưa ra một số biện pháp nhằm khắc phục thực trạng trên để giúp nâng cao năng lực viết văn cho HS lớp 3.
MỘT SỐ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
TÌM HIỂU VỀ THỰC TRẠNG CỦA LỚP, PHỐI HỢP VỚI PHỤ
Sau khi nhận lớp, tôi tiến hành khảo sát chất lượng học sinh để đánh giá trình độ và khả năng viết văn của từng em, nhằm nắm bắt kết quả đạt được.
Trong buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi đã báo cáo về chất lượng bài viết của học sinh, không chỉ đưa ra kết quả học tập chung mà còn cụ thể về khả năng viết văn của các em Tôi đề nghị phụ huynh hợp tác theo dõi và hỗ trợ các em trong việc học tập, đặc biệt là trong phân môn Tập làm văn.
NGHIÊN CỨU SÁCH GIÁO KHOA, SÁCH GIÁO VIÊN VÀ CÁC TÀI LIỆU PHỤC VỤ GIẢNG DẠY ĐỂ NẮM VỮNG MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CƠ BẢN KHI DẠY TỪNG KIỂU BÀI TẬP LÀM VĂN
CƠ BẢN KHI DẠY TỪNG KIỂU BÀI TẬP LÀM VĂN.
Sách giáo khoa đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ giáo viên giảng dạy và học sinh học tập Dựa vào định hướng của sách giáo khoa, giáo viên có thể tổ chức và hướng dẫn học sinh trong các hoạt động học tập Nhờ đó, mỗi học sinh có cơ hội tự thể hiện bản thân và chiếm lĩnh kiến thức một cách hiệu quả.
- Nghiên cứu kỹ SGK Tiếng Việt 3, tôi nhận thấy: Phân môn Tập làm văn gồm nhiều kiểu bài Mỗi kiểu bài có những mục đích, yêu cầu khác nhau
Nội dung bài học trong sách giáo khoa được cụ thể hóa qua các bài tập thực hành đa dạng, giúp học sinh luyện tập nói và viết, từ đó hình thành kỹ năng làm văn Các bài tập được bố trí hợp lý, xen kẽ và gắn kết với nhau, nổi bật chủ điểm bài học, phù hợp với nhận thức của học sinh.
Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 3 là tài liệu quan trọng hỗ trợ giáo viên trong việc định hướng quy trình dạy học và xác định mục tiêu cho từng bài học Tài liệu này giúp giáo viên thực hiện phương pháp dạy học mới, đảm bảo hiệu quả trong việc giảng dạy.
HS cần đạt yêu cầu về kiến thức và kỹ năng ở từng giai đoạn Các bài soạn trong sách giáo viên là tài liệu tham khảo hữu ích giúp GV thiết kế bài dạy phù hợp với trình độ của HS Để chuẩn bị cho giờ dạy, tôi thường nghiên cứu kỹ các bước gợi ý trong sách giáo viên, từ đó xây dựng kế hoạch giảng dạy hợp lý và hiệu quả.
Tài liệu hướng dẫn giảng dạy, tạp chí Giáo dục và chuyên san ngành là nguồn thông tin quý giá giúp giáo viên cập nhật kiến thức và cải thiện phương pháp giảng dạy Những tài liệu này không chỉ hỗ trợ giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn mà còn giúp họ học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp, từ đó tạo ra những bài giảng sâu sắc và thành công hơn Tôi thường xuyên tham khảo các tài liệu như Tạp chí Thế giới trong ta, Dạy và học ngày nay, và Chuyên đề Giáo dục Tiểu học để áp dụng các phương pháp giảng dạy đổi mới vào thực tiễn.
Nghiên cứu sách giáo khoa, sách giáo viên và tài liệu giảng dạy là việc làm thiết yếu và quan trọng đối với giáo viên Tuy nhiên, giáo viên cần vận dụng linh hoạt và sáng tạo các tài liệu này theo thực tế của học sinh trong lớp, tránh việc áp dụng một cách máy móc.
SỬ DỤNG MẠNG Ý NGHĨA KHI DẠY TẬP LÀM VĂN "KỂ HAY NÓI, VIẾT VỀ MỘT CHỦ ĐỀ"
Việc kể, nói hoặc viết về một chủ đề là một dạng đề quan trọng trong quá trình học tập làm văn ở lớp 3 Dạng đề này thường kết hợp nhiều thể loại như miêu tả, tường thuật, thuyết minh và phát biểu cảm nghĩ Để dạy dạng đề này hiệu quả, giáo viên nên sử dụng mạng ý nghĩa, giúp học sinh tìm kiếm, phát triển và diễn đạt ý tưởng một cách rõ ràng.
Sử dụng mạng trong dạy học tập làm văn giúp giáo viên tổ chức cho học sinh suy nghĩ và diễn đạt một cách chủ động, sáng tạo Phương pháp này tập trung vào việc cá thể hóa, khuyến khích hoạt động nói và viết của học sinh, đảm bảo sản phẩm văn bản vừa đạt chuẩn mực thể loại, vừa phản ánh bản sắc cá nhân của từng em Qua đó, học sinh có thể khai thác kinh nghiệm, hiểu biết trước đó, cùng với ý tưởng và ngôn từ từ các bài đọc theo chủ đề trong sách giáo khoa.
Tiến trình thực hiện phương pháp sử dụng mạng ý nghĩa trải qua 6 hoạt động liên hoàn sau đây:
* Hoạt động 1: Tìm hiểu đề:
Giáo viên hướng dẫn học sinh xác định rõ đối tượng nói hoặc viết trong trí nhớ và ghi lại đối tượng đó vào khung chủ đề Khung chủ đề có thể là vật thật hoặc tranh ảnh, và có thể được tạo ra bởi giáo viên hoặc học sinh dưới dạng ô tròn hoặc ô vuông với tên chủ đề được ghi rõ Để thực hiện hoạt động này, tôi đã áp dụng một số phương pháp cụ thể.
- Tạo tình huống khơi gợi học sinh nghĩ đến chủ đề hay đề tài.
- Kể một câu chuyện nhỏ kết hợp đặt câu hỏi hướng học sinh đến đề tài.
- Dùng tranh, ảnh hoặc vật thật hướng học sinh đến đề tài.
- Sử dụng một đoạn văn mẫu lấy từ các bài tập đọc đã học để gợi học sinh nghĩ đến đề tài.
Để thực hiện hoạt động tìm ý hiệu quả, tôi hướng dẫn học sinh tập trung vào việc động não và ghi lại những từ ngữ liên quan đến đối tượng trong khung chủ đề đã xác định Tôi đã áp dụng một số phương pháp sáng tạo để khuyến khích sự tham gia của học sinh trong quá trình này.
- Sử dụng hệ thống câu hỏi để kích thích và định hướng cho học sinh phát triển ý.
- Đưa ra một khung mạng trong đó có sẵn vài ý, phần còn lại để học sinh suy nghĩ và đưa thêm ý vào để hoàn thành mạng.
Tôi hướng dẫn học sinh sắp xếp ý đã có trong mạng theo trình tự sau:
- Hướng dẫn học sinh đánh số thứ tự cho các ý tìm được.
- Gọi học sinh lên thể hiện mạng ý nghĩa của mình.
* Hoạt động 4: Diễn đạt các ý thành bài.
Tôi hướng dẫn học sinh diễn đạt các ý trong mạng ý nghĩa thành bài dưới dạng nói hay viết.
- Nếu là bài tập viết: Tôi hướng dẫn học sinh diễn đạt mỗi từ xoay quanh mạng thành ít nhất một câu.
- Nếu là bài tập nói: Tôi hướng dẫn học sinh nhìn mạng ý nghĩa của mình diễn đạt thành câu, thành bài theo nhóm đôi.
* Hoạt động 5: Trao đổi, sửa chữa và nhận xét.
- Nếu là bài viết: Tôi tổ chức cho học sinh đọc, sửa chữa bản nháp của mình.
Trong bài nói, tôi sẽ mời một số học sinh trình bày trước lớp, sau đó tổ chức buổi nhận xét để rút ra kinh nghiệm về cách nói phù hợp với yêu cầu của nội dung và thể loại đề bài.
* Hoạt động 6: Học sinh viết bài hoàn chỉnh vào vở.
Bài "Kể lại buổi đầu em đi học" là một đề tài quen thuộc nhưng khó khăn cho học sinh, vì ký ức về ngày đầu tiên đi học thường mờ dần theo thời gian Để giúp các em nhớ và kể lại một cách tự nhiên, tôi đã sử dụng mạng ý nghĩa Qua đó, học sinh có thể viết một bài văn ngắn, thể hiện được cảm xúc và kỷ niệm của mình về buổi khai giảng đầu tiên.
* Hoạt động 1: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề.
- Để giúp học sinh tìm hiểu rõ đề bài, tôi đưa ra một số câu hỏi nhỏ:
+ Bài tập làm văn hôm nay thuộc kiểu bài gì?
+ Đề bài yêu cầu các con kể về điều gì?
+ Buổi đầu các con đi học là ngày nào?
- Sau khi học sinh trả lời, tôi chốt lại và ghi vào khung chủ đề:
Tôi đã yêu cầu học sinh thảo luận theo nhóm 4 để hoàn thành một bài tập trên phiếu, nhằm khơi gợi sự chú ý của các em đến "buổi đầu đi học" Nội dung bài tập này giúp học sinh tập trung suy nghĩ và chia sẻ cảm xúc của mình về những trải nghiệm đầu tiên khi đến trường.
Bài tập yêu cầu người đọc nhớ lại cảm xúc và kỷ niệm trong ngày đầu tiên đi học của tác giả Những điều khiến tác giả nhớ lại ngày đặc biệt này bao gồm những hình ảnh, âm thanh và cảm xúc mạnh mẽ gắn liền với khoảnh khắc ấy Việc hoàn thành bảng sẽ giúp người đọc hiểu rõ hơn về những ký ức đáng nhớ và ý nghĩa của ngày đầu tiên đến trường.
Cảm giác của tác giả trong ngày đầu tiên đi học là:
Những từ ngữ chỉ tâm trạng của các bạn học sinh mới là:
* Hoạt động 2: Hớng dẫn học sinh tìm ý.
- Tôi đa ra một khung mạng trong đó có sẵn vài ý (khung mạng này đợc viết ra 1 bảng phụ).
* Hoạt động 3: Hướng dẫn học sinh sắp xếp các ý đã có trong mạng.
Khi học sinh hoàn thành việc viết các ý tưởng về buổi đầu đi học, tôi hướng dẫn các em đánh số thứ tự cho những ý đã tìm được, từ đó giúp các em hình thành một mạng ý nghĩa rõ ràng và hợp lý.
- Gọi 1 số học sinh lên thể hiện mạng ý nghĩa của mình ở bảng lớp
1 Ngày cuối thu 5 Rụt rè
3 Con đường quen thuộc 7 Mạnh dạn
4 Trường học 8 Học sinh lớp
* Hoạt động 4: Hướng dẫn học sinh diễn đạt ý trong mạng ý nghĩa thành bài nói.
- Trên cơ sở học sinh đã hoàn thành mạng ý nghĩa, tôi yêu cầu học sinh nhìn mạng ý nghĩa của mình diễn đạt thành câu, thành bài nói.
- Ở phần này, tôi yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm đôi: Từng bạn kể cho nhau nghe về buổi đầu đi học của mình.
* Hoạt động 5: Học sinh viết bài vào vở.
- Giáo viên nhắc nhở học sinh diễn đạt ngắn gọn, chú ý chấm câu rõ ràng.
- Yêu cầu học sinh viết bài vào vở.
- Sau khi học sinh viết xong, tôi mời một số học sinh đọc bài viết trước lớp. + Giáo viên nhận xét, cho điểm.
Buổi đầu đi học Cô giáo
Bằng cách áp dụng mạng ý nghĩa, tôi đã hỗ trợ học sinh hoàn thành bài tập làm văn một cách hiệu quả Kết quả là 100% học sinh có thể viết đoạn văn kể về buổi đầu đi học với sự hồn nhiên và chân thật, và tất cả đều hoàn thành bài ngay tại lớp.
BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC
1 Luyện kỹ năng sử dụng dấu câu cho HS:
Học sinh lớp 3 thường học cách sử dụng dấu câu trong môn Luyện từ và câu, nhưng nội dung này thường bị lồng ghép với các kiến thức khác, dẫn đến việc các em ít có cơ hội thực hành Hệ quả là nhiều học sinh viết câu văn dài dòng và thiếu sự rõ ràng Nhận thức được vấn đề này, tôi chú trọng rèn luyện kỹ năng sử dụng dấu câu cho học sinh, đặc biệt là dấu chấm và dấu phẩy, nhằm giúp các em cải thiện khả năng viết văn.
1.1 Để luyện cách sử dụng dấu phẩy:
- Trước hết, tôi giúp HS hiểu rõ dấu phẩy được dùng trong các trường hợp: + Ngăn cách bộ phận chỉ thời gian với bộ phận còn lại trong câu.
Ví dụ: Hôm qua, tôi nghỉ học.
+ Ngăn cách bộ phận chỉ địa điểm với bộ phận còn lại trong câu.
Ví dụ: Trên cành cây, chim hót líu lo.
+ Ngăn cách bộ phận chỉ mục đích với bộ phận còn lại trong câu.
Ví dụ: Muốn cơ thể khoẻ mạnh, em phải năng tập thể dục.
+ Ngăn cách bộ phận chỉ nguyên nhân với bộ phận còn lại trong câu:
Ví dụ: Vì nhớ lời mẹ dặn không được làm phiền người khác, chị em Xô- phi đã về ngay.
+ Ngăn cách trạng ngữ chỉ phương tiện với bộ phận đứng sau trong câu (điều này GV hiểu):
Ví dụ: Bằng một sự cố gắng phi thường, Nen- li đã hoàn thành bài thể dục. + Ngăn cách các bộ phận đồng chức (điều này GV hiểu):
Ví dụ: Mỗi bản nhạc, mỗi bức tranh, mỗi vở kịch, mỗi cuốn phim, đều là một tác phẩm nghệ thuật.
Phần kiến thức nêu trên, tôi cung cấp cho HS trong các giờ học Luyện từ và câu thông qua các ví dụ cụ thể về các kiểu câu
Ví dụ khi dạy bài về dấu phẩy ở tuần 22:
Em cần đặt dấu phẩy vào những vị trí thích hợp trong các câu sau: a Ở nhà, em thường giúp bà xâu kim b Trong lớp, Liên luôn luôn chăm chú nghe giảng c Hai bên bờ sông, những bãi ngô bắt đầu xanh tốt d Trên cánh rừng mới trồng, chim chóc lại bay về ríu rít.
- Bước 1: Giúp HS nắm đề:
+ Cho HS đọc yêu cầu và các câu văn của bài tập.
+ Nhấn, gạch chân “đặt dấu phẩy”.
Bước 2: Hướng dẫn học sinh tự làm bài cá nhân, sau đó chữa và khẳng định đáp án đúng Ở nhà, học sinh thường giúp bà xâu kim, trong khi đó, Liên luôn chăm chú lắng nghe giảng bài trên lớp Hai bên bờ sông, những bãi ngô bắt đầu xanh tốt, và trên cánh rừng mới trồng, chim chóc lại bay về ríu rít, tạo nên không khí sống động.
- Bước 3: Giúp HS hiểu tác dụng của dấu phẩy trong mỗi câu văn:
+ Mời 1 HS đọc các câu văn (đọc ngắt hơi sau dấu phẩy).
Mời một học sinh nhận xét và so sánh hai cách đọc của bạn: cách đọc đầu tiên chỉ để nắm nội dung đề mà không có dấu phẩy, và cách đọc thứ hai sau khi đã chữa bài xong, với việc ngắt hơi đúng sau dấu phẩy Cách đọc thứ hai được cho là hay hơn.
+ Mời HS giải thích vì sao hay hơn để rút ra tác dụng của dấu phẩy.
- Bước 4: Giúp HS nắm cách sử dụng dấu phẩy.
+ Các bộ phận câu: “Ở nhà”,“Trong lớp”, “Hai bên bờ sông”, “Trên cánh rừng mới trồng” trong mỗi câu văn là những bộ phận chỉ gì?
+ Chốt cách dùng dấu phẩy: Dấu phẩy được dùng để ngăn cách bộ phận chỉ thời gian với bộ phận còn lại trong câu.
Để nâng cao kỹ năng sử dụng dấu phẩy cho học sinh, tôi đã tích cực cho các em luyện tập các dạng bài tập trong giờ Hướng dẫn học Một trong những dạng bài cơ bản là bài tập điền dấu phẩy vào câu văn.
Ví dụ: Điền dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong mỗi câu văn sau:
- Lá ngô rộng dài trổ ra mạnh mẽ.
- Trời xanh ngắt trên cao xanh như dòng sông trong trôi lặng lẽ giữa những ngọn cây hè phố.
- Vì chạy chơi ngoài nắng Long đã bị cảm sốt. b Dạng bài tập: Điền dấu phẩy vào đoạn văn:
Ví dụ: Điền dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong đoạn văn sau:
Lê Lợi, một lãnh đạo nổi bật ở Lam Sơn, đã phát động cuộc khởi nghĩa trong bối cảnh quân nghĩa vẫn còn yếu và thường xuyên bị quân giặc bao vây Trong một lần, quân địch đã vây chặt và quyết tâm bắt cho được ông Lê Lợi.
Ví dụ: Trong đoạn văn sau có một số dấu phẩy đặt sai Em hãy sửa lại cho đúng và viết lại đoạn văn này:
Gần trưa, khi mây mù tan, bầu trời sáng ra và cao hơn, phong cảnh hiện ra rõ rệt Trước bản, rặng đào đã trút hết lá, trên những cành đào khẳng khiu, lấm tấm những lộc non và lơ thơ cánh hoa đỏ thắm đầu mùa.
Qua những hoạt động này, học sinh lớp tôi đã hiểu rõ cách sử dụng dấu phẩy và bắt đầu áp dụng vào việc viết câu văn ngắn gọn và rõ ràng.
1.2 Để luyện cách sử dụng dấu chấm:
Ngoài việc giúp học sinh hiểu rõ tác dụng và cách sử dụng dấu chấm, tôi đặc biệt chú trọng vào việc thực hành để rèn luyện kỹ năng sử dụng dấu chấm một cách hiệu quả.
Để giúp học sinh rèn kỹ năng sử dụng chấm câu, tôi đã soạn một số dạng bài tập tiêu biểu Một trong những dạng bài tập mà tôi đã cho lớp thực hiện là bài tập điền dấu chấm vào đoạn văn.
Ví dụ: Ngắt đoạn văn dưới đây thành 5 câu và chép lại cho đúng chính tả.
Trên nương, mỗi người đảm nhận một công việc khác nhau: người lớn thì cày ruộng với trâu, các bà mẹ cúi lom khom tra ngô, các cụ già nhặt cỏ, còn những chú bé thì đi bắc bếp thổi cơm.
Ví dụ: Đoạn văn sau có dấu chấm nào dùng sai? Em hãy sửa lại cho đúng và viết lại đoạn văn:
Trong bài học địa lý tuần này, chúng em đã tìm hiểu về vị trí của các đại dương trên trái đất Qua việc quan sát quả địa cầu, chúng em nhận thấy rằng Việt Nam giáp với biển Đông, một phần của Thái Bình Dương.
Ví dụ: Em hãy viết đoạn văn ngắn (từ 4 đến 6 câu) kể về mẹ em.
1.3 Để luyện kỹ năng sử dụng kết hợp cả hai dấu câu:
Để giúp học sinh rèn luyện kỹ năng sử dụng dấu câu, tôi không chỉ cho các em làm bài tập riêng biệt với từng loại dấu câu mà còn thiết kế những bài tập kết hợp, yêu cầu các em điền dấu chấm và dấu phẩy vào đoạn văn.
Ví dụ: Điền dấu chấm hoặc dấu phẩy vào mỗi ô trống cho phù hợp rồi viết lại đoạn văn và nhớ viết hoa đúng quy định:
Trần Quốc Toản lạy mẹ rồi bước ra sân, trời vừa rạng sáng Quốc Toản mặc áo bào đỏ, vai mang cung tên, lưng đeo thanh gươm báu, ngồi trên một con ngựa trắng phau Theo sau Quốc Toản là người tướng già và sáu trăm dũng sĩ với nón nhọn, giáo dài Đoàn quân hăm hở ra đi trong tiếng chiêng trống rập rình.
Ví dụ: Em hãy viết đoạn văn ngắn (từ 3 đến 5 câu) nói về quê hương của em.
Nhờ việc luyện tập thường xuyên với các bài tập về dấu câu, học sinh lớp tôi đã nắm vững cách sử dụng dấu câu, từ đó viết được những đoạn văn ngắn với ý nghĩa rõ ràng và mạch lạc Sự tiến bộ trong bài văn của các em so với đầu năm là rất đáng ghi nhận.
2 Cung cấp các kiến thức văn học:
2.1 Cung cấp vốn từ qua phân môn Tập đọc và các môn học khác: a Với phân môn Tập đọc:
GIÚP HỌC SINH VIẾT NHỮNG BÀI VĂN KHÔNG GIỐNG NHAU.26 VI SỬ DỤNG LỜI KHEN MỘT CÁCH HỢP LÝ ĐỂ ĐỘNG VIÊN, KHÍCH LỆ HS
Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy rằng học sinh thường viết bài văn với nội dung tương tự nhau Điều này đặt ra cho tôi câu hỏi: “Làm thế nào để khuyến khích các em sáng tạo và viết bài văn với yêu cầu tương tự nhưng mang tính độc đáo riêng?”
Trước hết, tôi tìm hiểu và được biết: Cùng một gợi ý, lại chỉ được viết trong khoảng 15 phút tại lớp, hiển nhiên các em sẽ viết khá giống nhau.
Để khắc phục vấn đề, tôi đã thực hiện các biện pháp cụ thể Sau khi HS hoàn thành bài viết đầu tiên tại lớp, tôi đã tiến hành chữa bài và hướng dẫn thêm để giúp các em cải thiện kỹ năng viết văn, cả trong giờ Hướng dẫn học và tại nhà.
Ví dụ: Với bài văn: “Viết về buổi đầu tiên đi học của em”, em Bùi Hà
Anh - HS lớp tôi chủ nhiệm năm nay viết như thế này:
Sau khi đọc bài văn của em, tôi gợi ý thêm cho em:
Buổi đi học đầu tiên của em đã diễn ra từ lâu, nhưng cảm xúc vẫn còn in đậm trong tâm trí Trên đường đến trường, em cảm thấy hồi hộp và háo hức Khi đến nơi, em ấn tượng với ngôi trường mới, các thầy cô thân thiện và những người bạn mới Trong buổi học, em có nhiều kỷ niệm đáng nhớ, từ những bài học thú vị đến những khoảnh khắc vui vẻ bên bạn bè Khi kết thúc buổi học, cảm xúc của em đã hoàn toàn khác, tràn đầy niềm vui và mong chờ những ngày học tiếp theo.
Sau khi được tôi gợi ý, em đã có bài viết thứ hai như sau:
Bài viết này thể hiện sự tự nhiên và chân thực hơn so với trước, với cách kể sinh động và sáng tạo Nội dung giàu hình ảnh, không theo khuôn mẫu, đồng thời phản ánh cảm xúc và suy nghĩ cá nhân của tác giả.
Tôi cung cấp những gợi ý cá nhân hóa cho từng học sinh dựa trên bài viết đầu tiên của các em, giúp các em phát triển bài văn theo cảm xúc riêng Nhờ đó, khả năng viết văn của các em ngày càng được cải thiện, mỗi bài viết mang một sắc thái độc đáo nhưng vẫn đáp ứng đúng yêu cầu của đề bài.
VI SỬ DỤNG LỜI KHEN MỘT CÁCH HỢP LÝ ĐỂ ĐỘNG VIÊN, KHÍCH LỆ HS.
Việc sử dụng lời khen hợp lý trong giảng dạy là rất quan trọng, đặc biệt đối với học sinh tiểu học, nhằm động viên và khích lệ kịp thời Nếu khen ngợi quá mức hoặc không đúng lúc, học sinh có thể trở nên chủ quan và giảm nỗ lực Ngược lại, nếu không được khen ngợi khi có sự tiến bộ, các em có thể cảm thấy chán nản và tự ti Vì vậy, tôi luôn cố gắng sử dụng lời khen một cách phù hợp và chỉ ra cả những tồn tại cũng như cách khắc phục Nhờ đó, học sinh trong lớp tôi ngày càng tích cực hơn trong học tập, tạo ra không khí thi đua sôi nổi và giúp các em tự tin, mạnh dạn hơn trong luyện nói, từ đó nâng cao khả năng viết văn.