1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quy định pháp luật về phí bảo hiểm tài sản thực trạng và giải pháp (2)

67 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy Định Pháp Luật Về Phí Bảo Hiểm Tài Sản - Thực Trạng Và Giải Pháp
Tác giả Trần Tôn Châu Giang
Người hướng dẫn ThS. Phan Phương Nam
Trường học Trường Đại Học Luật TP HCM
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật
Năm xuất bản 2013
Thành phố TP HỒ CHÍ MINH
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,6 MB

Cấu trúc

  • TRẦN TÔN CHÂU GIANG

  • 6. Ý nghĩa khoa học và phạm vi ứng dụng của đề tài

  • 5. Nghị định 46/2007/NĐ-CP quy định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.

  • Word Bookmarks

    • dieu_25

Nội dung

Khái quát chung về phí bảo hiểm tài sản và quy định pháp luật của phí bảo hiểm tài sản

Khái quát chung về phí bảo hiểm tài sản 5 1 Khái niệm phí bảo hiểm

1.1.1 Khái niệm phí bảo hiểm

Theo quy định pháp lý, phí hay lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi nhận dịch vụ từ một bên khác Phí được thu nhằm bù đắp chi phí hoạt động của các cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ cho xã hội Việc thu phí dựa trên nguyên tắc rằng bên nhận phí sẽ nhận được lợi ích nhất định từ dịch vụ được cung cấp Do đó, các chủ thể khi đưa sản phẩm, dịch vụ ra thị trường cần thu phí để hồi vốn và trang trải chi phí đầu tư cũng như quản lý Phí có tính chất tự nguyện và đối giá.

Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về phí bảo hiểm

Chẳng hạn, theo khái niệm đƣợc đƣa ra trong từ điển Oxford: “Phí bảo hiểm là một số tiền phải trả cho một hợp đồng bảo hiểm.” 2

Theo Black’s Law Dictionary, phí bảo hiểm được định nghĩa là khoản thanh toán định kỳ cần thiết để duy trì hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm.

Theo Luật Kinh doanh bảo hiểm Việt Nam, phí bảo hiểm được định nghĩa là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm cần thanh toán cho doanh nghiệp bảo hiểm, dựa trên thời hạn và phương thức đã được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

Phí bảo hiểm, theo quy định của luật dân sự hiện hành, được định nghĩa là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm cần phải thanh toán cho bên bảo hiểm.

Phí bảo hiểm là khoản tiền mà người tham gia bảo hiểm chi trả cho công ty bảo hiểm nhằm nhận được sự bảo đảm trước các rủi ro mà họ chuyển giao cho công ty này.

Những cách tiếp cận trên đã nêu đƣợc đặc trƣng nổi bật nhất của phí bảo hiểm:

Phí bảo hiểm là khoản tiền mà người mua bảo hiểm cần trả cho doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) để tham gia vào hợp đồng bảo hiểm Phí này mang tính chất tự nguyện và đối giá, nhằm nhận được gói dịch vụ bảo hiểm từ DNBH với mục đích bảo vệ tài chính.

1 Điều 2, Khoản 1 của Pháp lệnh số 38/2001/PL -UBTVQH10 ngày 28/8/2001 về Phí và Lệ phí

2 “Premium is an amount to be paid for a contract of insurance.” http://oxforddictionaries.com/definition/english/premium?q=premium Cập nhật ngày 29/04/2013

3 Theo Black's Law Dictionary, 7th edition: “Premium: the periodic payment required to keep an insurance policy in effect” Cập nhật ngày 29/04/2013

4 Điều 572, khoản 1 của Bộ luật dân sự 2005

5 Xem thêm Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Giáo trình bảo hiểm, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân

Người mua bảo hiểm cần phải đóng phí bảo hiểm theo đúng thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng, nhằm chia sẻ rủi ro với những người khác.

1.1.2 Khái niệm phí bảo hiểm tài sản

Mặc dù có nhiều khái niệm về phí bảo hiểm, nhưng vẫn chưa có định nghĩa cụ thể nào cho phí bảo hiểm tài sản.

Phí bảo hiểm tài sản là khoản tiền mà người mua bảo hiểm phải trả cho doanh nghiệp bảo hiểm theo các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng Nó không có định nghĩa cụ thể nhưng có thể hiểu là giá cả của sản phẩm bảo hiểm tài sản, tương tự như phí bảo hiểm trách nhiệm dân sự và phí bảo hiểm nhân thọ.

1.1.3 Đặc điểm phí bảo hiểm tài sản

1.1.3.1 Phí bảo hiểm là giá cả của sản phẩm

Kinh doanh bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm tài sản, là một ngành dịch vụ cung cấp các gói sản phẩm bảo hiểm nhằm mục tiêu sinh lợi Doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro đối với tài sản của người được bảo hiểm dựa trên mức phí bảo hiểm đã đóng Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp sẽ thực hiện việc trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm Sản phẩm bảo hiểm thực chất là lời hứa và cam kết từ doanh nghiệp bảo hiểm đối với bên mua, đảm bảo việc bồi thường hoặc trả tiền khi có sự kiện xảy ra.

Khi một doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) ra mắt sản phẩm, giá cả là yếu tố quan trọng mà thị trường quan tâm Giá cả được hiểu là số tiền cần trả cho hàng hóa, dịch vụ hoặc tài sản Để thiết lập mối quan hệ bảo hiểm, DNBH và người mua bảo hiểm cần ký kết hợp đồng, trong đó người mua cam kết đóng phí bảo hiểm Chỉ khi người mua hoàn thành nghĩa vụ đóng phí, mối quan hệ bảo hiểm mới chính thức được hình thành Nói cách khác, phí bảo hiểm chính là giá cả của sản phẩm bảo hiểm.

1.1.3.2 Phí bảo hiểm tài sản phụ thuộc vào nhiều yếu tố

Phí bảo hiểm tài sản là chi phí cho sản phẩm bảo hiểm, và mỗi doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) đều có kế hoạch và mục tiêu rõ ràng khi xác định mức giá cho từng loại tài sản.

6 Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2009), Quản trị KDBH, nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội

7 http://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%C3%A1_c%E1%BA%A3 Cập nhật ngày 02/05/2013

6 sản riêng biệt Vậy nên, phí bảo hiểm tài sản là loại phí chịu nhiều ảnh hưởng từ nhiều nhân tố khác nhau:

Một là, phí bảo hiểm tài sản phụ thuộc vào mục tiêu định phí

Khi đƣa ra giá cả của một sản phẩm bảo hiểm nhất định, mỗi DNBH cần phải xem xét một cách đầy đủ các khía cạnh:

Giá bán kỹ thuật, hay còn gọi là “mức giá hợp lý”, là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp hình thành quỹ tài chính, đảm bảo trang trải các chi phí hoạt động như chi phí lao động, quảng cáo, phân phối sản phẩm và đầu tư phát triển Mức giá này không chỉ cần đủ để bù đắp chi phí mà còn phải mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp Để xác định giá bán kỹ thuật, doanh nghiệp bảo hiểm cần có sự hỗ trợ của chuyên gia định phí, dựa trên tần suất sự kiện bảo hiểm, mức độ tổn thất bình quân và lãi suất đầu tư.

Giá bán thực tế, hay giá thương mại, là mức giá mà người mua bảo hiểm phải trả cho doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) Mức giá này cần đảm bảo tính cạnh tranh giữa các DNBH trên thị trường bảo hiểm, giúp DNBH thu hút khách hàng đến với các gói sản phẩm của mình và duy trì thị phần trong ngành.

Tùy thuộc vào mục tiêu của doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH), việc điều chỉnh phí bảo hiểm tài sản sẽ khác nhau Nếu DNBH ưu tiên lợi nhuận, mức phí sẽ được điều chỉnh nhằm tối đa hóa lợi nhuận mà không chú trọng đến số lượng hợp đồng khai thác Ngược lại, những DNBH tập trung vào việc mở rộng số lượng hợp đồng sẽ có cách điều chỉnh phí bảo hiểm khác.

Hai là, phí bảo hiểm tài sản phụ thuộc vào chi phí

Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với phí bảo hiểm tài sản15

Bảo hiểm tài sản là hoạt động tương hỗ, kết hợp sự tiết kiệm của cá nhân và tổ chức để bù đắp tổn thất do rủi ro gây ra Khi thiệt hại xảy ra, cá nhân không thể tự mình gánh chịu hoàn toàn, nhưng nếu cộng đồng cùng nhau góp sức, việc giải quyết thiệt hại sẽ khả thi Để chia sẻ rủi ro, các cá nhân và tổ chức cần tự nguyện đóng phí bảo hiểm, tạo nên mối liên hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm và khách hàng, cũng như kết nối cộng đồng với từng cá nhân.

1.2.1 Xét từ phương diện kinh tế

Phí bảo hiểm tài sản là khoản thu nhằm bù đắp chi phí hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) trong việc cung cấp dịch vụ bảo hiểm.

13 Tiến sỹ Nguyễn Thị Thủy, tldd, tr17

Khi tham gia vào thị trường bảo hiểm tài sản, các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) luôn đặt lợi nhuận lên hàng đầu và áp dụng các chiến lược như đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng phân phối Để đạt được mục tiêu này, DNBH phải chi trả một số khoản phí nhất định DNBH không hoạt động như những nhà từ thiện mà yêu cầu khách hàng đóng phí để bù đắp chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận Trong khi các doanh nghiệp khác xác định giá bán dựa trên chi phí, DNBH có chu trình kinh doanh ngược, với doanh thu từ phí bảo hiểm thu trước và chi phí phát sinh sau DNBH phải lập quỹ dự phòng từ phí bảo hiểm để đảm bảo trách nhiệm với khách hàng khi xảy ra rủi ro Do đó, việc cân đối giữa thu phí và chi phí dự tính là điều kiện cần thiết để DNBH có thể mang lại lợi nhuận.

Việc thu phí bảo hiểm từ khách hàng là rất quan trọng, không chỉ giúp bù đắp chi phí mà doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) đã chi cho dịch vụ, mà còn đảm bảo nguồn thu ổn định để duy trì lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh.

1.2.2 Về phương diện pháp lý

Quan hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) và người mua bảo hiểm tài sản được thiết lập thông qua hợp đồng bảo hiểm tài sản, một hình thức giao dịch dân sự Giao dịch dân sự này có thể là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương, nhằm tạo ra, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan.

Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên tham gia mong muốn đạt được Hậu quả pháp lý phát sinh từ giao dịch chính là điều mà các chủ thể hướng tới khi thiết lập giao dịch Những mục đích này thường mang tính chất pháp lý, thể hiện rõ ràng trong các quyền và nghĩa vụ dân sự.

Khi giao dịch dân sự hình thành, các bên sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ lẫn nhau Trong hợp đồng bảo hiểm tài sản, bên bảo hiểm thu phí, trong khi bên được bảo hiểm nhận cam kết bồi thường khi sự kiện xảy ra theo thỏa thuận Do đó, việc đóng phí bảo hiểm là nghĩa vụ của người mua, và quyền nhận phí bảo hiểm thuộc về doanh nghiệp bảo hiểm.

Khi muốn bảo vệ quyền lợi tài chính cho tài sản mình sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp, người mua bảo hiểm cần đóng phí bảo hiểm để chia sẻ rủi ro từ cộng đồng Doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) đóng vai trò trung gian, chuyển nguồn tài chính từ cộng đồng đến những người gặp rủi ro về tài sản Việc thu phí bảo hiểm là quyền lợi của DNBH, giúp họ bù đắp tổn thất phát sinh khi cung cấp sản phẩm và dịch vụ DNBH phải chịu chi phí từ khi sản phẩm ra thị trường cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ chi trả tiền bảo hiểm hoặc tiền bồi thường cho khách hàng.

Cần quy định rõ ràng quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong từng trường hợp cụ thể để tối đa hóa quyền lợi của khách hàng, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm.

1.2.3 Vai trò của phí bảo hiểm tài sản

1.2.3.1 Phí bảo hiểm là nguồn vốn chủ yếu của DNBH

Vốn doanh nghiệp thực chất là vốn kinh doanh, đại diện cho giá trị tài sản mà doanh nghiệp sở hữu, được thể hiện bằng tiền và phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận.

Trường Đại học Kinh tế Hồ Chí Minh (2009) đã xuất bản giáo trình lý thuyết tài chính tiền tệ, cung cấp kiến thức quan trọng về lĩnh vực tài chính Tài liệu này được phát hành bởi Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP HCM, trang 46, là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên và những người nghiên cứu về tài chính tiền tệ.

Trong hợp đồng bảo hiểm tài sản, bên bảo hiểm thu phí từ bên được bảo hiểm, đổi lại nhận được cam kết chi trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường khi xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thỏa thuận Phí bảo hiểm tài sản không chỉ là nguồn vốn của doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH), mà còn được xem như nguồn vốn vay, trong đó người mua bảo hiểm đóng vai trò là "chủ nợ".

Các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) không thể kiểm tra độ tin cậy tài chính của người vay, do đó phải trích lập Dự phòng bảo hiểm nghiệp vụ từ phí khách hàng để thanh toán cho các trách nhiệm bảo hiểm đã xác định Hợp đồng bảo hiểm tài sản thường có thời hạn không quá một năm, ngắn hơn so với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, tạo thành nợ ngắn hạn Tuy nhiên, thời gian giữa việc thu phí và trả tiền bồi thường tạo ra nguồn vốn nhàn rỗi cho DNBH, cho phép họ sử dụng quỹ dự phòng nghiệp vụ để đầu tư vào các hoạt động kinh doanh khác, đồng thời vẫn đảm bảo thực hiện các cam kết với khách hàng.

Các hợp đồng bảo hiểm tài sản thường có thời hạn ngắn, thường chỉ kéo dài dưới một năm, và một số nghiệp vụ bảo hiểm có thể chỉ tính bằng giờ, như bảo hiểm hàng hóa vận chuyển Nguồn vốn của doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) từ phí bảo hiểm tài sản được xem là khoản nợ ngắn hạn Hợp đồng bảo hiểm có thể được ký kết bất kỳ lúc nào trong năm, với thời hạn bảo hiểm ngắn và phụ thuộc vào từng loại tài sản Khả năng xảy ra rủi ro là khó lường, do đó, DNBH cần bồi thường kịp thời để chia sẻ rủi ro với khách hàng Vì vậy, DNBH cần sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay ngắn hạn để đảm bảo lợi nhuận và thực hiện cam kết với khách hàng một cách hiệu quả nhất.

1.2.3.2 Phí bảo hiểm là cơ sở để tính bồi thường thiệt hại

Nguyên tắc bồi thường trong kinh doanh bảo hiểm yêu cầu rằng doanh nghiệp bảo hiểm phải khôi phục trạng thái tài chính của người mua bảo hiểm về trước khi xảy ra tổn thất Người mua bảo hiểm chỉ được bồi thường ở mức không vượt quá giá trị tổn thất thực tế hoặc quyền lợi bảo hiểm mà họ xứng đáng nhận Mục đích của nguyên tắc này là đảm bảo tính công bằng và bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm tài sản.

16 Nguyễn Văn Thành (3/2009), ô Bảo vệ người tham gia bảo hiểm ằ, Tạp chớ Nhà quản lý, (69)

17 Xem thêm Khoản 1, Điều 96, Luật KDBH đã đƣợc sửa đổi bổ sung 2010

Khái quát chung về pháp luật của phí bảo hiểm tài sản

Phí bảo hiểm tài sản là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải trả cho doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) theo thỏa thuận trong hợp đồng Mối quan hệ về phí bảo hiểm chủ yếu giữa DNBH và bên mua bảo hiểm Để bảo vệ mối quan hệ này, việc ban hành và thực hiện pháp luật về phí bảo hiểm tài sản là rất quan trọng Pháp luật về phí bảo hiểm tài sản được hiểu là tập hợp các quy định điều chỉnh vai trò của phí bảo hiểm, cũng như nghĩa vụ và quyền lợi của các bên trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm tài sản.

1.3.2 Nội dung của quy định pháp luật về phí bảo hiểm tài sản

1.3.2.1 Yếu tố chi phối đến phí bảo hiểm tài sản theo quy định của pháp luật a) Giá trị tài sản

Trong quan hệ bảo hiểm tài sản, nguyên tắc định phí tài sản là yếu tố quan trọng mà các bên cần tuân thủ Nguyên tắc này yêu cầu phí bảo hiểm phải dựa trên mức độ rủi ro, đảm bảo sự công bằng trong hoạt động bảo hiểm Cụ thể, khi rủi ro và tổn thất tiềm ẩn tăng cao, mức phí bảo hiểm cũng phải tăng tương ứng Việc dự liệu tổn thất trong tương lai là rất cần thiết để giảm thiểu mức bồi thường Do đó, doanh nghiệp bảo hiểm cần xác định mức phí bảo hiểm phù hợp với giá trị tài sản được bảo hiểm, yếu tố luôn được các bên quan tâm.

Trong quan hệ bảo hiểm tài sản, đối tượng bảo hiểm là tài sản, nhưng khách thể của hợp đồng bảo hiểm tài sản lại là lợi ích kinh tế đã có sẵn của đối tượng bảo hiểm, được gọi là lợi ích bảo hiểm Mục đích chính của người đề nghị bảo hiểm khi ký kết hợp đồng với doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) là bảo vệ quyền lợi tài chính liên quan đến tài sản của họ Điều này có nghĩa là họ muốn bảo vệ giá trị tài sản mà họ xứng đáng được hưởng nếu không gặp phải rủi ro trong tương lai Để được xem là đối tượng của hợp đồng bảo hiểm tài sản và làm cơ sở tính phí bảo hiểm, giá trị tài sản cần phải đáp ứng những điều kiện nhất định.

- Quyền sở hữu tài sản

Quan hệ bảo hiểm tài sản tập trung vào những tài sản có nguồn gốc từ quan hệ sở hữu, trong đó quan hệ sở hữu đóng vai trò là cơ sở pháp lý cho các quan hệ khác Để tài sản có thể được bảo hiểm, cần xác định rõ tài sản đó thuộc sở hữu của ai và bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi như thế nào đối với tài sản được bảo hiểm.

Theo quy định của pháp luật dân sự, chủ sở hữu tài sản có đầy đủ quyền năng bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt Do đó, chủ sở hữu hoàn toàn có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) bảo vệ tài sản của mình thông qua việc bảo hiểm quyền lợi tài chính liên quan đến tài sản.

Chủ sở hữu tài sản không chỉ giữ quyền lực mà còn tìm cách tối ưu hóa giá trị của tài sản Trong nhiều trường hợp, họ có thể chuyển nhượng một số quyền sở hữu để tài sản phát huy hiệu quả tốt nhất.

Chuyển quyền chiếm hữu và quyền sử dụng tài sản giữa các chủ thể được quy định rõ ràng trong pháp luật dân sự, bao gồm các hình thức như cho thuê và cho mượn Khi quyền được chuyển giao, các chủ thể nhận quyền có trách nhiệm bảo quản tài sản cho chủ sở hữu Để đảm bảo an toàn cho tài sản, họ có thể đề nghị mua bảo hiểm nếu được chủ sở hữu ủy quyền Mặc dù quyền chiếm hữu hay quyền sử dụng đã được chuyển giao, quyền định đoạt tài sản vẫn thuộc về chủ sở hữu ban đầu Do đó, với sự ủy quyền từ chủ sở hữu, các chủ thể nhận quyền có thể trở thành người mua bảo hiểm hoặc chịu trách nhiệm đóng phí bảo hiểm.

Bảo hiểm tài sản ra đời nhằm chia sẻ tổn thất giữa những người mua bảo hiểm và công ty bảo hiểm Khi xảy ra tổn thất, công ty bảo hiểm sẽ chi trả hoặc bồi thường cho người mua bảo hiểm, giúp họ không phải gánh chịu thiệt hại một mình Tuy nhiên, việc xác định tổn thất thực tế để tiến hành bồi thường sẽ gặp khó khăn nếu không xác định rõ giá trị tài sản được bảo hiểm ngay từ đầu.

Khách thể của hợp đồng bảo hiểm tài sản là lợi ích kinh tế hợp pháp của tài sản, đã được pháp luật công nhận Để mua bảo hiểm cho tài sản, bên mua cần chứng minh tổn thất có ảnh hưởng đến người được bảo hiểm Do đó, khi xác định giá trị tài sản, cả người mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) cần chú ý đến các yếu tố này để đảm bảo hợp đồng tuân thủ quy định pháp luật.

Bảo hiểm tài sản là nhu cầu thiết yếu của người tham gia, nhưng giá trị tài sản được xác định dựa trên thỏa thuận giữa các bên Việc thẩm định giá trị tài sản cần phải cân nhắc giữa việc bảo vệ quyền lợi cho người mua bảo hiểm và đảm bảo nguồn doanh thu cho doanh nghiệp bảo hiểm.

Trong bảo hiểm con người, đối tượng bảo hiểm bao gồm sức khỏe và tính mạng của con người Đối với bảo hiểm trách nhiệm dân sự, đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm của người được bảo hiểm đối với bên thứ ba Những đối tượng này không thể được định giá cụ thể vì liên quan đến con người và các yếu tố có thể xảy ra trong tương lai, không chỉ tại thời điểm ký kết hợp đồng.

18 Tiến sỹ Nguyễn Thị Thủy, tldd, tr65

Trong lĩnh vực bảo hiểm tài sản, việc định giá cụ thể cho 20 loại bảo hiểm trách nhiệm dân sự và quyền lợi bảo hiểm là rất quan trọng Điều này tạo nên sự khác biệt giữa bảo hiểm tài sản và các loại hình bảo hiểm khác Hơn nữa, nguyên tắc cốt lõi của bảo hiểm là chỉ bảo vệ trước các rủi ro đã được xác định, không bao gồm các yếu tố không chắc chắn.

Nguyên tắc bảo hiểm chỉ bảo hiểm những rủi ro xảy ra một cách bất ngờ và ngẫu nhiên, không phải những sự cố chắc chắn sẽ xảy ra Điều này có nghĩa là người bảo hiểm chỉ bồi thường cho các thiệt hại, mất mát do rủi ro gây ra, chứ không bồi thường cho những thiệt hại mà chắc chắn sẽ xảy ra Do đó, việc xác định rủi ro về tài sản để được bảo hiểm là rất quan trọng trong pháp luật bảo hiểm tài sản.

Rủi ro đóng vai trò quan trọng trong bảo hiểm tài sản, là yếu tố cốt lõi quyết định mối quan hệ bảo hiểm Tuy nhiên, rủi ro không phải là một khái niệm rõ ràng mà thường chỉ có thể được đánh giá thông qua những suy đoán gián tiếp.

Rủi ro là sự không chắc chắn liên quan đến những vấn đề có thể xảy ra trong tương lai, nằm ngoài tầm kiểm soát của con người Sự xuất hiện của các rủi ro này có thể dẫn đến tổn thất hoặc hậu quả nghiêm trọng đối với tài sản của con người.

Thực trạng áp dụng pháp luật về phí bảo hiểm tài sản tại Việt Nam và một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về phí bảo hiểm tài sản31

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000 Khác
3. Luật số 61/2010/QH12 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm Khác
4. Nghị định 45/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 3 năm 2007 của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm Khác
5. Nghị định 46/2007/NĐ-CP quy định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm Khác
6. Pháp lệnh số 38/2001/PL -UBTVQH10 ngày 28/8/2001 về Phí và Lệ phí Khác
7. Quyết định 23/2003/QĐ-BTC về việc ban hành Quy tắc, Biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự củachủ xe cơ giới Khác
8. Quyết định 315/QĐ-TTg Về việc thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011 – 2013 Khác
9. Quyết định số 1042/QĐ-BTC sửa đổi, bổ sung Quyết định số 3055/QĐ-BTC ngày 16/12/2011 Khác
10. Thông tư 125/2012/TT-BTC hướng dẫn chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w