1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thời hiệu khởi kiện theo quy định của Bộ luật dân sự 2015

32 41 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 57,3 KB

Cấu trúc

  • THỜI HIỆU KHỞI KIỆN THEO QUY ĐỊNH

  • BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

    • 4.1 Phạm vi nghiên cứu

    • 4.2 Đối tượng nghiên cứu

    • 5.1 Ý nghĩa khoa học

    • 5.2 Ý nghĩa thực tiễn

    • 1.1.1 Khái niệm thời hiệu

    • 1.1.2 Khái niệm thời hiệu khởi kiện

    • 1.2.1 Thời hiệu khởi kiện do pháp luật quy định

    • 1.2.2 Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự mang tính định lượng

    • 1.2.3 Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự mang tính liên tục

    • 1.3.1 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

    • 1.3.2 Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự

    • 1.3.3 Thời hiệu khởi kiện về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

    • 1.3.4 Thời hiệu khởi kiện về thừa kế

    • 1.4.1 Bắt đầu thời hiệu khởi kiện

    • 1.4.2 Không áp dụng thời hiệu khởi kiện

    • 1.4.3 Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện

    • 1.4.4 Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện

    • 2.1.1 Hết thời hiệu khởi kiện trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản

    • 2.1.2 Hết thời hiệu khởi kiện trong vụ án tranh chấp bồi thường thiệt hại

    • 2.2.1 Vướng mắc do có nhận thức khác nhau về thời hiệu khởi kiện

    • 2.3.1 Vướng mắc do có nhận thức khác nhau về thời hiệu khởi kiện

    • 2.3.3 Cho phép đương sự thỏa thuận về thời hiệu

Nội dung

thời hiệu khởi kiện là vấn đề đặc biệt phức tạp do việc xác định thời hiệu khởi kiện không chỉ được quy định trong luật hình thức mà còn được quy định trong luật nội dung đó là Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về thời hiệu khởi kiện từ Điều 149 đến Điều 157 Bộ luật Dân sự năm 2015

NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

Khái niệm về thời hiệu và thời hiệu khởi kiện

Thời hiệu là khoảng thời gian quy định để xác lập hoặc xóa bỏ quyền lợi, cho phép cá nhân thực hiện quyền hoặc được miễn trừ nghĩa vụ.

Thời hiệu là khoảng thời gian do pháp luật quy định, khi hết thời hạn này sẽ phát sinh hậu quả pháp lý đối với các chủ thể, tùy thuộc vào điều kiện mà luật đã quy định Pháp luật dân sự hiện hành có những quy định cụ thể về vấn đề này.

Thời hiệu là khoảng thời gian do pháp luật quy định, và khi thời gian này kết thúc, sẽ có những hậu quả pháp lý nhất định đối với các chủ thể, tùy thuộc vào các điều kiện mà luật đã đặt ra.

Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan 1 ”.

Theo Khoản 1 Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu được định nghĩa là khoảng thời gian do pháp luật quy định, và khi thời hạn này kết thúc, sẽ phát sinh hậu quả pháp lý đối với các chủ thể, tùy theo các điều kiện mà pháp luật đã quy định.

1.1.2 Khái niệm thời hiệu khởi kiện

Theo Khoản 3 Điều 150 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện là khoảng thời gian mà cá nhân hoặc tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình Khi thời hạn này kết thúc, quyền khởi kiện sẽ bị mất.

Đặc điểm thời hiệu khởi kiện

1.2.1 Thời hiệu khởi kiện do pháp luật quy định

Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được quy định không chỉ trong Bộ luật dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự, mà còn trong các văn bản pháp luật chuyên ngành khác như Luật giao thông đường thủy nội địa và Luật đường sắt Khi quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị xâm phạm, họ cần thực hiện quyền khởi kiện của mình theo đúng quy định pháp luật về thời hiệu khởi kiện.

1Khoản 2 Điều 149 Bộ luật dân sự năm 2015

1.2.2 Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự mang tính định lượng

Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là khoảng thời gian xác định, bắt đầu từ một thời điểm cụ thể và kết thúc tại một thời điểm khác Mỗi loại quan hệ pháp lý có quy định riêng về thời hiệu khởi kiện, thường được tính bằng các đơn vị thời gian như ngày, tháng, năm Thời hiệu này có thể là 6 tháng, 1 năm, 2 năm hoặc 10 năm, tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể.

1.2.3 Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự mang tính liên tục

Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là khoảng thời gian liên tục từ khi bắt đầu đến khi kết thúc, nhưng có thể bị gián đoạn do các sự kiện theo quy định của luật Các sự kiện như bất khả kháng, trở ngại khách quan, hoặc khi người khởi kiện chưa đủ tuổi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự sẽ không được tính vào thời hiệu Ngoài ra, nếu bên có nghĩa vụ thừa nhận trách nhiệm, thời hiệu khởi kiện sẽ được tính lại từ ngày xảy ra các sự kiện đó.

Các loại thời hiệu

- Theo pháp luật tố tụng dân sự

Thì có 2 loại thời hiệu:

“1 Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự

2 Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc, người được hưởng lợi từ việc áo dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ

Người hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ khi việc từ chối này nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.

2Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

- Theo pháp luật dân sự

Thời hiệu theo quy định của BLDS năm 2015 được phân làm bốn loại thời hiệu như sau:

+ Thời hiệu hưởng quyền dân sự

Thời hiệu hưởng quyền dân sự là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự.

+ Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự

Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự là khoảng thời gian quy định, sau khi kết thúc, cá nhân có nghĩa vụ sẽ được miễn thực hiện nghĩa vụ đó.

Thời hiệu khởi kiện là khoảng thời gian mà cá nhân hoặc tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án can thiệp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình Nếu thời gian này kết thúc mà không khởi kiện, quyền khởi kiện sẽ bị mất.

+ Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự

Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là khoảng thời gian mà cá nhân, pháp nhân, hoặc đại diện cho lợi ích quốc gia, dân tộc có quyền yêu cầu Tòa án can thiệp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình Khi thời hạn này kết thúc, quyền yêu cầu sẽ không còn hiệu lực.

Các loại thời hiệu có mối liên hệ chặt chẽ với quyền và nghĩa vụ của các chủ thể Khi một chủ thể mất quyền khởi kiện, nghĩa vụ của chủ thể tương ứng sẽ tự động chấm dứt.

1.3.1 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

BLDS 2015 quy định rõ ràng về các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý liên quan, nhằm đảm bảo hiệu quả thực thi pháp luật cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.

1 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại các Điều 125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 02 năm, kể từ ngày: a) Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực

Theo Điều 150 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự có thể bị vô hiệu trong một số trường hợp, bao gồm: người tham gia giao dịch bị nhầm lẫn hoặc lừa dối nhưng không nhận thức được điều đó; hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép cần phải chấm dứt; người không có khả năng nhận thức và kiểm soát hành vi của mình khi xác lập giao dịch; và giao dịch không tuân thủ quy định về hình thức.

2 Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực.

3 Đối với giao dịch dân sự quy định tại Điều 123 và Điều 124 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế 4

1.3.2 Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự

Hợp đồng là thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, pháp luật dân sự quy định thời hiệu khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của các bên.

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, bắt đầu từ ngày người có quyền yêu cầu nhận thức hoặc phải nhận thức về việc quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

1.3.3 Thời hiệu khởi kiện về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Đối với vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, BLDS năm 2015 quy định như sau:

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, tính từ thời điểm người có quyền yêu cầu nhận thức hoặc có nghĩa vụ phải nhận thức về việc quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

1.3.4 Thời hiệu khởi kiện về thừa kế

Yêu cầu chia di sản thừa kế

“Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ 6 7 ” Như vậy,

4Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2015

5Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015

6Điều 588 Bộ luật Dân sự năm 2015

Theo Khoản 2 Điều 32 Hiến pháp năm 2013, quyền thừa kế là quyền cơ bản của công dân được pháp luật công nhận Công dân có quyền lập di chúc để quyết định việc phân chia tài sản của mình, để lại tài sản cho người thừa kế theo quy định của pháp luật, và hưởng di sản theo nội dung di chúc hoặc theo quy định pháp luật.

Cách tính thời hiệu khởi kiện

1.4.1 Bắt đầu thời hiệu khởi kiện

Thời hiệu khởi kiện bắt đầu khi chủ thể nhận thức được quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm Trong nhiều trường hợp, thời điểm nhận thức và thời điểm xâm phạm không trùng khớp, do đó, việc xác định thời điểm bắt đầu thời hiệu từ khi chủ thể biết sẽ bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

1 Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

8Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015

2 Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được tính từ ngày phát sinh quyền yêu cầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác 9

1.4.2 Không áp dụng thời hiệu khởi kiện

Tuy nhiên, pháp luật dân sự cũng quy định:

Thời hiệu khởi kiện không áp dụng trong trường hợp sau đây:

1 Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản.

2 Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

3 Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.

4 Trường hợp khác do luật quy định 10

1.4.3 Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện

Trong một số tình huống, nếu chủ thể khởi kiện không thể thực hiện quyền khởi kiện trong thời hạn pháp luật quy định do lý do khách quan, khoảng thời gian này sẽ không được tính vào thời hiệu khởi kiện.

Thời gian không được tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, trong khi thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được xác định bởi khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện cụ thể.

1 Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu.

Sự kiện bất khả kháng là những tình huống xảy ra một cách khách quan, không thể dự đoán trước và không thể khắc phục, ngay cả khi đã áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết và trong khả năng cho phép.

Trở ngại khách quan là những rào cản do hoàn cảnh bên ngoài gây ra, khiến cho cá nhân không thể nhận thức được việc quyền lợi hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự của mình.

2 Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người có quyền yêu cầu là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

3 Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

9Điều 154 Bộ luật Dân sự năm 2015

Theo Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015, trong trường hợp người đại diện chết (đối với cá nhân) hoặc chấm dứt tồn tại (đối với pháp nhân), hoặc khi người đại diện không thể tiếp tục thực hiện nhiệm vụ vì lý do chính đáng, sẽ không có người đại diện khác thay thế.

1.4.4 Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện

BLDS năm 2015 cũng quy định về việc bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của các bên.

1 Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong trường hợp sau đây: a) Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; b) Bên có nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; c) Các bên đã tự hòa giải với nhau.

2 Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện quy định tại khoản 1 Điều này 12

Trong chương 1 của đề tài, tôi đã tiến hành nghiên cứu hệ thống về khái niệm và đặc điểm của thời hiệu thừa kế, cùng với các quy định pháp luật liên quan đến thời hiệu khởi kiện theo Bộ luật Dân sự năm 2015.

Chương 1 của đề tài là tiền đề cho việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật và kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về thời hiệu khởi kiện theo quy định của BLDS năm 2015 tại chương 2 của Tiểu luận này.

11Điều 156 Bộ luật Dân sự năm 2015

12Điều 157 Bộ luật Dân sự năm 2015

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

Thực tiễn áp dụng pháp luật về thời hiệu khởi kiện theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Bộ luật Dân sự năm 2015

BLDS 2015 đã đưa ra nhiều quy định mới về thời hiệu khởi kiện, tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn thiếu sự cập nhật và nhận thức đúng đắn trong việc áp dụng các quy định này Điều này dẫn đến việc giải quyết các vụ án không chính xác, khi mà Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không thống nhất trong việc áp dụng quy định về việc bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện theo Điều luật hiện hành.

Theo bản án 157 BLDS năm 2015, Tòa án cấp sơ thẩm công nhận văn bản thừa nhận nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ, coi đây là khởi đầu mới cho thời hiệu khởi kiện Ngược lại, Tòa án cấp phúc thẩm lại không xem văn bản này là cơ sở để bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện.

Để áp dụng chính xác pháp luật về thời hiệu khởi kiện theo từng loại tranh chấp, cần căn cứ vào Điều 2 Nghị quyết số 103/2015/QH13 và Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP Việc áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện phải phân biệt rõ ràng theo thời gian khởi kiện và thụ lý giải quyết vụ án.

Đối với các vụ án mà Tòa án đã tiếp nhận đơn khởi kiện trước ngày 01/01/2017 nhưng chưa giải quyết hoặc đang trong quá trình giải quyết, Tòa án sẽ áp dụng các quy định về thời hiệu khởi kiện và thời hiệu yêu cầu theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 và Bộ luật Dân sự năm 2005 để tiến hành giải quyết.

Đối với các giao dịch dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được xác lập trước ngày 01/01/2017, nhưng tranh chấp chỉ phát sinh từ ngày này trở đi, Tòa án sẽ áp dụng quy định về thời hiệu của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.

Theo quy định mới về thời hiệu khởi kiện, khi một bên yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án ra bản án, Tòa án phải xem xét các thời hiệu khởi kiện phù hợp với giao dịch giữa các bên Cụ thể, thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp hợp đồng là 03 năm, chia di sản là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản.

Khi thụ lý vụ án, cần chú ý đến quy định pháp luật liên quan đến việc bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện và những khoảng thời gian không được tính vào thời hiệu khởi kiện trong vụ án dân sự Điều này giúp đảm bảo việc giải quyết vụ án được chính xác và thống nhất.

Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự theo Điều 156 BLDS năm 2015

Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan có thể ảnh hưởng đến quyền khởi kiện của chủ thể, dẫn đến việc họ không thể thực hiện yêu cầu trong thời hiệu quy định.

Sự kiện bất khả kháng là những tình huống khách quan, không thể dự đoán trước và không thể khắc phục, ngay cả khi đã áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết và khả thi.

Trở ngại khách quan là những khó khăn do hoàn cảnh bên ngoài gây ra, khiến người dân không thể nhận thức được việc quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự Để được xác định là có trở ngại khách quan, cần phải thỏa mãn hai điều kiện: trước hết, trở ngại đó phải mang tính khách quan đối với người bị ảnh hưởng; thứ hai, người này không thể biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự.

Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua sự hỗ trợ của bên thứ ba trung lập, giúp các bên tự nguyện thỏa thuận và giải quyết bất đồng Theo Điều 2 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, hòa giải viên có nhiệm vụ hướng dẫn và hỗ trợ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết mâu thuẫn và tranh chấp theo quy định pháp luật.

Hòa giải ở cơ sở là quá trình mà hòa giải viên hỗ trợ các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận tự nguyện, nhằm giải quyết những vi phạm pháp luật và duy trì sự đoàn kết trong cộng đồng Hoạt động này không chỉ củng cố tình cảm và đạo lý truyền thống trong gia đình mà còn giúp phòng ngừa vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự an toàn xã hội Để xác định một trở ngại là khách quan, cần có các điều kiện như trở ngại đó phải tác động đến chủ thể và không thể biết được quyền lợi hợp pháp bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự Tuy nhiên, hòa giải không được coi là trở ngại khách quan để không tính vào thời hiệu khởi kiện.

Trong trường hợp người khởi kiện hoặc người yêu cầu là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, cần có người đại diện hợp pháp để bảo vệ quyền lợi của họ.

Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, và người có khó khăn trong nhận thức cần có sự đại diện hợp pháp Trong trường hợp người đại diện cá nhân qua đời hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại, hoặc khi người đại diện không thể tiếp tục vì lý do chính đáng, những đối tượng này sẽ không có người thay thế để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ.

Theo Điều 157 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự có thể được bắt đầu lại trong các trường hợp sau: bên có nghĩa vụ thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với bên khởi kiện; bên có nghĩa vụ đã thực hiện xong một phần nghĩa vụ đối với bên khởi kiện; hoặc các bên đã tự hòa giải thành công với nhau.

Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện quy định tại khoản 1 Điều này.

Những vướng mắc về thời hiệu khởi kiện theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

2.2.1 Vướng mắc do có nhận thức khác nhau về thời hiệu khởi kiện

Nhận thức khác nhau về thời hiệu khởi kiện giữa luật nội dung và luật tố tụng có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng trong thực tiễn Việc hiểu sai về thời hiệu khởi kiện có thể ảnh hưởng đến quá trình xét xử, khiến tòa án đưa ra những quyết định không chính xác.

Vì vậy, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền cần sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể.

2.2.2 Vướng mắc do quy định thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm

Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu từ thời điểm người có quyền yêu cầu nhận thức hoặc phải nhận thức về việc quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ khi có quy định khác của pháp luật.

Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu khi có yêu cầu từ một hoặc cả hai bên, và yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ban hành bản án Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối, trừ khi việc từ chối nhằm trốn tránh nghĩa vụ.

15 Khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015

Tòa án chỉ đình chỉ giải quyết vụ án khi có yêu cầu của đương sự về việc áp dụng thời hiệu, và yêu cầu này chỉ được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án hoặc quyết định Khi nhận được yêu cầu, Tòa án sẽ xem xét thời hiệu theo quy định pháp luật để xác định yêu cầu khởi kiện còn hay hết thời hiệu Nếu thời hiệu còn, Tòa án sẽ tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung; ngược lại, nếu hết thời hiệu, Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu đã hết thời hiệu.

Nhiều vụ án có cùng quan hệ tranh chấp và thời hiệu nhưng lại có kết quả giải quyết khác nhau tại các Tòa án Một số vụ án được đình chỉ giải quyết khi có yêu cầu áp dụng thời hiệu của đương sự và thời hiệu đã hết, trong khi những vụ án khác vẫn được giải quyết theo thủ tục chung nếu không có yêu cầu áp dụng thời hiệu Sự khác biệt này phụ thuộc vào cách giải thích của Thẩm phán; có Thẩm phán hướng dẫn rõ ràng quyền yêu cầu áp dụng thời hiệu cho đương sự, trong khi có Thẩm phán không thông tin về quyền này Hậu quả pháp lý giữa hai trường hợp hoàn toàn khác nhau: nếu đương sự biết và yêu cầu áp dụng thời hiệu, Tòa án sẽ đình chỉ vụ án, còn nếu không biết, Tòa án sẽ tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định chung.

Từ đó, việc giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án sẽ gặp một số khó khăn, cụ thể như sau:

Theo khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu khi có yêu cầu từ đương sự trước khi ra bản án, thể hiện quyền yêu cầu của đương sự Tuy nhiên, pháp luật không yêu cầu Tòa án phải giải thích quyền này cho đương sự, dẫn đến việc nhiều đương sự không nhận thức được quyền yêu cầu áp dụng thời hiệu Điều này gây khó khăn trong việc thực hiện quyền lợi của họ và cho thấy pháp luật chưa thực sự đi vào đời sống, làm giảm tính xã hội của pháp luật.

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án ra bản án hoặc quyết định giải quyết vụ việc Tuy nhiên, nếu đương sự không biết về quyền này và không yêu cầu áp dụng thời hiệu, Tòa án sẽ tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung Nếu thời gian chuẩn bị xét xử sơ thẩm kết thúc (từ 04 đến 06 tháng) và đương sự chỉ yêu cầu áp dụng thời hiệu khi Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử, thì nếu thời hiệu khởi kiện đã hết, Tòa án sẽ phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Trong các vụ án phức tạp, thời gian tố tụng kéo dài và tốn kém do phải thực hiện nhiều thủ tục như đo đạc, thẩm định, và thu thập chứng cứ, việc giải quyết chi phí, lệ phí tạm ứng của đương sự khi Tòa án đình chỉ là vấn đề cần được làm rõ Đương sự có thể bị ảnh hưởng bởi quyết định đình chỉ của Tòa án do áp dụng thời hiệu theo yêu cầu của bên khác, dẫn đến việc họ có quyền khiếu nại và yêu cầu Tòa án giải thích pháp luật Việc cho phép đương sự yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu trước khi có bản án, quyết định từ Tòa án cấp sơ thẩm có thể gây ra nhiều vướng mắc và bất cập trong quá trình tố tụng.

Những kiến nghị giải pháp hoàn thiện về thời hiệu khởi kiện theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

2.3.1 Vướng mắc do có nhận thức khác nhau về thời hiệu khởi kiện

Do sự khác biệt trong nhận thức về thời hiệu khởi kiện, tác giả đề xuất cơ quan có thẩm quyền cần nhanh chóng ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về quy định thời hiệu khởi kiện thuộc về luật nào, liệu là luật nội dung hay luật tố tụng.

2.3.2 Vướng mắc do quy định thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm Đối với quy định thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Tác giả kiến nghị để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, cần chỉnh sửa, bổ sung nội dung khoản 2 Điều 149 Bộ luật dân sự năm 2015 cụ thể như sau:

Tòa án chỉ xem xét áp dụng quy định về thời hiệu khi có yêu cầu từ một bên hoặc cả hai bên, yêu cầu này cần được đưa ra trước hoặc trong phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần đầu.

Việc áp dụng pháp luật về thời hiệu trong giải quyết các vụ án tại Tòa án cần được thống nhất để tăng cường lòng tin của nhân dân vào cơ quan thực hiện quyền tư pháp.

2.3.3 Cho phép đương sự thỏa thuận về thời hiệu

Vào ngày 02 tháng 7 năm 2020, Bộ môn Luật dân sự - Khoa Luật Dân sự trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức Hội thảo cấp Khoa với chủ đề "Thời hiệu trong pháp luật dân sự Việt Nam" Tại hội thảo, các đại biểu đã thống nhất rằng việc cho phép đương sự thỏa thuận về thời hiệu là một vấn đề mới mẻ Mặc dù luật hiện hành đã có quy định về thỏa thuận ảnh hưởng đến thời hiệu, nhưng chỉ tác động đến việc khôi phục thời hiệu mà không ảnh hưởng toàn diện đến việc kéo dài, gián đoạn hay bắt đầu lại thời hiệu Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Minh Hùng nhấn mạnh rằng việc khuyến khích thỏa thuận lại thời hiệu là cần thiết, phù hợp với nguyên tắc tự do và tự nguyện trong pháp luật dân sự.

Vì thế, tác giả kiến nghị nên cho phép đương sự thỏa thuận về thời hiệu và kể cả cho phép thỏa thuận lại thời hiệu.

Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về thời hiệu khởi kiện cho thấy nhiều khó khăn và vướng mắc, cùng với sự thiếu thống nhất trong việc thực hiện quy định này Điều này dẫn đến tình trạng Tòa án áp dụng không đúng quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện trong quá trình xét xử.

Cùng với đó, tác giả đã kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật cho

Vào ngày 14/07/2020, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam đã đề cập đến vấn đề "Thời hiệu khởi kiện theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015" Bài viết nhằm giải quyết các tranh chấp và vướng mắc thực tiễn liên quan đến thời hiệu khởi kiện, góp phần nâng cao nhận thức và hiểu biết về quy định pháp luật hiện hành.

Nghiên cứu hệ thống về khái niệm, đặc điểm và quy định pháp luật liên quan đến thời hiệu thừa kế, bài viết đã trình bày những khái niệm và đặc điểm quan trọng Đồng thời, các quy định về thời hiệu khởi kiện theo Bộ luật dân sự năm 2015 cũng được làm rõ, giúp người đọc hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Và Tiểu luận cũng đánh giá về thời hiệu khởi kiện, để có thể thấy rằng thời hiệu khởi kiện là một vấn đề hết sức phức tạp.

Bài viết phân tích và đánh giá những khó khăn trong việc áp dụng thời hiệu khởi kiện, chỉ ra sự thiếu thống nhất trong các quy định hiện hành Nhiều quy định về thời hiệu khởi kiện chưa rõ ràng và thiếu hướng dẫn cụ thể, dẫn đến việc áp dụng không chính xác Điều này không chỉ kéo dài quá trình giải quyết vụ án mà còn ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, gây tác động tiêu cực đến hoạt động xét xử của Tòa án.

Đề xuất hoàn thiện thời hiệu khởi kiện cần tuân thủ nguyên tắc tự do, tự nguyện trong pháp luật dân sự, nhằm đảm bảo tính tương thích với các nguyên tắc quan hệ dân sự, từ đó nâng cao niềm tin và tính nghiêm minh của hệ thống pháp luật.

Ngày đăng: 19/03/2022, 08:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT [1] Hiến pháp năm 1992 Khác
[2] Hiến pháp năm 2013 [3] Bộ luật Dân sự năm 2005 [4] Bộ luật dân sự năm 2015 Khác
[6] Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội Khác
[7] Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Khác
[8] Giáo trình Bộ luật dân sự của Trường đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, Trường Đại học Luật Hà Nội Khác
[9] Giáo trình Bộ luật tố tụng dân sự của Trường đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, Trường Đại học Luật Hà Nội Khác
[10] Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015 của tác giả Đỗ Văn Đại Khác
[11] Bài viết Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự của tác giả Dương Tuấn Khanh trên tạp chí điện tử Khác
[12] Bình luận khoa học Những điểm mới của Bộ luật dân sự 2015 của PGS.TS. Đỗ Văn Đại (chủ biên), NXB Hồng Đức Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w