1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HÓA MÀ THẾ GIỚI HIỆN đại KẾ THỪA TỪ HY – LA

43 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Thành Tựu Văn Hóa Mà Thế Giới Hiện Đại Kế Thừa Từ Hy – La
Tác giả Trịnh Thị Diệu Linh
Người hướng dẫn Th.S Nguyễn Trà My
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử thế giới cổ trung đại
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 1,74 MB

Cấu trúc

  • 1. Ngu ồ n g ố c c ủ a n ền văn minh Hy – La (4)
  • 2. Nh ữ ng thành t ựu văn hóa đặ c s ắ c có t ầ m ảnh hưở ng c ủ a n ền văn minh Hy -La (5)
    • 2.1. Ch ữ vi ế t (5)
      • 2.2.1. Th ầ n tho ạ i (7)
      • 2.2.2. Thơ – S ử thi (9)
      • 2.2.3. Kịch (12)
    • 2.4. Khoa h ọ c t ự nhiên (19)
    • 2.5. Nghệ thuật (26)
      • 2.5.1. Ki ế n trúc (26)
      • 2.5.2. Điêu khắ c (30)
    • 2.6. Tri ế t h ọ c (34)
    • 2.7. Tôn giáo – Tín ngưỡng (36)
      • 3.7.2.1. Vài nét về Ki - tô giáo nguyên thủy (38)
      • 3.7.2.2. Quá trình truyền bá Ki - tô giáo ở La Mã thời cổ đại (38)
    • 2.8. Nhà nướ c và Lu ậ t pháp (39)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (43)

Nội dung

Ngu ồ n g ố c c ủ a n ền văn minh Hy – La

Lịch sử văn minh thế giới ghi nhận nhiều nghịch lý phi logic, khi những nền văn minh cổ đại như Lưỡng Hà, Ai Cập, Hy-La và Maya đều bắt đầu từ những nhóm người di cư nhỏ bé và bị xua đuổi Họ khởi nguồn từ những bộ lạc sống lang thang hoặc những thành bang nghèo nàn, nhưng đã vươn lên mạnh mẽ, trở thành những nền văn minh tiêu biểu và các đế chế hùng mạnh, thống trị những vùng đất rộng lớn Những nền văn minh này đã có nhiều phát kiến sáng tạo, đóng góp quan trọng vào diễn trình lịch sử nhân loại.

Sự hùng mạnh của các nền văn minh, đế chế, dân tộc và quốc gia không phụ thuộc vào diện tích, tài nguyên hay dân số, mà chính là khả năng biến nghịch cảnh thành cơ hội Bất kỳ nền văn minh nào cũng có thể phát triển từ những bất lợi nếu có ba yếu tố cốt lõi: sự hiểu biết và ham học hỏi, tinh thần đoàn kết cùng với chiến lược đúng đắn, và sức mạnh cùng tầm ảnh hưởng.

Hai nền văn minh Hy Lạp và La Mã đã đóng vai trò quan trọng trong lịch sử văn minh phương Tây cổ đại, hình thành và phát triển từ các cư dân gốc du mục và sự quyết tâm từ những thành bang nhỏ Vì có nhiều điểm tương đồng, hai nền văn minh này thường được gọi chung là văn minh Hy-La.

Nền văn minh phương Tây cổ đại phát triển trong những điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, khác với các quốc gia cổ đại phương Đông thường hình thành gần các con sông thuận lợi cho nông nghiệp Mặc dù gặp khó khăn trong phát triển nông nghiệp, nhưng sự hỗ trợ từ biển đảo đã tạo điều kiện cho việc hình thành các tuyến đường giao thương trên biển, hải cảng và tàu bè Điều này không chỉ thúc đẩy giao lưu và buôn bán giữa các quốc gia mà còn giúp văn hóa và thành tựu văn minh phương Tây được truyền bá rộng rãi khắp thế giới.

Sự phát triển của kinh tế thương nghiệp hàng hải đã tạo ra sức ép lớn cho các quốc gia phương Tây cổ đại, nhờ vào điều kiện thuận lợi Quan trọng hơn, chế độ chiếm hữu nô lệ phát triển cực thịnh đã gắn liền với phương thức sản xuất, đạt đến mức hoàn chỉnh nhất trong xã hội này, góp phần quan trọng vào việc sáng tạo các giá trị vật chất và tinh thần của nền văn minh phương Tây.

Sự giàu mạnh về kinh tế là một yếu tố quan trọng thúc đẩy khát vọng mở rộng lãnh thổ và ảnh hưởng đến các quốc gia khác Nền văn minh Hy - La không chỉ đặt nền tảng vững chắc cho sự phát triển của văn minh phương Tây cổ đại mà còn đóng góp nhiều phát kiến vĩ đại cho nhân loại, góp phần vào sự tiến bộ chung của toàn thế giới.

Nh ữ ng thành t ựu văn hóa đặ c s ắ c có t ầ m ảnh hưở ng c ủ a n ền văn minh Hy -La

Ch ữ vi ế t

Mặc dù xuất hiện sau nền văn minh Ai Cập, nhưng nền văn minh Hy Lạp cổ đại đã tiếp thu và phát triển những giá trị cốt lõi từ Ai Cập và Lưỡng Hà, góp phần tạo nên những đóng góp quan trọng cho cả lịch sử và thế giới hiện đại ngày nay.

Chữ viết Hy Lạp cổ đại xuất hiện từ thời văn minh Crete - Mycene, với nhiều tấm đất sét khắc chữ được phát hiện vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX Chữ viết này được phân chia thành hai loại chính: loại thứ nhất là chữ tượng hình thuần túy, ghi lại hình ảnh con người, động vật và đồ vật, có thể đã xuất hiện vào đầu thiên niên kỷ II TCN Loại thứ hai gồm những chữ có dạng thức đơn giản, chia thành hai loại nhỏ: loại A (1700 - 1400 TCN) chưa được đọc, và loại B (1400 - 1200 TCN) đã được kiến trúc sư người Anh Ventris giải mã thành công vào năm 1952.

Sau các cuộc thiên di của người Dorien, chữ viết của người Hy Lạp dần bị mai một Đến cuối thế kỷ VIII TCN, người Hy Lạp đã khôi phục chữ viết dựa trên văn tự của người Phoenice, và đến năm 403 TCN, nhà nước Athens đã thống nhất quy định chữ viết từ trái sang phải, giảm số lượng chữ cái từ 40 xuống còn 24 Loại chữ này được coi là đẹp nhất thế giới nhờ vào sự cân đối, hài hòa và thanh nhã So với hệ thống chữ tượng hình của các nước phương Đông, chữ Hy Lạp đạt đến trình độ khái quát hóa cao, cho phép diễn đạt mọi ý tưởng trừu tượng chỉ với hơn 20 chữ cái Đây là một trong những cống hiến lớn lao của người Hy Lạp cho kho tàng văn hóa nhân loại, và hệ thống chữ cái Cyrillic cùng chữ cái Latin cũng bắt nguồn từ chữ cái Hy Lạp, hiện được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới.

Hình 2.1 Bảng chữ cái cổ Hy Lạp bao gồm 24 ký tự

Nguồn: Hành trình chữ viết (2000)

Việc phát minh ra chữ viết là một đóng góp quan trọng của cư dân địa Trung Hải cho nền văn minh nhân loại, mang lại ý nghĩa sâu sắc trong việc ghi chép và truyền đạt tri thức.

Khoảng thế kỷ X TCN, người Etrusque di cư đến La Mã Chữviết của họ xuất hiện khoảng thế kỷ VIII - VII TCN nhưng hiện nay không đọc được.

Người La Mã đã phát triển chữ viết Latin vào khoảng thế kỷ VII TCN, bắt nguồn từ chữ viết Hy Lạp và đạt sự ổn định vào thế kỷ II TCN Ban đầu, bảng chữ cái La Mã gồm 21 chữ cái, sau đó vào thế kỷ I TCN, thêm chữ Y và Z, tiếp theo là W, J và U Qua thời gian, người La Mã đã điều chỉnh bảng chữ cái để phù hợp với ngôn ngữ của họ Các nhà văn La Mã cũng đã phát minh ra cách viết theo nguyên tắc nét thanh, nét đậm và sáng tạo kiểu chữ có chân, giúp chữ viết trở nên đẹp mắt và dễ đọc hơn.

Sự bành trướng lãnh thổ và sức mạnh quân sự của đế chế La Mã đã góp phần quan trọng vào việc phổ biến chữ Latin Hệ thống chữ viết này không chỉ đơn giản mà còn tiện lợi, giúp chữ Latin trở thành ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia thuộc đế chế.

Chữ viết La Mã đã phát triển thành nguồn gốc của nhiều hệ thống chữ viết khác nhau ở châu Âu, bao gồm Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, và Pháp Đặc biệt, nhiều thuật ngữ khoa học, đặc biệt trong lĩnh vực y học và chính trị, vẫn sử dụng từ vựng có nguồn gốc từ tiếng Latin cho đến ngày nay.

Mã còn để lại hệ thống chữ số mà ngày nay người ta vẫn thường dùng và quen gọi là chữ số La Mã

Văn học Hy – La cổ đại gồm 3 bộ phận chính có liên quan chặt chẽ với nhau là thần thoại, thơ –sử thi và kịch.

2.2.1 Thần thoại a Thần thoại Hy Lạp

Thần thoại Hy Lạp là một trong những hình thức văn học sớm nhất, đóng vai trò quan trọng trong tôn giáo và văn hóa, nghệ thuật của Hy Lạp Nó cung cấp nguồn cảm hứng vô tận cho văn học, kịch, thơ và các lĩnh vực nghệ thuật khác Đồng thời, thần thoại phản ánh nguyện vọng của nhân dân trong việc giải thích và đối phó với tự nhiên, cũng như đời sống lao động và hoạt động xã hội Thần thoại Hy Lạp bao gồm những câu chuyện hoang đường về nguồn gốc vũ trụ và loài người, giúp giải thích các hiện tượng tự nhiên và xã hội Ngoài ra, nó còn là nền tảng để xây dựng lịch sử các bang bộ tộc Hy Lạp.

Sau khi có chữ viết, kho tàng thần thoại Hy Lạp được Hesios, nhà thơ sống vào thế kỷ VIII TCN, hệ thống lại trong tác phẩm "Gia phả các thần" Các vị thần Hy Lạp không phải là những lực lượng xa lạ và đáng sợ như thần thánh ở phương Đông, mà là những hình tượng gần gũi, mang những phẩm chất và cá tính giống con người như yêu, ghét, giận hờn, ngoại tình và ghen tuông.

Thần thoại Hy Lạp có ảnh hưởng sâu sắc đến văn học và nghệ thuật của nền văn minh này, với các tác phẩm nổi bật như “Con ngựa thành Troy”, “Quả táo bất hòa” và “Gót chân Achille” Những tác phẩm này không chỉ được giảng dạy ở nhiều nước phương Đông mà còn truyền tải những nội dung thông minh, cách ứng xử và lập luận cuốn hút Chúng vẫn giữ được sức hấp dẫn, giúp người đọc hình thành những hình mẫu lý tưởng để phát triển bản thân Điều này chứng tỏ rằng, mặc dù đã tồn tại từ rất lâu, những câu chuyện thần thoại này vẫn mang giá trị nhân văn và không bao giờ lỗi thời trong thế giới hiện đại.

Từ xa xưa, nghệ thuật trong thần thoại Hy Lạp đã thể hiện giá trị sâu sắc qua hình ảnh của nghệ sĩ Orphee với cây đàn liere, khiến thiên nhiên lắng nghe và thú dữ phủ phục Những ước mơ về cái đẹp, sự sống bất tử và tài năng chữa bệnh được phản ánh qua những trang văn thơ mộng, như hình ảnh hoàng hậu Leda bên bờ sông hay công chúa Europ trong trang phục đỏ thắm giữa những thiếu nữ đảo Crete Người Hy Lạp tôn vinh cái đẹp tuyệt đối, thể hiện qua cuộc tranh chấp quả táo vàng, được coi là cuộc thi hoa hậu đầu tiên Hình tượng thần Atlas và Heracles biểu trưng cho sức mạnh tinh thần con người, cho thấy trí tưởng tượng phong phú của họ dựa trên tư duy cao và quan sát thực tế tỉ mỉ Chúng ta cần kế thừa và phát huy những phẩm chất tốt đẹp từ những tác phẩm và câu chuyện thần thoại Hy Lạp này.

“Không có thần thoại Hy Lạp thì không có nghệ thuật Hy Lạp” (nhận xét của Karl

Thần Thoại Hi Lạp không chỉ là chương đầu tiên trong lịch sử và văn hóa của Hi Lạp mà còn đóng vai trò quan trọng trong nền văn học phương Tây Ảnh hưởng của nó lan tỏa mạnh mẽ qua các thời kỳ và loại hình nghệ thuật, trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho các trào lưu văn học – nghệ thuật châu Âu từ thời kỳ Phục Hưng cho đến nay.

Thần thoại Hy Lạp, mặc dù có nhiều yếu tố hoang đường và màu sắc thần thánh, nhưng ít bị hòa lẫn với tôn giáo Ngay từ khởi đầu, nó không chỉ mang tính chất huyền bí mà còn phản ánh thực trạng xã hội, thể hiện tính duy lý và triết lý sâu sắc.

Vậy tổng kết qua thần thoại Hy Lạp ta thấy chủ nghĩa duy vật thô sơ hình thành

Mặc dù thần thoại phản ánh thế giới quan thần linh, nhưng cách giải thích các hiện tượng tự nhiên và xã hội vẫn mang tính hiện thực duy vật Chẳng hạn, trong câu chuyện về bốn gia hệ thần, người Hy Lạp thể hiện sự phát triển của thế giới từ thấp đến cao, từ hoang sơ đến tinh xảo, với nhân vật con trai út thường thành công hơn các anh Nhân vật chính từ thần linh dần chuyển sang con người, thể hiện sự chuyển biến từ chủ nghĩa thần linh sang chủ nghĩa nhân văn, qua đó nhấn mạnh vai trò và ý nghĩa của con người Đây là một bài học nhân văn quý giá, được truyền từ đời này sang đời khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác, góp phần tạo nên một thế giới văn minh và tiến bộ hơn.

Người La Mã đã tiếp thu gần như toàn bộ kho tàng thần thoại và hệ thống các vị thần của người Hy Lạp cổ đại, nhưng với sự sáng tạo riêng, các vị thần được đặt tên mới và mang những sắc thái đặc trưng của văn hóa La Mã Ví dụ, thần Zeus của Hy Lạp trở thành thần Jupiter tối cao của La Mã; nữ thần Hera, vợ thần Zeus, được gọi là thần Juno; nữ thần Tình yêu và Sắc đẹp Aphrodite đổi thành nữ thần Venus; và thần biển Poseidon được gọi là Neptune.

Khoa h ọ c t ự nhiên

Hy Lạp cổ đại được xem là cái nôi của nhiều lĩnh vực khoa học tự nhiên, nơi tư duy khoa học phát triển đến mức độ khái quát hóa cao, tạo ra các tiền đề và nguyên lý có giá trị Tại đây, nhiều nhà khoa học vĩ đại đã xuất hiện, đóng góp kiến thức uyên bác và để lại những thành tựu lớn trong kho tàng khoa học nhân loại, đặc biệt trong các lĩnh vực như toán học, vật lý và thiên văn học.

Downloaded by Hei Ut (hut371809@gmail.com)

Thales (642 - 548 TCN) là một nhà toán học, triết học và thiên văn học nổi bật, được coi là người đặt nền móng cho khoa học và triết học Sinh ra trong một gia đình thương nhân giàu có ở Milet (Tiểu Á), ông đã sống và làm việc tại Ai Cập trước khi trở về quê hương để thành lập trường phái khoa học Milet Thales đã chứng minh nhiều định lý quan trọng, như mọi đường kính chia đôi một đường tròn, các góc đáy của tam giác cân bằng nhau, và góc nội tiếp trong nửa hình tròn là góc vuông Ông cũng dự đoán chính xác hiện tượng nhật thực sẽ xảy ra vào ngày 28/5/585 TCN tại Milet Đặc biệt, đóng góp lớn nhất của ông là việc phát hiện ra tỷ lệ thức, khiến ông được tôn vinh là nhà toán học và nhà thiên văn học đầu tiên.

Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/

Pythagore (580 - 500 TCN) được coi là người đã có nhiều đóng góp quan trọng cho nền toán học thế giới Sau 12 năm học hỏi tri thức khoa học tại Ai Cập và Lưỡng Hà, ông trở về đảo Scicile và thành lập trường phái Pythagore Tại đây, ông cùng học trò tổng kết kiến thức về toán học và thiên văn học, thiết lập nhiều công thức và định lý, chứng minh chúng bằng logic thay vì trực giác Đóng góp nổi bật nhất của ông là định lý Pythagore Về thiên văn học, Pythagore khẳng định rằng trái đất hình tròn và di chuyển theo một quỹ đạo nhất định, điều này đã ảnh hưởng đến sự phát triển của thuyết Nhật tâm của Copernicus sau này.

Downloaded by Hei Ut (hut371809@gmail.com)

Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/

Euclide (330 – 275 TCN) được coi là một trong những người sáng lập trường toán học tại đại học Alexandria, Ai Cập Ông để lại cho nhân loại nhiều công trình nghiên cứu vĩ đại, bao gồm các tác phẩm như "Catropque", "Những dữ kiện", "Phép chia các hình" và "Quang học" Đặc biệt, bộ "Elements" (Những khái niệm cơ bản) của ông, gồm 13 tập, vẫn được lưu giữ và sử dụng cho đến ngày nay Đây là tác phẩm khoa học duy nhất trong lịch sử toán học tồn tại hơn 2000 năm mà giá trị không hề giảm sút.

Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/

Downloaded by Hei Ut (hut371809@gmail.com)

Archimedes (285 - 212 TCN) là một nhà khoa học vĩ đại, sinh ra trong một gia đình giàu có ở Siracure, một thành bang của Hy Lạp trên đảo Sicily Ông đã học tập tại trường Alexandri ở Ai Cập và với niềm đam mê khoa học cùng kiến thức uyên thâm, Archimedes đã để lại cho nhân loại những tri thức quý giá về lý luận và thực tiễn trong toán học và cơ học.

Archimede là một nhà khoa học vĩ đại, người đã đặt nền tảng cho ngành cơ học và ứng dụng nó nhằm giải phóng sức lao động của con người thông qua các phát minh như đòn bẩy và ròng rọc Ông đã phát hiện ra nguyên lý đòn bẩy và định luật nổi tiếng về thủy lực học mang tên ông Ngoài ra, Archimede còn chế tạo ra các hệ thống máy móc đầu tiên của Hy Lạp, bao gồm máy bắn đá, gương hội tụ và chân vịt Đặc biệt, ông đã phát triển phương pháp tính diện tích hình nón và hình cầu, đồng thời xác định được trị số Pi giữa hai hỗn số 3 10/71 và 3 1/7.

Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/

Aristarque (310 - 230 TCN) là nhà khoa học nổi bật, người đầu tiên tính toán thể tích của Mặt Trời, Mặt Trăng và Trái Đất, cũng như khoảng cách giữa chúng, mặc dù kết quả chưa chính xác Ông cũng là người tiên phong khẳng định rằng Trái Đất quay xung quanh Mặt Trời, đóng góp quan trọng cho sự phát triển của thiên văn học.

Downloaded by Hei Ut (hut371809@gmail.com)

Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/

Eurathosthène (284 - 192 TCN) là một nhà khoa học nổi bật trong nhiều lĩnh vực như toán học, thiên văn, vật lý, sử học và ngôn ngữ Là người phụ trách thư viện trường Alexandria ở Ai Cập, ông có cơ hội tiếp cận nhiều tri thức khoa học quý giá Ông được ghi nhận là người đầu tiên đo được độ dài của kinh tuyến trái đất với con số 39.700 km và tính toán góc giữa hoàng đạo và xích đạo.

Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/

Downloaded by Hei Ut (hut371809@gmail.com)

Trong y học, người Hy Lạp đã có những đóng góp quan trọng về lý thuyết và thực hành chăm sóc sức khỏe Hy Lạp cổ đại là nơi sản sinh ra nhiều danh y nổi tiếng, với các địa điểm hành nghề được coi là nền tảng của y khoa phương Tây Các nhân vật tiêu biểu như Heraclite trong giải phẫu và Hecrophile với phát hiện não là trung tâm của hệ thần kinh đã góp phần lớn vào sự phát triển này Đặc biệt, Hypocrates đã đề xuất những quan điểm về đạo đức và trách nhiệm của người thầy thuốc, cũng như tác động của môi trường đến sức khỏe con người, và các phương pháp điều trị bệnh nhi khoa, phụ nữ và bệnh gãy xương, vẫn còn giá trị cho đến ngày nay Để vinh danh những cống hiến của ông, bác sĩ phương Tây khi tốt nghiệp đều phải đọc Lời thề Hypocrates.

Hypocrates về vấn đề y đức.

Người La Mã đã tiếp thu và chỉnh lý những thành tựu khoa học tự nhiên của người Hy Lạp, nhưng với tính thực dụng cao hơn Họ nhanh chóng áp dụng những kiến thức này vào sản xuất, xây dựng và nghệ thuật, tạo ra nhiều thành tựu nổi bật.

Pline (23-79) là tác giả của tác phẩm Vạn vật, được coi là bộ bách khoa toàn thư, tổng hợp những thành tựu khoa học và kỹ thuật của thời kỳ cổ đại Tác phẩm này bao quát nhiều lĩnh vực như địa lý, sinh học, nông học, y dược, kiến trúc và hội họa, phản ánh sự phát triển tri thức của nhân loại trong thời kỳ đó.

Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/

Downloaded by Hei Ut (hut371809@gmail.com)

- Ptolemée (thế kỷ II) (Hình2.15): sinh trưởng tại Alecxandri, lúc đó thuộc lãnh thổ La

Ông đã có cơ hội tiếp cận và tổng hợp kiến thức thiên văn từ Ai Cập, Babylon và Hy Lạp để viết nên tác phẩm "Hệ thống vũ trụ" Trong đó, ông chỉ ra rằng Trái Đất có hình tròn, nhưng lại nhầm lẫn khi cho rằng Trái Đất là trung tâm của vũ trụ Quan điểm này đã tồn tại ở châu Âu hơn 1000 năm cho đến khi Copernicus đưa ra thuyết Nhật tâm vào đầu thế kỷ XVI, làm thay đổi nhận thức này Ông cũng đã vẽ bản đồ thế giới, nhưng chỉ bao gồm ba châu Á, Âu và Phi, lấy Địa làm trung tâm.

Trung Hải làm trung tâm Đến nay, bản đồ này không còn giá trị khoa học nhưng được xem là chính xác nhất lúc đó.

Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/

Y học La Mã bắt đầu phát triển từ thế kỷ V TCN, nhưng chỉ thực sự phổ biến vào thế kỷ I TCN, với sự xuất hiện của các chuyên khoa điều trị bệnh tại các thành phố lớn Gallene, một nhân vật tiêu biểu của y học La Mã cổ đại vào thế kỷ II, đã tổng hợp kiến thức y học từ thời Hypocrates, viết nhiều luận văn về y dược và giải phẫu, đồng thời đề xuất phương pháp thực nghiệm và tiến hành giải phẫu nhiều động vật.

Vậy có thể tổng kết được rằng đối với văn hóa khoa học tự nhiên của nền văn minh

Thời kỳ Hy-La chứng kiến sự phát triển vượt bậc trong tư duy, khi con người thoát khỏi những ràng buộc của tôn giáo và tín ngưỡng Những nhà thiên tài như Pythagore và Archimedes đã ra đời, cống hiến những định luật và định lý quan trọng, góp phần làm thay đổi diện mạo thế giới cho đến ngày nay Sự tiến bộ này đánh dấu bước tiến gần hơn đến tri thức và khoa học.

Trong nền y khoa hiện đại, những bài luận văn y dược cổ của Galen vẫn còn giá trị, mở ra con đường cho sự phát triển của y học Những cuộc giải phẫu và thực nghiệm đầu tiên, dù thành công hay thất bại, đã góp phần quan trọng vào chuyên môn hóa y học Nếu không có những người đi trước, chúng ta có thể vẫn sống trong sự lạc hậu Vì vậy, việc trân trọng và bảo vệ những thành tựu y học là cần thiết Thế hệ trẻ cần học hỏi và phát triển hơn nữa, nhằm tạo ra một thế giới hoàn hảo hơn và mang lại nguồn sống tích cực cho chính mình.

Nghệ thuật

Nghệ thuật Hy Lạp và La Mã bao gồm ba lĩnh vực chính: kiến trúc, điêu khắc và hội họa Vào thế kỷ VIII-VII TCN, người Hy Lạp đã tiếp thu nghệ thuật cổ từ Ai Cập và Cret Tuy nhiên, đến thế kỷ V-IV TCN, nhờ những điều kiện kinh tế và xã hội thuận lợi, nghệ thuật Hy Lạp đã vượt qua những đặc điểm trừu tượng và công thức, tiến tới chủ nghĩa hiện thực, đạt được nhiều thành tựu rực rỡ.

Kiến trúc Hy Lạp cổ đại nổi bật với sự thanh thoát và hài hòa với cảnh quan xung quanh, khác với sự hùng vĩ của kiến trúc Ai Cập cổ đại Các công trình thường được xây dựng trên nền móng hình chữ nhật với dãy cột đá tròn ở bốn mặt Ba kiểu thức cột Doric, Ionic và Corinth là niềm tự hào của kiến trúc này Doric xuất hiện vào khoảng thế kỷ VII TCN với những phiến đá vuông giản dị, chịu lực lớn và thường được bố trí ở tầng dưới Ionic ra đời vào khoảng thế kỷ V TCN, có cột thon hơn với đầu cột trang trí đường xoắn ốc, thường đặt ở các tầng giữa Cuối cùng, cột Corinth, xuất hiện vào thế kỷ IV TCN, cao hơn và được trang trí bằng cành lá và hoa, thường được đặt ở tầng trên cùng.

Downloaded by Hei Ut (hut371809@gmail.com)

Hình 2.16 ba kiểu kiến trúc cột phổ biến nhất thời Hy Lạp cổ đại

Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/

Các công trình kiến trúc thời tiền Hy Lạp bao gồm nhiều di sản nổi bật như Cung vua Minos ở Knossos, Thành Tyrins, Kho báu Atreus – Lăng Agamemnon, Cổng Sư tử, Đền Parthenon và Đền Erechtheion Những công trình này không chỉ thể hiện tài năng kiến trúc của người Hy Lạp cổ đại mà còn mang giá trị văn hóa và lịch sử sâu sắc.

Nền văn minh Minoan, còn được biết đến với tên gọi Minos, được xem là một trong những nền văn minh vĩ đại nhất của Hy Lạp, tồn tại từ năm 2700 trước Công nguyên.

Vào khoảng năm 1450 TCN, một trận động đất mạnh đã xảy ra tại hòn đảo Santorini, dẫn đến sự sụp đổ của nền văn minh tinh xảo ở đây Sự kiện này đã mở đường cho sự phát triển của nền văn minh Mycenae trên bán đảo Peloponnese.

Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/

Downloaded by Hei Ut (hut371809@gmail.com)

Phần còn sót lại của bức tường khổng lồ được xây dựng bởi người Mycenae được tìm thấy tại Acropolis ở Athens, Hy Lạp

Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/

Lăng mộ vua Agamemnon, hay còn gọi là Kho bạc của Atreus, được xây dựng vào khoảng năm 1250 TCN và là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu của thời kỳ Mycenaean, kéo dài từ khoảng 1600 TCN.

1100 TCN) thuộc nền văn minh Hy Lạp cổ Đây cũng là một trong những ngôi mộ dạng tổ ong tốt nhất còn được bảo tồn trên thế giới

Hình 2.19 Lăng mộ vua Agamemnon

Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/

Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/

Downloaded by Hei Ut (hut371809@gmail.com)

Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/

Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/

Nghệ thuật kiến trúc của người Hy Lạp cổ đại nổi bật với các kiểu cột được thiết kế dựa trên nguyên tắc tôn vinh vẻ đẹp con người và sự hài hòa toán học Cột Dorian thường được coi là biểu tượng của thân thể nam giới, trong khi cột Ionic phản ánh vẻ đẹp nữ giới Những công trình tiêu biểu như đền Parthenon, biểu tượng của kiến trúc Hy Lạp cổ đại tại Acropole ở Athens, cùng với đền thờ thần Zeus ở Olimpia và đền thờ nữ thần Athena, đều thể hiện sự tinh xảo và hoàn mỹ trong điêu khắc Các kiệt tác này vẫn luôn được thế giới ngưỡng mộ và ca ngợi vì vẻ đẹp tuyệt vời của chúng.

Downloaded by Hei Ut (hut371809@gmail.com) b La Mã

Kiến trúc vòm là một trong những thành tựu vĩ đại của nền kiến trúc La Mã cổ đại, nổi bật hơn cả so với các thức cột của Hy Lạp Mặc dù kiến trúc La Mã ra đời từ thời Cộng hòa và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ kiến trúc Hy Lạp, nhưng từ thế kỷ III TCN, nó đã phát triển thành một phong cách riêng biệt, phản ánh bản sắc độc đáo của mình Thời kỳ phát triển rực rỡ của kiến trúc La Mã kéo dài từ khoảng 100 TCN đến thế kỷ IV, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử kiến trúc nhân loại.

Kiến trúc La Mã cổ đại nổi bật với sự chắc chắn, vững chãi và đồ sộ, tạo nên những công trình nguy nga và bề thế hơn hẳn so với kiến trúc Hy Lạp, vốn thường mảnh dẻ và tinh tế.

Trong thiết kế kiến trúc cổ đại, yếu tố công năng sử dụng thường được ưu tiên hơn so với sự hài hòa và cân đối giữa công trình và môi trường xung quanh Điều này đặc biệt thể hiện rõ trong cách mà các kiến trúc sư thời đó tiếp cận với không gian và chức năng của các công trình.

La Mã cổ đại đã sử dụng bê-tông tự nhiên, một hỗn hợp từ đá vôi, cát núi lửa và đá, để xây dựng nhiều công trình nổi tiếng Những công trình tiêu biểu như đền Pathéon, Đấu trường Colissée, Nhà tắm Caracalla, Nhà hát Marcellus, cùng với các khải hoàn môn, cầu dẫn nước và hệ thống đường giao thông khoa học, vẫn được nhắc đến cho đến ngày nay.

Kết cấu vững chắc đã giúp người La Mã xây dựng những công trình vĩ đại như đấu trường và trường đua ngựa, nhiều trong số đó vẫn tồn tại đến ngày nay Điều này thể hiện sự ngưỡng mộ đối với tri thức và kỹ thuật xây dựng tiên tiến của người La Mã cổ đại.

Các công trình kiến trúc của Hy Lạp và La Mã cổ đại mang ý nghĩa tôn giáo sâu sắc, được xây dựng để tôn thờ các đồi núi, các tinh tú trên bầu trời và các vị vua.

2.5.2 Điêu khắ c a Hy Lạp Điêu khắc Hy Lạp cổ đại được xem là chuẩn mực của điêu khắc Phương Tây đương thời Người Hy Lạp đã để lại những hình mẫu, đặc biệt là những quy chuẩn, tỷ lệ giữa các bộ phận cơ thể về điêu khắc người Các bức tượng của Myron không chỉ thể hiện sức mạnh, vóc dáng khỏe khoắn của ngoại hình mà còn diễn tả nội tâm của nhân vật một cách sâu sắc và tinh tế Ngày nay, tác phẩm Lực sĩ ném đĩa của Myron (Hình 2.23), Tượng thần Hermes, tượng Thần Vệ nữ của Praxiten, tượng Nữ thần chiến thắng bằng đá cẩm thạch với đôi cánh lộng lẫy, tượng Nữ thần Athena trong đền Parthenon, tượng Người chỉ huy chiến đấu ở quảng trường Athens, tượng Thần Zeuskhảm ngà voi và vàng đặt trong đền thờ thần Zeus ở Olimpia cũng được coi là những kiệt tác của điêu khắc nhân loại.

Downloaded by Hei Ut (hut371809@gmail.com)

Hình 2.23 Tượng Lực sĩ ném đĩa

Nguồn: https://www.hinhanhlichsu.org/

Kiến trúc Hy Lạp cổ đại có ảnh hưởng sâu rộng đến ngôn ngữ thiết kế hiện nay, đóng vai trò là nền tảng và đỉnh cao trong sự phát triển của kiến trúc và điêu khắc toàn cầu Như Ăng-ghen đã nói, "Không có các cơ sở do Hy Lạp và La Mã hình thành thì không thể có châu Âu hiện đại." Các công trình kiến trúc, từ nhà cửa đến các cột xây dựng trên khắp châu Âu ngày nay, đều mang dấu ấn của kiến trúc Hy Lạp cổ đại.

Tri ế t h ọ c

Hy Lạp được coi là cái nôi của triết học phương Tây, hình thành từ nền kinh tế công thương nghiệp phát triển và xã hội nô lệ cao Triết học tại đây ít bị ảnh hưởng bởi tôn giáo và có sự giao thoa mạnh mẽ với các nền văn minh phương Đông Trong triết học Hy Lạp cổ điển, nổi bật là hai trường phái đối lập: duy tâm và duy vật.

Trong lịch sử triết học, những nhà triết học duy vật cổ đại nổi bật ở Hy Lạp như Thales, Anaximan, Anaximene, Heraclite, Ampedocle, Anaxagore, Democrite và Epicure đã đóng góp quan trọng vào việc tìm kiếm câu trả lời về sự hình thành thế giới thông qua vật chất, thay vì dựa vào tôn giáo hay tín ngưỡng Mặc dù họ chưa thể giải thích chính xác thế giới tự nhiên và mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội do những hạn chế của thời đại, nhưng những tư tưởng của họ, mặc dù còn ngây thơ và máy móc, đã tạo nền tảng cho sự phát triển của triết học duy vật biện chứng sau này.

Các đại biểu xuất sắc nhất trong trường phái triết học duy tâm Hy Lạp cổ đại là:

Protagoras, Socrates (469 – 339 TCN), Platon (427 – 347 TCN), Aristotle (348 – 322 TCN) và phải ngụy biện nổi tiếng với Zenon Trường phái triết học duy tâm Hy Lạp cổ

Hei Ut (hut371809@gmail.com) cho rằng không tồn tại chân lý khách quan, mà chỉ có nhận thức chủ quan tương đối Quan điểm này thường dẫn đến những tư tưởng mang tính thần bí và siêu hình.

Triết học Hy Lạp cổ đại, được coi là nền tảng của triết học phương Tây, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tư duy và tri thức của nhân loại Những tư tưởng của các triết gia như Socrates, Plato và Aristotle không chỉ ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực khoa học, chính trị và nghệ thuật mà còn định hình cách chúng ta hiểu về con người và thế giới xung quanh Sự phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại đã mở ra những câu hỏi về bản chất của thực tại, đạo đức và sự tồn tại, tạo nền tảng cho nhiều trường phái tư tưởng sau này Chính vì vậy, triết học Hy Lạp cổ đại vẫn giữ vị trí quan trọng trong lịch sử tư tưởng nhân loại.

Các nhà duy vật Hy Lạp cổ đại đã đưa ra những giải đáp về nguồn gốc và bản chất của con người, khẳng định mối quan hệ khăng khít giữa con người và giới tự nhiên Họ nhận thấy rằng con người và tự nhiên có cùng nguồn gốc và bản chất, tạo nền tảng cho quan niệm của Mác và Ăngghen sau này Mặc dù quan niệm này vẫn mang tính trực quan, nhưng nó đã đặt nền móng cho những hiểu biết sâu sắc hơn về con người trong triết học sau này.

Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại không chỉ khám phá mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, mà còn nhấn mạnh mối quan hệ giữa con người với xã hội Quan niệm này đã được Mác kế thừa và phát triển thêm trong tư tưởng của mình.

Tính nhân văn trong triết học Hy Lạp cổ đại tập trung vào việc giúp con người đạt được tự do và hạnh phúc Mỗi triết gia có quan điểm riêng về vấn đề này, nhưng sự quan tâm chung đến con người phản ánh rõ nét tính nhân văn của triết học thời kỳ này, đặc biệt trong bối cảnh xã hội đầy rẫy trắc trở và bất công.

Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại rất coi trọng tri thức và những hiểu biết của con người, đặc biệt là những nhà thông thái, những người được xem là có tri thức sâu rộng Trong quan niệm của họ, đặc biệt là của Socrate, tri thức đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành đạo đức, tự do và hạnh phúc của con người.

Trong nền dân chủ chủ nô, các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã sâu sắc tìm hiểu về con người và xã hội, coi con người không chỉ là chủ thể mà còn là đối tượng nghiên cứu Thời kỳ phát triển xã hội cho phép công dân suy nghĩ về trách nhiệm và quyền lợi tập thể gắn liền với quyền lợi quốc gia Nhà khai sáng Protago khẳng định: “Con người - thước đo của vạn vật”, lấy con người làm hệ quy chiếu để giải quyết các vấn đề tồn tại và nhận thức Trong sự tự do tự ý thức, Protago coi nghệ thuật tranh luận là cách chứng minh vai trò của chủ thể, trong khi Socrate lại chọn cách tiếp cận khác.

Sự tự do được tôn vinh chỉ khi nó gắn liền với mục đích đạo đức cao nhất, đó là cái Thiện phổ quát.

Triết học Roma cổ đại chủ yếu kế thừa và phát triển từ các trường phái triết học Hy Lạp, chia thành hai trường phái chính: duy vật và duy tâm Lucretius (98 - 55 TCN) là đại diện cho trường phái duy vật, chịu ảnh hưởng từ Democrite và Epicure Tác phẩm duy nhất của ông, "Bàn về bản chất của sự vật," trình bày thuyết nguyên tử luận, cho rằng mọi vật trong vũ trụ đều do nguyên tử cấu tạo và phát triển theo quy luật tự nhiên Ông cho rằng con người là sản phẩm của nguyên tử, không phải do thần thánh sinh ra, và sự tiến hóa của loài người gắn liền với sự phát triển của công cụ lao động Ngược lại, Senèque (4 TCN – 65) đại diện cho tư tưởng duy tâm, là triết gia, nhà hùng biện và gia sư của hoàng đế Nero, để lại nhiều tác phẩm như "Bàn về nhân từ" và "Bàn về cuộc sống hạnh phúc."

Bàn về sự yên tĩnh của tinh thần, quan điểm của ông cho rằng con người có định mệnh, và định mệnh này thống trị tự nhiên, khiến con người không thể thay đổi thế giới Triết lý của ông mang tính chất chủ nghĩa duy tâm tôn giáo, phản động, khuyến khích thái độ cam chịu trước số phận và quyền bình đẳng trừu tượng về linh hồn Ông nhấn mạnh rằng "cuộc sống thực tại chỉ là khúc dạo đầu cho cuộc sống thực ở thế giới bên kia" sau khi chết Ănghen đã gọi ông là cha đỡ đầu của đạo Kitô, và bên cạnh đó, trường phái duy tâm còn có những tên tuổi khác như Epictetes và Marcus Aurelius.

Tôn giáo – Tín ngưỡng

Tín ngưỡng của người Hy Lạp mang tính tự do và khoáng đạt, không bị ràng buộc bởi những tín điều nghiêm ngặt như nhiều tôn giáo phương Đông Mỗi cá nhân có thể tự do quan niệm về thế giới bên kia mà không lo bị chỉ trích Mục tiêu chính của việc thờ cúng các vị thần là cầu xin sự che chở cho gia đình, bộ lạc hoặc thành bang Mỗi thành bang, nghề nghiệp và lĩnh vực đều có vị thần bảo trợ riêng, như thần Athena bảo trợ thành Athens và thần Zeus bảo trợ cho thành phố khác.

Trong văn hóa Hy Lạp cổ đại, nhiều vị thần như Hera, Dionissos, Clio, Aphrodite, Hephaistos và Ares có vai trò quan trọng trong đời sống của người dân Dionissos là thần bảo trợ cho nghề trồng nho và sản xuất rượu, trong khi Clio đại diện cho lịch sử, và Aphrodite là nữ thần của tình yêu và sắc đẹp Mặc dù có sự thờ phụng các vị thần này, phần lớn cư dân Hy Lạp không coi việc hành đạo là để cứu rỗi linh hồn của họ.

Tín ngưỡng của người Hy Lạp cổ đại chủ yếu là đa thần giáo, trong đó không chỉ có các vị thần mà còn có những anh hùng nổi tiếng với những chiến công phi thường Những câu chuyện huyền bí về các anh hùng và cuộc phiêu lưu của họ đã tạo nên kho tàng thần thoại phong phú, đóng vai trò quan trọng trong văn học Hy Lạp và góp phần nuôi dưỡng nghệ thuật của nền văn minh này.

Các vị thần trong tín ngưỡng Hy Lạp cổ đại mang hình dáng con người, thể hiện cả những đức tính tốt lẫn xấu, gần gũi với đời sống thường nhật Họ sống hòa nhập với nhân loại mà không ai nhận ra, chỉ khác biệt ở sự bất tử, sức mạnh và kích thước vượt trội Để bảo vệ con người và vùng đất của họ, các vị thần sẵn sàng tham gia chiến đấu Tính cách, hình dáng và gia phả của các thần được hình thành qua tác phẩm của các nhà thơ, kiến trúc sư và điêu khắc gia, những người không phải thần thánh Do đó, tín ngưỡng của người Hy Lạp cổ đại không chỉ đơn thuần là một trường dạy đạo đức và luân lý.

2.7.2 La Mã a Hình thức tôn giáo ban đầu

Giống như người Hy Lạp, người La Mã ban đầu theo đa thần giáo, tin rằng các hiện tượng tự nhiên và mọi điều trong cuộc sống đều do các vị thần tác động Mỗi sự vật và hoạt động của con người đều được gán cho một vị thần nhất định Sau khi tiếp xúc với nền văn minh Hy Lạp, tôn giáo của họ cũng có những thay đổi đáng kể.

La Mã đã tiếp thu và chuyển hóa toàn bộ hệ thống thần thánh của người Hy Lạp thành những tên gọi mang đặc trưng La Mã Vào khoảng thế kỷ I, một tôn giáo mới xuất hiện tại La Mã, có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tâm linh của cư dân La Mã và thế giới sau này, đó chính là Ki-tô giáo.

Năm 63 TCN, La Mã chinh phục vùng đất Palestine, thiết lập một chế độ cai trị và bóc lột hết sức hà khắc Các cuộc khởi nghĩa của người Do Thái chống lại La Mã đều bị dìm trong biển máu Đời sống người dân không lối thoát nên họ trông chờ vào sự giải thoát của một thế lực siêu nhiên nào đó Trong bối cảnh đó, những tư tưởng của trường phái triết học khắc kỷ đã chi phối họ khá mạnh mẽ Trong đó, Senèque thì khuyên mọi người phải biết sống nhẫn nhục, chịu đựng để có một cuộc sống sung sướng sau khi chết, còn

Downloaded by Hei Ut (hut371809@gmail.com)

Phillo đề cập đến một Thiên Đạo - Đấng Cứu Thế, đóng vai trò là trung gian giữa thể xác và linh hồn, cùng với ảnh hưởng của đạo Do Thái và những lời tiên tri về sự ra đời của Đấng Cứu Thế cứu vớt nhân loại Tất cả những yếu tố này, kết hợp với giáo lý mà Jesus Christ truyền bá, đã tạo nền tảng cho sự hình thành của Ki-tô giáo.

3.7.2.1 Vài nét về Ki- tô giáo nguyên thủy:

Ki-tô giáo là một tôn giáo xuất hiện vào thế kỷ I tại vùng đồng của đế quốc La Mã, thuộc lãnh thổ Palestin, và là sản phẩm của chế độ chiếm hữu nô lệ Người sáng lập Ki-tô giáo là Jesus Christ, người tự nhận mình là Thiên Chúa, con của Đức Chúa Trời Ông bắt đầu sự nghiệp truyền đạo ở tuổi 29 và bị chính quyền La Mã xử án hành hình trên cây thập tự khi 33 tuổi.

Ki-tô giáo, ban đầu là tôn giáo của người nghèo và nô lệ, được Jesus truyền bá với thông điệp về sự bình đẳng giữa mọi người, bất kể địa vị xã hội Ông chỉ trích nhà nước La Mã như một thế lực tội lỗi sẽ bị diệt vong, trong khi tín đồ Ki-tô giáo sẽ được sống trong hạnh phúc và bình đẳng trong vương quốc của Chúa Giáo lý Ki-tô giáo được ghi chép trong Kinh Cựu ước và Kinh Tân ước, với Mười điều răn là nền tảng của đạo luật Đạo Ki-tô khuyến khích con người kiên nhẫn chịu đựng khổ đau trong cuộc sống để đạt được hạnh phúc vĩnh cửu ở thiên đàng Niềm tin vào sự tồn tại của Thiên Chúa, Chúa Jesus và Thánh Thần trong một thể thống nhất, cùng với các khái niệm về thiên đường, địa ngục, thiên thần và ma quỉ, cũng là những yếu tố quan trọng trong đạo Ki-tô.

Khi mới hình thành, Ki-tô giáo không yêu cầu các lễ nghi phức tạp hay có những điều cấm kị nghiêm ngặt Các tín đồ sống trong các công xã Ki-tô giáo, nơi họ thực hành tương thân tương ái và duy trì cuộc sống bình đẳng, đồng thời lên án sự giàu có và bóc lột Những giá trị này đã tạo nên một cuộc vận động xã hội, góp phần thu hút và hình thành Ki-tô giáo.

3.7.2.2 Quá trình truyền bá Ki - tô giáo ở La Mã thời cổ đại:

Quá trình truyền bá đạo Ki-tô ở La Mã thời cổ đại có thể chia thành 2 giai đoạn chính như sau:

Giai đoạn từ thế kỷ 1 đến đầu thế kỷ IV, Ki-tô giáo bị coi là mối đe dọa đối với nhà nước La Mã, dẫn đến sự đàn áp tàn bạo đối với các tín đồ Tuy nhiên, số lượng tín đồ Ki-tô giáo vẫn không ngừng gia tăng Để xoa dịu mâu thuẫn xã hội và dựa vào tư tưởng "Vương quốc trả cho vua, Thiên quốc trả cho Chúa Trời", nhà nước La Mã đã quyết định ngừng đàn áp Ki-tô giáo vào năm 311.

Downloaded by Hei Ut (hut371809@gmail.com)

Từ đầu thế kỷ IV đến nửa cuối thế kỷ V, nhà nước La Mã đã chính thức công nhận Ki-tô giáo với sự kiện năm 313, khi hoàng đế Constantine chịu lễ rửa tội và trở thành tín đồ Ki-tô giáo vào năm 337 Ông cũng tổ chức đại hội Ki-tô đầu tiên vào năm 325, dẫn đến việc tuyên bố Ki-tô giáo là quốc giáo vào cuối thế kỷ IV Kể từ đó, chính quyền La Mã đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôn giáo này phát triển và lan rộng trong toàn đế quốc.

Nhà nướ c và Lu ậ t pháp

Văn minh nhân loại, đặc biệt là các quốc gia phương Tây, đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các khái niệm và hệ thống pháp luật của Hy Lạp cổ đại, trong đó dân chủ được coi là một thành tựu quan trọng của nền văn minh này.

Nhà nước Hy Lạp cổ đại hình thành từ sự tan rã của xã hội thị tộc, với Athens là thành bang điển hình của chế độ dân chủ Dưới sự lãnh đạo của Thesée, Athens chia thành ba tầng lớp: quý tộc, nông dân và thợ thủ công, nhưng quyền lợi kinh tế và chính trị chủ yếu thuộc về quý tộc Mâu thuẫn xã hội gia tăng dẫn đến việc quý tộc phải ban hành luật Dracon, một bộ luật nổi tiếng với tính hà khắc, được khắc trên bia đá công cộng để đảm bảo tính minh bạch trong xét xử Mặc dù còn nhiều hạn chế, việc ban hành luật thành văn đánh dấu bước tiến quan trọng trong tổ chức nhà nước Athens so với xã hội phương Tây thời bấy giờ.

Nhà nước dân chủ ở Athens đã trải qua nhiều cải cách quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của công dân, bắt đầu từ bộ luật Dracon (621 TCN) và tiếp tục với những cải cách của Solon (594 TCN), Cleisthene (508 TCN), Ephialtes (461 TCN) và Pericles (495 - 429 TCN) Những bước tiến này đã góp phần hoàn thiện hệ thống dân chủ chủ nô tại Athens.

Nền văn minh Hy Lạp cổ đại đạt được những thành tựu rực rỡ và đa dạng, trở thành đỉnh cao của văn minh cổ đại và là mẫu mực cho nhiều nền văn hóa trong lịch sử Những đóng góp to lớn của nền văn minh này đã tạo nền tảng cho các ngành khoa học hiện đại, nhờ vào một nền kinh tế phát triển, thể chế dân chủ không bị chi phối bởi tôn giáo và sự tiếp thu tinh tế các thành tựu văn hóa Phương Đông Với trí thông minh và sự cần cù, người Hy Lạp cổ đại đã xây dựng một nền văn minh lôi cuốn trong thời kỳ đầu của nhân loại.

Downloaded by Hei Ut (hut371809@gmail.com)

Cùng với Hy Lạp, người La Mã đã góp phần thiết lập nên những nền tảng đầu tiên về luật pháp và ý thức nhà nước.

Vào giữa thế kỷ VI TCN, trước áp lực từ phong trào bình dân đòi quyền bình đẳng, nhà nước La Mã đã quyết định ban hành luật thành văn Năm 454 TCN, ba đại diện được cử sang Hy Lạp để học hỏi cách biên soạn luật pháp Đến năm 551 TCN, Luật mười bảng ra đời nhưng chưa đầy đủ, sau đó được chỉnh sửa thành Luật mười hai bảng Bộ luật này đề cập đến nhiều khía cạnh của đời sống xã hội, bao gồm quy trình tố tụng, thừa kế tài sản, vay nợ, quan hệ gia đình và địa vị của phụ nữ.

Luật mười hai bảng, mặc dù có nhiều hình phạt nghiêm khắc, đã giúp hạn chế sự xét xử độc đoán của quý tộc và tạo nền tảng cho sự phát triển của hệ thống pháp luật.

Nền văn minh La Mã cổ đại được coi là một trong những nền văn minh vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới, với những thành tựu nổi bật đã đóng góp tài sản vô giá cho nhân loại Những di sản này không chỉ là mẫu mực cho nhiều nền văn minh cổ đại khác mà còn là nền tảng cho sự phát triển của các ngành khoa học hiện đại.

Downloaded by Hei Ut (hut371809@gmail.com)

Kết luận, ít ai ngờ rằng một quốc gia nhỏ bé như Hy Lạp lại từng có nền văn minh vĩ đại, đóng góp quan trọng cho lịch sử nhân loại Sau khi châu Âu trở thành châu lục thống trị, văn minh Hy Lạp cổ đại lại tỏa sáng và trở thành những giá trị kinh điển, được các quốc gia trên thế giới học tập và áp dụng cho đến ngày nay.

Nền văn minh Hy – La đạt được thành công nhờ vào những giá trị cốt lõi như sự hiểu biết, nỗ lực học hỏi và sáng tạo không ngừng Bên cạnh đó, chiến lược đúng đắn cùng tinh thần đoàn kết và tầm ảnh hưởng rộng lớn cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nền văn minh này.

Dưới đây là tóm tắt những thành tựu văn hóa nổi bật của Hy Lạp và La Mã cổ đại, những di sản này đã được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng và phát triển.

- Người Hy Lạp và La Mã đã sáng tạo ra hệ chữ cái La-tinh (A, B, C, ) và chữ số

La Mã mà ngày nay chúng ta đang sử dụng

Văn học cổ đại Hy Lạp và La Mã nổi bật với đa dạng thể loại như thần thoại, kịch và thơ Những tác giả tiêu biểu như Hô-me với hai tác phẩm nổi tiếng "Hi-át" và "Ô-đi-xê" từ Hy Lạp, cùng nhà soạn kịch Xô-phốc với vở kịch "Ơ-địp làm vua" đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử văn học.

Người Hy Lạp đã tổng hợp những hiểu biết khoa học của người phương Đông, từ đó hình thành các định lý và định đề quan trọng, góp phần tạo nền tảng cho sự phát triển của nhiều lĩnh vực khoa học sau này, như định lý Pythagore, định lý Talet và định luật Archimedes.

- Người Hy Lạp và La Mã đã biết làm lịch dựa trên sự di chuyển của Trái Đất xung quanh Mặt Trời Đó là dương lịch

Các nhà sử học nổi bật của Hy Lạp và La Mã cổ đại bao gồm Hê-rô-đốt với tác phẩm "Lịch sử chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư", Tuy-x-dit với "Lịch sử chiến tranh Pg10-pôn-net", và PO-li-bl-ut với bộ "Thông sử".

Nhiều tác phẩm điêu khắc từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại, như tượng Thần Vệ nữ Mi-lô và bức tượng Lục sĩ ném đĩa, vẫn được coi là mẫu mực của nghệ thuật điêu khắc cho đến ngày nay.

Nữ thần A-tê-na, thần Hec-met và những phủ điều trên Khải hoàn môn,

Người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã tạo ra nhiều công trình kiến trúc nổi tiếng, trong đó nhiều công trình vẫn được bảo tồn đến ngày nay Kiến trúc Hy-La cổ đại đã được thế giới công nhận và trở thành nguồn cảm hứng cho các công trình hiện đại Kiến trúc châu Âu hiện nay phát triển dựa trên nền tảng của kiến trúc cổ đại Hy-La và Tây Âu.

Hy Lạp và La Mã cổ đại còn để lại cho thế giới những tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu, đặc trưng:

Downloaded by Hei Ut (hut371809@gmail.com)

- Thần thoại Hi Lạp: Các vị thần như thần Dớt của Hy Lạp trở thành Giupite của La

Mã –Thần Nêva –vợ thần Dớt của Hy Lạp thành thần Giumông –vợ của Giupite của La Mã

- Kịch: Kịch Hy Lạp có hai loại: bi kịch và hài kịch, có những nhà soạn kịch nổi tiếng như: Etsin, Xôphốc, Ơripit

Ngày đăng: 20/01/2022, 07:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Bảng chữ cái cổ Hy Lạp bao gồm 24 ký tự - NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HÓA MÀ THẾ GIỚI HIỆN đại KẾ THỪA TỪ HY – LA
Hình 2.1. Bảng chữ cái cổ Hy Lạp bao gồm 24 ký tự (Trang 6)
Hình 2.5. Arixtophan (446-386 TCN) - NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HÓA MÀ THẾ GIỚI HIỆN đại KẾ THỪA TỪ HY – LA
Hình 2.5. Arixtophan (446-386 TCN) (Trang 16)
Hình 2.6. Herodos ( 484-425 TCN) - NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HÓA MÀ THẾ GIỚI HIỆN đại KẾ THỪA TỪ HY – LA
Hình 2.6. Herodos ( 484-425 TCN) (Trang 17)
Hình 2.7. Thuycydides (460-395 TCN) - NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HÓA MÀ THẾ GIỚI HIỆN đại KẾ THỪA TỪ HY – LA
Hình 2.7. Thuycydides (460-395 TCN) (Trang 18)
Hình 2.8. Thales (642 - 548 TCN) - NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HÓA MÀ THẾ GIỚI HIỆN đại KẾ THỪA TỪ HY – LA
Hình 2.8. Thales (642 - 548 TCN) (Trang 20)
Hình 2.9. Pythagore (580 - 500 TCN) - NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HÓA MÀ THẾ GIỚI HIỆN đại KẾ THỪA TỪ HY – LA
Hình 2.9. Pythagore (580 - 500 TCN) (Trang 21)
Hình 2.12. Aristarque (310 - 230 TCN) - NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HÓA MÀ THẾ GIỚI HIỆN đại KẾ THỪA TỪ HY – LA
Hình 2.12. Aristarque (310 - 230 TCN) (Trang 23)
Hình 2.13. Eurathosthène (284 - 192 TCN) - NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HÓA MÀ THẾ GIỚI HIỆN đại KẾ THỪA TỪ HY – LA
Hình 2.13. Eurathosthène (284 - 192 TCN) (Trang 23)
Hình 2.14. Pline (23- 79) - NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HÓA MÀ THẾ GIỚI HIỆN đại KẾ THỪA TỪ HY – LA
Hình 2.14. Pline (23- 79) (Trang 24)
Hình 2.15. Ptolemée (85-165) - NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HÓA MÀ THẾ GIỚI HIỆN đại KẾ THỪA TỪ HY – LA
Hình 2.15. Ptolemée (85-165) (Trang 25)
Hình  2.16. ba kiểu kiến trúc cột phổ biến nhất thời Hy Lạp cổ đại - NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HÓA MÀ THẾ GIỚI HIỆN đại KẾ THỪA TỪ HY – LA
nh 2.16. ba kiểu kiến trúc cột phổ biến nhất thời Hy Lạp cổ đại (Trang 27)
Hình 2.17. Cung Minos - NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HÓA MÀ THẾ GIỚI HIỆN đại KẾ THỪA TỪ HY – LA
Hình 2.17. Cung Minos (Trang 27)
Hình 2.20 . Cổng Sư tử - NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HÓA MÀ THẾ GIỚI HIỆN đại KẾ THỪA TỪ HY – LA
Hình 2.20 Cổng Sư tử (Trang 28)
Hình 2.18. Thành Tyrins - NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HÓA MÀ THẾ GIỚI HIỆN đại KẾ THỪA TỪ HY – LA
Hình 2.18. Thành Tyrins (Trang 28)
Hình 2.19.  Lăng mộ vua Agamemnon - NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HÓA MÀ THẾ GIỚI HIỆN đại KẾ THỪA TỪ HY – LA
Hình 2.19. Lăng mộ vua Agamemnon (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w