Tính cấp thiết của đề tài
Công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc được Đảng và Nhà nước coi là chiến lược quan trọng trong cách mạng Việt Nam Đảng khẳng định quan điểm “các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển” Do đó, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân tộc, đồng thời đề ra nhiều chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm xóa đói, giảm nghèo cho các vùng dân tộc.
Trong bối cảnh đổi mới đất nước, Đảng đã chú trọng đến công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW vào ngày 27 tháng 11 năm 1989, đề ra các chủ trương và chính sách lớn nhằm phát triển kinh tế - xã hội miền núi Để cụ thể hóa nghị quyết này, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 72-HĐBT vào ngày 13 tháng 3 năm 1990, nhằm triển khai các chủ trương và chính sách cụ thể cho sự phát triển kinh tế.
- xã hội miền núi” Hai văn kiện này đã mở đường cho sự đổi mới công tác dân tộc
Ủy ban nhân dân đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo công tác dân tộc được thực hiện hiệu quả và liên tục tại địa phương Theo quy định pháp luật, Ủy ban nhân dân các cấp là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính Nhà nước, có chức năng quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Cụ thể, Ủy ban thực hiện các chức năng hành chính cơ bản như chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội.
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý tập trung của Ủy ban nhân dân, công tác dân tộc đã gặt hái nhiều thành công Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc đã được cải thiện đáng kể.
Theo báo cáo từ Đảng Cộng sản Việt Nam, tỷ lệ hộ nghèo ở các vùng dân tộc và miền núi đã giảm rõ rệt, với mức giảm bình quân khoảng 3% - 4% mỗi năm Cụ thể, các tỉnh Đông Bắc giảm 3,62%, Tây Bắc giảm 4,47%, Tây Nguyên giảm 3,04% và đồng bằng sông Cửu Long giảm 2,15% Bên cạnh đó, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cũng có những thay đổi tích cực, với 98,6% số xã có đường ô tô đến trụ sở ủy ban nhân dân xã và 99,8% số xã cùng 95,5% số thôn có điện.
Công tác giáo dục đối với đồng bào dân tộc đã có nhiều tiến bộ, với 99,5% số xã có trường tiểu học và 93,2% có trường trung học cơ sở Hiện có 12,9% số xã có trường trung học phổ thông và 96,6% có trường mẫu giáo/mầm non 100% số xã đạt chuẩn phổ cập tiểu học, nhiều nơi đã đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở Mô hình trường nội trú, bán trú đang phát triển với 294 trường phổ thông dân tộc nội trú phục vụ 80.832 học sinh và 4 trường dự bị đại học với hơn 3.000 học sinh/năm Tất cả các tỉnh vùng dân tộc và miền núi đều có trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, và các cơ sở dạy nghề trong lĩnh vực nông nghiệp, quản lý kinh tế, tài chính, giáo dục, y tế Mạng lưới y tế cũng được cải thiện, với 99,39% số xã có trạm y tế và 77,8% đạt chuẩn quốc gia về y tế Đến năm 2011, 94,2% số thôn có cán bộ y tế Đồng bào dân tộc được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản, người nghèo được khám, chữa bệnh miễn phí và hưởng chính sách bảo hiểm y tế Các dịch bệnh như sốt rét, bướu cổ đã được khống chế, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm đáng kể.
Mặc dù đã đạt được nhiều thành công, công tác dân tộc vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, như chính sách mang tính nhiệm kỳ và thời gian thực hiện ngắn hạn, thiếu chiến lược lâu dài Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ và còn chồng chéo, dẫn đến việc tổ chức thực hiện chính sách của ủy ban nhân dân gặp khó khăn Sự phân công chủ trì và chỉ đạo thực hiện một số chính sách chưa hợp lý, cùng với việc phối hợp giữa các bên liên quan còn yếu kém, là những vấn đề cần khắc phục.
2 Tổng cục Thống kê (2011), Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011, Hà Nội
3 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại buổi làm việc giữa Bộ trưởng,
Vào ngày 1-6-2012, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc đã có cuộc làm việc với Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Hà Nội, nhấn mạnh sự thiếu chặt chẽ trong chỉ đạo của các cấp chính quyền, dẫn đến tình trạng chồng chéo và trùng lắp về địa bàn và đối tượng Năm 2012, tỷ lệ hộ nghèo tại khu vực miền núi Tây Bắc đạt 28,55%, miền núi Đông Bắc là 17,39%, Tây Nguyên 15,58%, và các tỉnh Bắc Trung Bộ 15,01% Đặc biệt, các xã đặc biệt khó khăn có tỷ lệ hộ nghèo lên tới 45%, trong khi một số xã và thôn của các nhóm dân tộc rất ít người có tỷ lệ nghèo vượt quá 90%.
Kết quả giảm nghèo hiện nay thiếu tính bền vững, với tỷ lệ tái nghèo cao Nhiều đồng bào vẫn gặp khó khăn về lương thực, đặc biệt trong các tháng giáp hạt hoặc sau thiên tai Hơn 220.000 hộ gia đình thiếu đất sản xuất, và nếu tính cả số hộ thiếu nước sinh hoạt theo Quyết định số 1592/QĐ-TTg, con số này lên tới 579.804 hộ.
Tác giả đã quyết định chọn đề tài “Quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp huyện về công tác dân tộc” cho luận văn Cao học Luật của mình, xuất phát từ những trăn trở và suy tư sâu sắc về vấn đề này.
Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, nhiều tác giả đã nghiên cứu về quản lý nhà nước của Ủy ban dân dân cấp huyện đối với công tác dân tộc, với nhiều công trình tiêu biểu như: "Chính sách dân tộc của các chính quyền Nhà nước phong kiến Việt Nam (X - XIX)" của Phan Hữu Dật và Lâm Bá Nam, "Chính sách đối với dân tộc thiểu số thời Lê sơ" của Nguyễn Minh Tường, và "Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong thời kì đổi mới" của Nguyễn Đức Ái Ngoài ra, còn có bài viết "Công tác định canh, định cư và ổn định đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số" của Nguyễn Lâm Thành và "Chính sách đối với các dân tộc thiểu số vùng biên giới phía Bắc của vương triều Lý" của Nguyễn Minh Tường, cùng với bài viết "Hiến pháp và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước" của Tòng Thị Phóng Những nghiên cứu này góp phần làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác dân tộc tại Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành văn kiện chương trình phát triển kinh tế - xã hội nhằm giảm nghèo tại các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn ở vùng dân tộc và miền núi trong giai đoạn 2014 - 2015 và 2016 - 2020 Văn kiện này được công bố tại Hà Nội.
Nghiên cứu lập pháp và các bài viết liên quan đến chính sách dân tộc tại Việt Nam đã chỉ ra tầm quan trọng của việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, như trong bài viết của Hoàng Xuân Lương (Tạp chí Cộng sản, Số 1/2012) Nguyễn Xuân Đại đã nêu rõ cơ sở đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số (Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 7/2014), trong khi Sơn Phước Hoan đề xuất các hướng tiếp cận mới trong chính sách dân tộc (Tạp chí Cộng sản, số 9/2014) Nguyễn Quốc Phẩm đã tổng kết những kết quả bước đầu sau 10 năm thực hiện nghị quyết trung ương 7 về công tác dân tộc (Tạp chí Lịch sử Đảng, số 1/2014) Đỗ Văn Nhân cảnh báo về tình trạng lợi dụng chính sách dân tộc (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 10/2011), trong khi Nguyễn Thế Quyền nêu bật các chính sách cơ bản của nhà nước đối với dân tộc thiểu số (Tạp chí Quản lý nhà nước, số 11/2009) Bài viết của Vũ Văn Nhiêm phân tích những điểm mới trong Hiến pháp năm 2013 (Tạp chí Khoa học pháp lý, số 1/2014), và Nguyễn Cúc nhấn mạnh sự cần thiết phát triển vùng dân tộc và miền núi trong bối cảnh hội nhập (Tạp chí Quản lý nhà nước, số 8/2014) Cuối cùng, Trần Quang Tuấn kêu gọi tăng cường đầu tư cho giáo dục vùng dân tộc thiểu số (Tạp chí Quản lý nhà nước, số 8/2014).
Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào thực hiện một cách hệ thống và chuyên sâu về lý luận, hiện trạng và giải pháp nâng cao chất lượng trong công tác quản lý nhà nước đối với công tác dân tộc của Ủy ban nhân dân cấp huyện Hơn nữa, chưa có tác giả nào chọn đề tài này làm luận văn Thạc sĩ hoặc luận án Tiến sĩ.
Mục đích và đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn này phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của quản lý nhà nước về công tác dân tộc của Ủy ban nhân dân Bài viết chỉ ra những bất cập và hạn chế trong các văn bản pháp luật, cũng như các công cụ, cơ chế và chính sách hiện hành liên quan đến quản lý nhà nước về công tác dân tộc Dựa trên kết quả nghiên cứu và phân tích thực tiễn, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Nghiên cứu một cách hệ thống các quy định pháp luật về quản lý nhà nước về văn hóa của Ủy ban nhân dân nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể.
Đổi mới công tác tổ chức và cán bộ trong lĩnh vực dân tộc là cần thiết để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tại địa phương Cần chú trọng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở, đặc biệt là cán bộ công tác dân tộc tại Ủy ban nhân dân, nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu công việc và phục vụ cộng đồng hiệu quả hơn.
Quy hoạch và phát triển nguồn nhân lực cho vùng dân tộc là rất quan trọng, vì chất lượng nguồn nhân lực quyết định sự phát triển bền vững của khu vực này Bồi dưỡng và đào tạo nhân lực không chỉ nâng cao kỹ năng mà còn góp phần vào sự thịnh vượng và ổn định của cộng đồng dân tộc.
Đẩy mạnh nỗ lực xóa đói, giảm nghèo và nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số ở các vùng đặc biệt khó khăn là mục tiêu quan trọng Cần tổ chức thực hiện hiệu quả Chiến lược công tác dân tộc cùng các chính sách phù hợp cho từng vùng trong giai đoạn 2011 - 2020.
Để đảm bảo hiệu quả trong việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo, cần ưu tiên nguồn lực cho các vùng đặc biệt khó khăn, tránh tình trạng đầu tư dàn trải và lãng phí Việc huy động nhiều nguồn lực cho đầu tư và phát triển là cần thiết, đồng thời cần thực hiện nghiêm túc phân cấp cho cơ sở, công khai các chính sách, chương trình, dự án và vốn đầu tư để người dân có thể tham gia quản lý và giám sát quá trình thực hiện.
Các phương pháp tiến hành nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, tác giả áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật.
Tác giả áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như phân tích, chứng minh, biện luận, tổng hợp và đối chiếu so sánh Trong chương 1, phương pháp đánh giá tổng hợp được sử dụng để xem xét các công trình của học giả liên quan đến công tác dân tộc và quản lý nhà nước Đồng thời, tác giả cũng áp dụng phương pháp phân tích để nghiên cứu nội dung quản lý nhà nước về công tác dân tộc, tập trung vào việc phân tích các khía cạnh như chủ thể, hình thức và nội dung quản lý.
Chương 2 sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh và đánh giá để phân tích thực trạng quản lý nhà nước về công tác dân tộc, bao gồm cả quy định và áp dụng pháp luật Tác giả sẽ tiến hành so sánh và đánh giá các hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực này nhằm đưa ra những kiến nghị hợp lý Ngoài ra, phương pháp tổng hợp cũng được áp dụng để rút ra những kết luận quan trọng.
Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
Đề tài này là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về lý luận, đồng thời đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý nhà nước đối với công tác dân tộc của Ủy ban nhân dân.
Luận văn không chỉ là tài liệu tham khảo quý giá cho sinh viên và học viên Cao học luật, mà còn hỗ trợ những ai quan tâm đến đề tài này Hơn nữa, trong bối cảnh cải cách hành chính hiện nay, tài liệu này sẽ hữu ích cho các cán bộ quản lý công tác dân tộc và công chức liên quan đến chính sách dân tộc.
Kết cấu luận văn
Phần nội dung: Gồm 2 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý nhà nước của Ủy ban Nhân dân cấp huyện về công tác dân tộc
Chương 2: Phân tích thực trạng quản lý nhà nước của Ủy ban Nhân dân cấp huyện trong công tác dân tộc tại tỉnh Vĩnh Long, đồng thời đề xuất các phương hướng nhằm hoàn thiện quản lý và nâng cao hiệu quả công tác này.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC
Khái niệm về công tác dân tộc
Dân tộc là kết quả của quá trình phát triển xã hội loài người, xuất hiện sau các hình thức cộng đồng như thị tộc, bộ lạc và bộ tộc Nó được định nghĩa là một cộng đồng ổn định, hình thành qua lịch sử, xây dựng quốc gia dựa trên các yếu tố bền vững như lãnh thổ, kinh tế, ngôn ngữ, truyền thống, văn hóa, tâm lý và ý thức về dân tộc Hiện nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo hai nghĩa khác nhau trong các văn kiện chính trị, pháp luật và truyền thông.
"Dân tộc" được hiểu là "tộc người", là khái niệm chỉ cộng đồng người có đặc trưng về ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác bền vững qua lịch sử Ví dụ như dân tộc Thái, Tày, Si-La và Chăm Trong một quốc gia, kết cấu dân cư có thể bao gồm nhiều dân tộc khác nhau, trong đó có dân tộc chiếm đa số và dân tộc thiểu số.
Trong quá trình phát triển, mỗi dân tộc thường có sự phân chia thành các nhóm người khác nhau về nơi cư trú, văn hóa, lối sống và phong tục tập quán Tuy nhiên, họ vẫn được coi là cùng một dân tộc nhờ vào ba điểm đặc trưng chung: ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác Chẳng hạn, dân tộc Dao bao gồm nhiều nhóm như Dao đỏ, Dao tiền, Dao Tuyến, Dao quần chẹt, Dao Thanh phán, Dao Thanh Y và Dao quần trắng.
Theo nghĩa thứ hai, dân tộc được hiểu là quốc gia dân tộc, ví dụ như dân tộc Việt Nam, dân tộc Trung Hoa, hay dân tộc Đức Khái niệm này chỉ cộng đồng chính trị - xã hội được hình thành từ nhiều dân tộc khác nhau trên lãnh thổ của một quốc gia nhất định Do đó, dân tộc ở đây đồng nghĩa với quốc gia đa tộc người và nhà nước thống nhất của các tộc người trên một lãnh thổ có chủ quyền Sự phân biệt giữa các dân tộc diễn ra dựa trên sự di cư của các tộc người, như trong cấu trúc dân cư của dân tộc Việt Nam và dân tộc Trung Hoa đều có sự hiện diện của tộc người H’Mông và tộc người Dao.
Dân tộc là một khái niệm đa nghĩa, bao gồm cả cộng đồng tộc người và cộng đồng chính trị - xã hội Có thể hiểu rằng dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội - tộc người, giúp phân biệt rõ ràng giữa khái niệm dân tộc và các khái niệm sắc tộc, chủng tộc.
Quan niệm về sự hình thành và phát triển của cộng đồng dân tộc dựa trên sự kết hợp giữa nhân tố tộc người và yếu tố chính trị - xã hội Nhân tố tộc người được hình thành từ các đặc điểm tự nhiên và xã hội đặc thù của từng cộng đồng, và được duy trì qua các thời kỳ như thị tộc, bộ lạc cho đến khi phát triển thành cộng đồng dân tộc hoàn chỉnh Những giá trị này vẫn tồn tại bền vững, ngay cả trong thời đại giao lưu quốc tế phát triển mạnh mẽ Nhân tố tộc người thể hiện rõ nét trong văn hóa, nghệ thuật, ngôn ngữ, phong tục tập quán, tâm lý và tình cảm của mỗi dân tộc, tạo nên sự độc đáo trong tính cách của họ Đây là lĩnh vực phong phú và nhạy cảm trong thế giới tinh thần của các cộng đồng, do đó, nhiều quốc gia dựa vào ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác tộc người để xác định thành phần dân tộc của cá nhân hoặc nhóm người.
Trong quá trình quản lý công tác dân tộc, Đảng và Nhà nước ta chú trọng đến tính đặc thù của các dân tộc Đồng thời, đã ban hành các chính sách và quy định pháp luật riêng nhằm bổ sung cho các chính sách chung, đáp ứng những yêu cầu chính đáng mang tính đặc thù của từng dân tộc.
5 Đặng Nghiêm Vạn (1993), Quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 77
Công tác dân tộc là một lĩnh vực đa ngành, đóng vai trò chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và toàn dân, tập trung vào việc giải quyết các mối quan hệ giữa các dân tộc thiểu số Nó không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của cộng đồng các dân tộc thiểu số mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước Để thực hiện hiệu quả chính sách dân tộc, toàn bộ hệ thống chính trị cần nâng cao nhận thức và trách nhiệm, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền Các hoạt động công tác dân tộc nhằm đảm bảo bình đẳng, đoàn kết và tôn trọng bản sắc văn hóa của các dân tộc sống chung trên lãnh thổ Việt Nam.
Công tác dân tộc bao gồm việc hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc, nhằm đưa đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống Đồng thời, công tác này cũng tổng kết thực tiễn để bổ sung và xây dựng các chính sách dân tộc phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn.
Theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ, công tác dân tộc được định nghĩa là các hoạt động quản lý nhà nước nhằm tạo điều kiện cho đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Quy định này cung cấp một cơ sở pháp lý rõ ràng và đầy đủ cho công tác dân tộc.
Theo Khoản 1 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ, công tác dân tộc được xác định là nhiệm vụ quan trọng nhằm đảm bảo các cơ quan nhà nước thực hiện thống nhất trong việc quản lý nhà nước về lĩnh vực này.
Khái niệm quản lý nhà nước về công tác dân tộc
Quản lý nhà nước về công tác dân tộc là quá trình mà Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để điều chỉnh và tác động đến mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội của đồng bào dân tộc, đặc biệt là các dân tộc thiểu số, nhằm đạt được các mục tiêu phát triển bền vững.
Vậy tại sao phải quản lý Nhà nước về công tác dân tộc?
Quản lý Nhà nước về công tác dân tộc là một yếu tố then chốt trong việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ của quản lý Nhà nước Nội dung này đã luôn được chú trọng và thực hiện xuyên suốt quá trình lịch sử cách mạng của đất nước ta.
Trong lịch sử, các triều đại phong kiến Việt Nam đã áp dụng chính sách quản lý nhà nước đối với vùng dân tộc thiểu số thông qua hai phương thức chính: KyMi (ràng buộc) và Nhu Viễn (mềm mỏng) Một trong những biện pháp quan trọng là việc gả công chúa cho các tù trưởng dân tộc thiểu số, như Hà Bổng và Hà Đặc, hoặc cho các nước láng giềng, ví dụ như Huyền Trân công chúa gả cho vua Chiêm Thành Chế Bồng Nga Những chính sách này nhằm mục đích củng cố quản lý dân cư và lãnh thổ.
Triều đại nhà Lý, do Lý Công Uẩn lãnh đạo (1009 - 1225), đã đóng góp quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đất nước với quy mô lớn Nền tảng xã hội vững chắc và toàn diện được thiết lập, củng cố chính quyền trung ương tập quyền, đồng thời xây dựng bộ máy hành chính địa phương đến những vùng xa xôi hẻo lánh.
Thời kỳ Trịnh - Nguyễn, nhà Nguyễn thực hiện chính sách khai thác tại Đàng Trong thông qua việc phát triển đồn điền và sử dụng dân lưu vong cùng tù binh để mở rộng xuống phía Nam Vào ngày 25/7/1950, dưới triều đại Bảo Đại, Tây Nguyên được công nhận là "Hoàng Triều Cương Thổ".
Các triều đại phong kiến Việt Nam đã thể hiện sự quan tâm lớn đến các vấn đề dân tộc, bao gồm cả các dân tộc thiểu số ở những vùng xa xôi, hẻo lánh Chính sách và biện pháp quản lý Nhà nước của họ đã góp phần bảo vệ và phát triển các cộng đồng dân tộc, thể hiện trách nhiệm đối với sự đoàn kết và phát triển toàn diện của đất nước.
Thực dân Pháp đã đô hộ Việt Nam gần một thế kỷ và áp dụng nhiều chính sách để quản lý các dân tộc thiểu số Họ thực hiện việc cử quan cai trị, phân chia bản đồ hành chính và áp dụng hàng loạt chính sách nhằm chia rẽ, lôi kéo các dân tộc phục vụ cho âm mưu “chia để trị” Ngoài ra, thực dân còn thành lập các “Xứ Nùng tự trị”, “Xứ Thái để trị” và lập ra mặt trận BaJaRaKa ở Tây Nguyên, sau này đổi tên thành FULRO.
Chính quyền miền Nam thời Mỹ - Ngụy đã thành lập hội đồng các sắc tộc cùng với bộ phát triển các sắc tộc nhằm quản lý các vấn đề liên quan đến dân tộc trong khu vực.
Vào tháng 9 năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, đánh dấu bước khởi đầu quan trọng trong việc quản lý công tác dân tộc Sắc lệnh 58 quy định việc thành lập "Nhà dân tộc thiểu số" thuộc Bộ Nội Vụ nhằm xem xét các vấn đề chính trị và hành chính liên quan đến các dân tộc thiểu số trong nước, đồng thời thắt chặt tình hữu nghị giữa các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam.
Ngày 09 tháng 9 năm 1946, Bộ trưởng Bộ Nội Vụ Việt Nam, ông Huỳnh Thúc Kháng, đã ban hành nghị định giao nhiệm vụ cho việc nghiên cứu và giải quyết các vấn đề liên quan đến dân tộc thiểu số, nhằm củng cố nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết và tương trợ giữa các dân tộc Đây được coi là mốc khởi đầu cho công tác quản lý Nhà nước về dân tộc Công tác này bao gồm việc tư vấn cho Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định chính sách, pháp luật và giải quyết các vấn đề dân tộc, đồng thời triển khai thực hiện các chương trình, dự án phát triển toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng - an ninh tại các vùng dân tộc Chính sách dân tộc được hiểu là tổng hợp các biện pháp nhằm phát triển và bảo vệ quyền lợi của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam.
Sắc lệnh số 58 ngày 03 tháng 5 năm 1946 đã thiết lập tổ chức Bộ Nội Vụ của Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, thể hiện quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước, ảnh hưởng trực tiếp đến các dân tộc và quan hệ dân tộc Chính sách dân tộc nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến dân tộc, trong khi công tác dân tộc là quá trình tổ chức thực hiện những chính sách đó, cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa hai phạm trù này.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương bảy khoá IX số 24/NQ/TW ngày 12 tháng 3 năm 2003 khẳng định rằng công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cùng với các cấp, các ngành và toàn bộ hệ thống chính trị.
Quản lý nhà nước về vấn đề dân tộc ở Việt Nam là sự kế thừa và phát triển tất yếu từ bối cảnh lịch sử.
Việt Nam có 54 dân tộc anh em sinh sống, với ít nhất hai dân tộc ở mỗi địa phương, điều này đòi hỏi sự quản lý và điều chỉnh của Nhà nước để xây dựng khối đại đoàn kết Mục tiêu chung là phát triển một đất nước công bằng, dân chủ và văn minh Tuy nhiên, các vùng đồng bào dân tộc thiểu số đang đối mặt với nhiều bất cập trong đời sống kinh tế - xã hội Do đó, cần có sự can thiệp của quản lý nhà nước để giải quyết những khó khăn, giúp đồng bào hòa nhập vào dòng chảy chung của quốc gia Quản lý nhà nước về công tác dân tộc là một nội dung thiết yếu, phản ánh sự cần thiết của quản lý trong mọi hoạt động xã hội Khái niệm “quản lý” được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào góc độ khoa học và cách tiếp cận của từng nhà nghiên cứu, từ việc trông coi và giữ gìn đến tác động có mục tiêu lên đối tượng Quản lý không chỉ là sự chỉ huy mà còn là điều khiển các quá trình xã hội để đạt được mục đích đã đề ra.
Quản lý được hiểu là quá trình tổ chức và chỉ đạo các hoạt động xã hội nhằm đạt được mục tiêu cụ thể của người quản lý Cách tiếp cận này làm rõ phương pháp và mục đích trong quản lý, nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc điều hành hiệu quả.
Đặc điểm quản lý nhà nước của ủy ban nhân dân cấp huyện về công tác dân tộc
Công tác dân tộc là vấn đề phức tạp và nhạy cảm, thu hút sự quan tâm từ nhiều người về cả lý luận lẫn thực tiễn Nó không chỉ liên quan đến các dân tộc thiểu số mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội và phong tục tập quán của đất nước Bên cạnh đó, công tác này cũng là một yếu tố dẫn đến xung đột sắc tộc và tôn giáo, bị các thế lực thù địch lợi dụng, ảnh hưởng đến chính sách đối nội và đối ngoại của Đảng và Nhà nước Do đó, công tác dân tộc bao gồm việc tham mưu cho Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định chính sách, pháp luật, cũng như triển khai các chương trình, dự án nhằm phát triển toàn diện các vùng dân tộc về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng - an ninh.
Công tác dân tộc là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, với Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Mặt trận cùng các đoàn thể nhân dân đoàn kết vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, phối hợp trách nhiệm giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp Cơ quan lập pháp xây dựng khung pháp lý cho các chính sách dân tộc, cơ quan hành pháp tổ chức triển khai các đạo luật và chương trình, trong khi cơ quan tư pháp bảo vệ quyền lợi của các dân tộc theo quy định pháp luật.
Ủy ban nhân dân huyện, với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cấp huyện, có trách nhiệm lãnh đạo và điều hành các hoạt động liên quan đến lĩnh vực dân tộc, thông qua việc tham mưu từ Phòng dân tộc Cơ quan này ban hành các kế hoạch ngắn hạn và dài hạn nhằm thực hiện các chủ trương, chính sách về dân tộc, góp phần phát triển văn hóa, xã hội và kinh tế tại địa phương Vai trò của Ủy ban nhân dân huyện là tạo sự bình đẳng, công bằng và đoàn kết giữa các dân tộc, đồng thời ổn định chính trị và nâng cao đời sống cộng đồng Ngoài ra, Ủy ban nhân dân huyện còn chỉ đạo công tác dân tộc tại các xã, ban hành nghị quyết và kế hoạch để thực hiện hiệu quả các chủ trương từ cấp trên Cơ quan này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho cấp xã trong việc thực hiện công tác dân tộc, đồng thời là cầu nối giữa cấp tỉnh và cấp xã để giải quyết các khó khăn trong cộng đồng dân tộc và tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh các giải pháp phù hợp Thông qua báo cáo dân tộc, Ủy ban nhân dân tỉnh có được cái nhìn tổng quát về tình hình thực tiễn tại địa phương, từ đó đưa ra các quyết định và chỉ thị thích hợp.
Quản lý dân tộc là một phần quan trọng trong quản lý nhà nước, tập trung vào việc quản lý con người theo tộc người tại các vùng lãnh thổ và lĩnh vực khác nhau Quá trình này bao gồm việc điều hành và điều chỉnh các hoạt động kinh tế - xã hội nhằm đảm bảo sự phát triển đúng theo quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc thiểu số Do đó, công tác dân tộc không chỉ đơn thuần là một ngành mà là một lĩnh vực liên ngành, đa dạng trong cách tác động đến con người Với đặc điểm phức tạp và nhạy cảm, công tác quản lý nhà nước về dân tộc cần có những chính sách phù hợp, tùy thuộc vào tình hình và đặc điểm của từng địa phương.
Công tác dân tộc là lĩnh vực đa ngành, đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành trong hệ thống chính trị Để thực hiện hiệu quả, cán bộ cần có kiến thức chuyên môn đa dạng, tâm huyết với sự nghiệp, phẩm chất chính trị vững vàng, cùng với khả năng quản lý nhà nước tốt Họ phải hiểu rõ đặc điểm dân tộc, ngôn ngữ, phong tục và văn hóa của đồng bào, đồng thời cần gần gũi và tôn trọng nhân dân Cán bộ cũng cần gương mẫu, giữ gìn phẩm chất đạo đức và thực hiện “nói đi đôi với làm” để thuyết phục đồng bào thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước, từ đó yêu cầu người cán bộ phải trong sạch, cần kiệm liêm chính và chí công vô tư.
Công tác dân tộc được thực hiện trên một địa bàn rộng lớn, chiếm phần lớn diện tích cả nước, nằm ở vùng biên giới của Tổ quốc Khu vực này có địa hình phức tạp, thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai và dịch bệnh, với cơ sở hạ tầng kém phát triển và tỷ lệ đói nghèo cao nhất cả nước Đồng thời, đây cũng là khu vực nhạy cảm về an ninh và chính trị.
Đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc thường xuyên đến các vùng dân tộc để nắm bắt tình hình và tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của đồng bào Họ có nhiệm vụ đề xuất xây dựng các chủ trương, chính sách và tổ chức triển khai thực hiện, đồng thời thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các chương trình, dự án và chính sách đó Ngoài ra, cán bộ còn thăm hỏi, động viên và vận động đồng bào, giải quyết các vấn đề phát sinh tại các vùng dân tộc, miền núi.
Đối tượng công tác dân tộc tại Việt Nam chủ yếu là các dân tộc thiểu số, với hơn 13 triệu người, chiếm 13,8% dân số cả nước Họ sống rải rác ở 52 tỉnh, thành, tập trung chủ yếu ở ba khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ Mỗi dân tộc mang trong mình nền văn hóa, ngôn ngữ và tôn giáo riêng biệt, phát triển không đồng đều Đặc biệt, một số dân tộc có số lượng rất ít, không thể tự phát triển, do đó cần có các chính sách đặc thù nhằm bảo tồn và phát triển văn hóa của họ.
Vấn đề dân tộc và tôn giáo luôn có mối liên hệ chặt chẽ và nhạy cảm, đặc biệt khi trình độ dân trí và văn hóa của người dân còn hạn chế Điều này tạo cơ hội cho các thế lực thù địch lợi dụng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định về an ninh, chính trị và trật tự xã hội.
- Đặc thù về hệ thống bộ máy, đội ngũ quản lý:
Dân tộc là vấn đề phức tạp và nhạy cảm, thu hút sự quan tâm của nhiều người trên cả lý luận và thực tiễn Nó không chỉ liên quan đến các dân tộc thiểu số với dấu ấn lịch sử sâu sắc, mà còn ảnh hưởng đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán và chính sách đại đoàn kết dân tộc của Việt Nam Dân tộc cũng là một trong những nguyên nhân gây ra xung đột sắc tộc và tôn giáo, bị các thế lực thù địch lợi dụng ở nhiều quốc gia, và ảnh hưởng đến chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước Do đó, hệ thống cơ quan quản lý công tác dân tộc đã được xây dựng hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương.
Công tác dân tộc, đặc biệt là quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp huyện, đối mặt với nhiều thách thức do đặc điểm phức tạp và nhạy cảm của lĩnh vực này Cán bộ làm việc trong môi trường khó khăn, với dân trí thấp và điều kiện sống nghèo nàn Hơn nữa, chế độ đãi ngộ chưa được chú trọng, dẫn đến tình trạng cán bộ, công chức có xu hướng xin chuyển đổi vị trí hoặc làm việc một cách miễn cưỡng Đối tượng quản lý chủ yếu là già làng, trưởng bản và người đồng bào dân tộc ít người, họ có trình độ dân trí hạn chế nhưng lại đóng vai trò quan trọng, đôi khi bị ảnh hưởng bởi các hủ tục truyền thống.
Công tác quản lý Nhà nước của Ủy ban nhân dân huyện về công tác dân tộc là rất quan trọng, đặc biệt trong việc vận động quần chúng như già làng và những người có uy tín Để thực hiện hiệu quả công tác này, cán bộ Phòng công tác dân tộc cần thường xuyên có mặt tại cơ sở, gần gũi với cộng đồng nhằm hiểu rõ tâm tư và nguyện vọng của họ Sự thiếu liên tục và chính xác trong công tác vận động có thể dẫn đến hiểu lầm và gây khó khăn cho quản lý nhà nước Do đó, việc xây dựng chính sách dân tộc cần phải được thực hiện cẩn thận, vì chỉ một vấn đề nhỏ cũng có thể tạo ra điểm nóng phức tạp Cán bộ làm công tác dân tộc phải gần gũi và chia sẻ cuộc sống với người dân để có thể tác động và điều chỉnh hiệu quả các chủ trương chính sách.
Phòng dân tộc huyện cần thực hiện công tác tham mưu giải quyết các vấn đề liên quan đến chính sách dân tộc một cách thận trọng và sâu sát Mỗi địa phương và dân tộc đều có những đặc thù riêng, do đó, mọi sơ suất nhỏ đều có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng đối với chính sách đại đoàn kết dân tộc.
Ngành công tác dân tộc hiện chưa có tiêu chuẩn chức danh cụ thể cho đội ngũ cán bộ, dẫn đến việc không được hưởng chế độ phụ cấp nghề theo quy định Nguyên nhân chủ yếu là do sự biến động và thiếu ổn định trong cơ quan công tác dân tộc, cùng với việc đào tạo cán bộ chưa đồng bộ và không đáp ứng quy chuẩn nghề nghiệp Bên cạnh đó, tính chất tổng hợp và đa ngành của công tác dân tộc gây khó khăn trong việc chuẩn hóa tiêu chuẩn chức danh Do đó, việc xây dựng chế độ phụ cấp ưu đãi nghề cho cán bộ làm công tác dân tộc là yêu cầu cần thiết để đảm bảo công bằng về chế độ, chính sách, cũng như thu hút và khuyến khích đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong lĩnh vực này Việc trình Chính phủ Nghị định về chính sách phụ cấp ưu đãi đặc thù là cấp bách và cần thiết.
Qua phân tích nêu trên cho thấy, công tác dân tộc có những đặc thù khác so với công tác khác như:
Đối tượng quản lý trong công tác dân tộc chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số với trình độ văn hóa thấp và nền văn hóa, phong tục, tập quán đa dạng, phong phú Do đó, công tác dân tộc có phạm vi hẹp hơn so với các lĩnh vực khác, nhưng lại mang tính nhạy cảm và phức tạp hơn.
Vai trò và ý nghĩa quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp huyện đối với công tác dân tộc
Cùng với việc đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới của đất nước theo đường lối
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, cùng với việc phát huy sức mạnh toàn dân tộc, công tác quản lý nhà nước về dân tộc ngày càng trở thành lĩnh vực hoạt động quan trọng trong bộ máy nhà nước Vai trò của công tác này thể hiện rõ qua những điểm chủ yếu như tăng cường sự đoàn kết dân tộc, bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của các dân tộc, cũng như thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại các vùng dân tộc thiểu số.
Vấn đề dân tộc là một yếu tố quan trọng trong đường lối cách mạng của Đảng, giúp duy trì khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nền tảng cho thành công của sự nghiệp cách mạng Chính sách dân tộc của Đảng nhất quán, đúng đắn và sáng tạo, phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam Để những chính sách này được thực hiện hiệu quả trong cuộc sống, vai trò của Ủy ban nhân dân huyện là rất quan trọng trong việc tổ chức thực hiện các chính sách thông qua quản lý và điều hành công tác dân tộc.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, việc thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền là yêu cầu cấp thiết Nhà nước đang nỗ lực đầu tư cho khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là những người sống ở vùng cao, vùng sâu và vùng khó khăn Các chiến lược và chương trình nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và giáo dục cho các dân tộc thiểu số được thực hiện thông qua công tác quản lý nhà nước về dân tộc.
Để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, cần tích cực đầu tư vào phát triển kinh tế - xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số Một vấn đề quan trọng là Đảng và nhà nước cần phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc Điều này đòi hỏi công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc phải được thực hiện thường xuyên trong tổ chức và điều hành nền hành chính quốc gia.
Hiện nay, vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc đang bị các thế lực thù địch lợi dụng để gây rối an ninh chính trị và trật tự xã hội, ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị và phát triển bền vững của Nhà nước Do đó, công tác dân tộc trở thành nhiệm vụ quan trọng của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó quản lý nhà nước về công tác dân tộc đóng vai trò rất quan trọng.
Ủy ban nhân dân huyện đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chủ trương và chính sách về dân tộc tại cơ sở Mặc dù không trực tiếp ban hành các chính sách chung, Ủy ban nhân dân huyện là cơ quan chủ lực trong việc triển khai các chính sách của Đảng và Nhà nước, giúp đưa chúng vào cuộc sống Qua việc xây dựng kế hoạch quản lý dân tộc hiệu quả, Ủy ban nhân dân huyện đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong văn hóa, xã hội và phát triển kinh tế cho vùng đồng bào dân tộc, đồng thời góp phần tạo ra sự công bằng và bình đẳng cho cộng đồng này.
Ủy ban nhân dân huyện thực hiện công tác quản lý và theo dõi tình hình công tác dân tộc tại địa phương nhằm ngăn chặn các thế lực thù địch chia rẽ đoàn kết giữa các dân tộc Qua đó, giúp đồng bào dân tộc nhận thức rõ âm mưu của kẻ thù, tránh bị dụ dỗ và lôi kéo, từ đó bảo vệ an ninh trật tự tại địa phương và quyền lợi của chính đồng bào dân tộc.
Ủy ban nhân dân huyện đã đóng góp quan trọng vào việc xây dựng sự đoàn kết và gắn bó giữa các đồng bào dân tộc Vai trò của Ủy ban là quyết định trong việc thực hiện thành công các dự án và chương trình liên quan đến công tác dân tộc.
Ủy ban nhân dân huyện thực hiện quản lý dân tộc bằng cách tham mưu và báo cáo kịp thời về tình hình dân tộc tại cơ sở Điều này giúp cơ quan cấp trên có đầy đủ thông tin để hoạch định các chủ trương, chính sách về dân tộc phù hợp với thực tiễn, từ đó tránh được tình trạng hình thức và chủ quan.
* Ý nghĩa công tác dân tộc
Hiện nay, các thế lực thù địch đang lợi dụng vấn đề dân tộc để can thiệp vào hệ thống chính trị và xã hội, gây rối loạn khối đại đoàn kết dân tộc Một trong những thủ đoạn của họ là kích động mâu thuẫn và chia rẽ, đặc biệt tại khu vực có đông đồng bào dân tộc thiểu số Để đối phó với tình hình này, Đảng và Nhà nước ta đã kiên định thực hiện các chính sách về dân tộc dựa trên nguyên tắc “bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển.” Ba nguyên tắc này có mối quan hệ hữu cơ, tạo thành một thể thống nhất, vừa là mục tiêu, động lực phát triển, vừa là tiền đề và hệ quả Bình đẳng chính là cơ sở cho sự đoàn kết dân tộc.
15 Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12 tháng 3 năm 2003 của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc
Tương trợ giúp nhau cùng phát triển là điều kiện của đoàn kết và bình đẳng dân tộc
Ủy ban nhân dân huyện đã thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc, tạo ra sự bình đẳng giữa các dân tộc, một nguyên tắc quan trọng của chính sách dân tộc Tất cả các dân tộc, không phân biệt đa số hay thiểu số, đều có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong mọi lĩnh vực xã hội, được bảo đảm bởi Hiến pháp và Pháp luật Quyền bình đẳng này bao gồm quyền chính trị, kinh tế và văn hóa, nhằm chống lại mọi hình thức chia rẽ và kỳ thị Nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ các dân tộc có kinh tế chậm phát triển, giúp họ đạt được trình độ phát triển chung Đồng thời, việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc là cần thiết để làm phong phú nền văn hóa Việt Nam Đặc biệt, cần tạo điều kiện thuận lợi cho các dân tộc thiểu số phát triển bình đẳng với các dân tộc khác, thể hiện sự quan tâm và hỗ trợ lẫn nhau trong cộng đồng.
Ủy ban nhân dân huyện đã thực hiện quản lý Nhà nước, tạo điều kiện cho các dân tộc sống hòa thuận và gắn bó với nhau, cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Truyền thống đoàn kết giữa các dân tộc đã được gìn giữ và phát triển qua hàng ngàn năm lịch sử, góp phần vào sự thống nhất của Việt Nam Đảng và Nhà nước xác định đoàn kết dân tộc là nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc, bao gồm sự đoàn kết giữa các dân tộc đa số và thiểu số, cũng như giữa các dân tộc Việt Nam với các dân tộc khác trên thế giới Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các dân tộc hiện nay đang phát huy truyền thống đoàn kết, cùng nhau xây dựng đất nước và có trách nhiệm củng cố khối đại đoàn kết dân tộc theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”.
Hiện nay, tình trạng phát triển không đồng đều giữa các dân tộc ở Việt Nam vẫn tồn tại do đặc điểm lịch sử Tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau là nguyên tắc quan trọng trong chính sách dân tộc của Ủy ban nhân dân huyện, nhằm thúc đẩy sự phát triển đồng đều Các dân tộc có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn cần có trách nhiệm hỗ trợ các dân tộc gặp khó khăn Sự tương trợ không chỉ mang tính một chiều mà còn giúp tất cả các dân tộc cùng phát triển Hỗ trợ lẫn nhau diễn ra trên mọi lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào, thực hiện quyền bình đẳng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.
Chính sách dân tộc của Nhà nước Việt Nam được thể chế hóa qua Hiến pháp, Luật và các văn bản pháp luật Theo Điều 5 của Hiến pháp năm 2013, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống Các dân tộc được công nhận bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và hỗ trợ lẫn nhau trong phát triển, đồng thời nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị và chia rẽ dân tộc.
Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt, và các dân tộc có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết để bảo tồn bản sắc và phát huy văn hóa của mình Nhà nước cam kết phát triển toàn diện và tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số cùng phát triển với đất nước Chính sách dân tộc được thể chế hóa qua Hiến pháp và pháp luật, cụ thể hóa trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cũng như các chương trình đầu tư cho vùng dân tộc và miền núi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X nhấn mạnh rằng vấn đề dân tộc và đoàn kết giữa các dân tộc là chiến lược cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp cách mạng, khẳng định sự bình đẳng, đoàn kết và hỗ trợ lẫn nhau trong đại gia đình Việt Nam.
Thẩm quyền của Ủy ban Nhân dân cấp huyện trong quản lý nhà nước đối với công tác dân tộc
Cơ cấu tổ chức của hệ thống chính trị trong công tác dân tộc đã trải qua nhiều thay đổi qua các thời kỳ phát triển Trong thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp, cơ cấu này chưa phù hợp với thực tiễn địa phương, mang tính áp đặt và xa rời quần chúng Tuy nhiên, kể từ khi chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, hệ thống quản lý công tác dân tộc đã có nhiều chuyển biến tích cực, ngày càng hoàn thiện và phát huy vai trò quản lý của nhà nước đối với công tác này.
Hệ thống tổ chức cơ quan quản lý nhà nước về dân tộc được quy định bởi Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, cùng với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003 Nghị định số 5/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ quy định về công tác dân tộc, và Thông tư liên tịch số 4/2010/TTLT-UBDT-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về công tác dân tộc thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, huyện Ngoài ra, Nghị định số 84/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 10 năm 2012 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Uỷ ban Dân tộc Hệ thống cơ quan quản lý này được thể hiện qua sơ đồ minh họa.
Viện Dân tộc (2004) đã nêu rõ một số vấn đề quan trọng liên quan đến việc đổi mới nội dung quản lý nhà nước và cải tiến phương thức công tác dân tộc Tài liệu này được xuất bản bởi Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc tại Hà Nội, trang 87.
Ủy ban nhân dân cấp quận, huyện, thị xã có nhiệm vụ tổ chức và thực hiện các chính sách của Đảng cùng với pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác dân tộc.
Quan hệ chỉ đạo, chấp hành
Cơ quan chuyên trách về dân tộc, có chức năng tham mưu
Cơ quan thực hiện các thẩm quyền về quản lý dân tộc Ủy ban dân tộc CHÍNH PHỦ
-Ban Dân tộc tương đương Sở -Ban Dân tộc thuộc UBND -Sở quản lý đa ngành, có công tác dân tộc
-Phòng Dân tộc -Phòng quản lý đa ngành, trong đó có công tác dân tộc (VD: Phòng Dân tộc – Tôn giáo)
-Bộ phận chuyên trách thuộc VP.UBND
Ủy viên UBND chịu trách nhiệm theo dõi công tác dân tộc tại các xã trọng điểm có cán bộ tăng cường, tuân thủ quy định của pháp luật địa phương Về mặt quản lý Nhà nước, không có sự khác biệt giữa các cấp quận, huyện và thị xã trong việc quản lý các vấn đề liên quan đến dân tộc.
Hằng năm, Ủy ban nhân dân huyện triển khai kế hoạch và chương trình công tác dân tộc, tổ chức kiểm tra việc thực hiện pháp luật và chính sách liên quan Đồng thời, Ủy ban cũng thực hiện các biện pháp nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số Các chính sách, chương trình và dự án địa phương được xây dựng để hỗ trợ vùng dân tộc thiểu số và các khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn Định kỳ 6 tháng và hàng năm, Ủy ban nhân dân cấp huyện báo cáo về tình hình dân tộc và kết quả thực hiện chính sách dân tộc gửi Ban Dân tộc tỉnh để tổng hợp.
Tổ chức đơn vị làm công tác dân tộc tại các huyện, quận, thị xã và thành phố thuộc tỉnh cần dựa vào đặc điểm và khối lượng công việc quản lý nhà nước về dân tộc trong khu vực.
- Thành lập Phòng Dân tộc thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện tại những nơi có một trong hai tiêu chí sau:
+ Có ít nhất 5.000 (năm nghìn) người dân tộc thiểu số đang cần Nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển
Khu vực có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống là những vùng nhạy cảm về an ninh và quốc phòng, bao gồm các khu vực xen canh, xen cư, cũng như biên giới, nơi có sự giao thoa thường xuyên giữa cộng đồng dân tộc thiểu số của Việt Nam và các nước láng giềng.
Đối với các huyện có dân tộc thiểu số sinh sống nhưng chưa đạt đủ tiêu chí, cần tổ chức cơ quan làm công tác dân tộc theo một trong hai mô hình đã được quy định.
Thành lập phòng quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực, bao gồm lĩnh vực dân tộc và các lĩnh vực liên quan như tôn giáo, trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện Đồng thời, cần đảm bảo số lượng phòng ở cấp huyện theo quy định của Nghị định số 12/2001/NĐ-CP ngày 27 tháng 3 năm 2001 của Chính phủ.
Phòng Dân tộc là cơ quan chuyên môn có chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc, có nhiệm vụ tham mưu và hỗ trợ Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong việc quản lý các vấn đề liên quan đến dân tộc tại địa phương.
Ủy ban nhân dân cấp huyện cần ban hành các văn bản hướng dẫn về công tác dân tộc trên địa bàn, đồng thời tổ chức và triển khai thực hiện các văn bản này sau khi được phê duyệt.
Ủy ban nhân dân cấp huyện cần trình kế hoạch công tác dài hạn và hàng năm liên quan đến lĩnh vực dân tộc Sau khi kế hoạch được phê duyệt, Ủy ban sẽ hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện kế hoạch công tác này một cách hiệu quả.
Ủy ban nhân dân cấp huyện được hỗ trợ trong việc triển khai các chính sách dân tộc và thực hiện các dự án, chương trình phát triển kinh tế - xã hội dành cho đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương Đồng thời, công tác định canh, định cư cũng được chú trọng nhằm nâng cao đời sống cho cộng đồng dân tộc thiểu số.
Phối hợp với các cơ quan chuyên môn cấp huyện và các đoàn thể để tuyên truyền, phổ biến chính sách nhằm vận động đồng bào các dân tộc thiểu số thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng cũng như các quy định của pháp luật.
+ Giúp Uỷ ban nhân dân cấp huyện giải quyết khiếu nại, tố cáo có liên quan tới dân tộc theo quy định của pháp luật
Hình thức quản lý nhà nước về công tác dân tộc của ủy ban nhân dân cấp huyện
Hình thức quản lý hành chính nhà nước về công tác dân của Ủy ban nhân dân huyện thể hiện qua các hoạt động chấp hành và điều hành, bao gồm việc ban hành văn bản quản lý như văn bản quy phạm pháp luật và áp dụng pháp luật Các hoạt động này mang tính pháp lý và bao gồm việc áp dụng biện pháp tổ chức trực tiếp, cũng như thực hiện các tác động về nghiệp vụ và kỹ thuật.
- Thực hiện những hoạt động mang tính chất pháp lý
Ủy ban nhân dân huyện, với vai trò cấp cơ sở, chủ yếu ban hành và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật từ cấp trên và cùng cấp để giải quyết công việc hàng ngày Do đó, số lượng văn bản áp dụng quy phạm pháp luật rất lớn, với nội dung, tính chất và mục đích sử dụng đa dạng.
Ủy ban nhân dân huyện không chỉ ban hành văn bản quy phạm pháp luật mà còn thực hiện các hoạt động pháp lý trong quản lý dân tộc khi có điều kiện cần thiết Những hoạt động này bao gồm ngăn chặn vi phạm pháp luật, đăng ký cư trú, cấp giấy tờ như chứng nhận quyền sử dụng đất và lập biên bản vi phạm Mặc dù không tạo ra tác động pháp lý trực tiếp, các hoạt động này đóng vai trò quan trọng trong quản lý hành chính nhà nước và ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của công dân Do đó, Ủy ban nhân dân huyện cần tuân thủ đúng quy định pháp luật về trình tự, thủ tục và thẩm quyền khi thực hiện các hoạt động này.
- Áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp
Ủy ban nhân dân huyện thực hiện hoạt động không mang tính pháp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định quản lý.
Tiến hành tổ chức các hoạt động nghiên cứu, tổng kết và phổ biến kinh nghiệm tiên tiến nhằm ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào quản lý và kiểm tra hoạt động Việc này giúp Ủy ban nhân dân huyện rút ra kinh nghiệm thực tiễn và nắm rõ tình hình, từ đó đề ra các biện pháp cụ thể để quản lý hiệu quả công tác dân tộc.
Ủy ban nhân dân huyện áp dụng kiến thức nghiệp vụ và thành tựu khoa học kỹ thuật để nâng cao hiệu suất công tác quản lý hành chính nhà nước Việc thực hiện các tác động về nghiệp vụ - kỹ thuật có ý nghĩa quan trọng, giúp đảm bảo rằng công tác quản lý hành chính được tiến hành nhanh chóng, hiệu quả và chính xác.
Việc áp dụng các hình thức quản lý dân tộc giúp Ủy ban nhân dân huyện phát huy vai trò và chức năng trong lĩnh vực này, đảm bảo quyền bình đẳng giữa các dân tộc trong mọi hoạt động xã hội Sự đoàn kết giữa các dân tộc được củng cố, đồng thời các kế hoạch phát triển kinh tế cho đồng bào dân tộc được triển khai hiệu quả, dẫn đến tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm cao Nền kinh tế nhiều thành phần đang hình thành và phát triển, chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, với nhiều vùng chuyên canh cây trồng được hình thành Sự phát triển kinh tế đã cải thiện rõ rệt kết cấu hạ tầng vùng dân tộc và miền núi, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống của đồng bào Hệ thống cơ sở hạ tầng tại các trung tâm xã được xây dựng hoàn thiện, 100% các xã vùng dân tộc có đường nhựa đến trung tâm, tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch hợp vệ sinh đạt 94,5% và tỷ lệ hộ có điện thắp sáng đạt 96,7%.
19 http://web.cema.gov.vn/modules.php?name=News&op=Print&mid'66
Nhờ thực hiện hiệu quả các hình thức quản lý, Ủy ban nhân dân huyện đã nâng cao dân trí cho vùng dân tộc, hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú phát triển từ tỉnh đến huyện, tạo nguồn đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số Đời sống văn hoá của đồng bào được cải thiện, văn hoá truyền thống được tôn trọng và phát huy Hệ thống phát thanh truyền hình tại vùng dân tộc và miền núi không ngừng phát triển, trong khi các loại dịch bệnh cơ bản được ngăn chặn Việc khám chữa bệnh cho người nghèo ở vùng sâu, vùng xa ngày càng được chú trọng, cùng với việc ban hành nhiều chính sách ưu tiên chăm lo sức khoẻ cho đồng bào dân tộc Hệ thống chính trị tại vùng dân tộc được củng cố, đặc biệt ở cấp cơ sở, trong khi công tác phát triển Đảng được quan tâm Tình hình chính trị và trật tự xã hội ở vùng dân tộc ổn định, quốc phòng và an ninh được giữ vững.
Nội dung quản lý nhà nước của ủy ban nhân nhân cấp huyện đối với công tác dân tộc
Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quản lý công tác dân tộc theo chỉ đạo của các cơ quan cấp trên, nhằm đảm bảo ổn định chính trị, đặc biệt tại các vùng dân tộc thiểu số Công tác quản lý này được triển khai trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
1.7.1 Ban hành và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về lĩnh vực công tác dân tộc Ủy ban nhân dân huyện quản lý về dân tộc thông qua các chiến lược, chuơng trình mục tiêu, quy hoạch, chính sách… Chính vì thế, việc ban hành các văn bản nêu trên là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý về dân tộc Dân tộc và công tác quản lý về dân tộc được thực hiện tốt hay không phụ thuộc rất lớn đến công ban hành và chỉ đạo thực hiện các chiến lược Ủy ban nhân dân huyện ban hành các văn bản và chỉ đạo thực hiện các chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về công tác dân tộc; xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc, chính sách đặc thù, các chương trình, dự án, đề án phát triển vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, tiêu chí phân định vùng dân tộc theo trình độ phát triển, tiêu chí xác định thành phần dân tộc, tiêu chí về chuẩn đói nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số, xây dựng chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Các văn bản nêu trên của Ủy ban nhân dân huyện một mặt giúp Ủy ban nhân dân huyện quản lý tốt công tác dân tộc, đưa công tác dân tộc đi vào khuôn khổ, tạo điều kiện bảo vệ quyền lợi cho đồng bào dân tộc, giúp đồng bào dân tộc hiểu rõ các chính sách, sự quan tâm của nhà nước đối với đồng bào dân tộc Mặt khác, việc ban hành các văn bản nên trên trong lĩnh vực dân tộc tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ làm công tác dân tộc thực hiện nhiệm vụ dễ dàng, đồng bào dân tộc có thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong lĩnh vực dân tộc… Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân huyện có thể tổng kết, đánh giá toàn diện về tình hình phát triển của đồng bào dân tộc, thông qua việc tổ chức thực hiện các kế hoạch Ủy ban nhân dân huyện đặc biệt là Phòng dân tộc hiểu được đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc.Từ đó, tham mưu đề ra các kế hoạch tiếp theo đúng với thực tế, giúp cho Ủy ban nhân dân huyện hoàn thành nhiệm vụ được giao
Ủy ban nhân dân huyện đã kịp thời triển khai các chiến lược và chương trình nhằm nâng cao hiệu quả quản lý dân tộc tại địa phương Việc chỉ đạo thực hiện các mục tiêu quốc gia được thực hiện thông qua các kế hoạch của Ủy ban, yêu cầu sự phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn Cấp xã theo dõi tình hình thực hiện, từ đó đưa ra giải pháp khắc phục những khó khăn Nhờ vào sự chỉ đạo đúng đắn, các chính sách về lĩnh vực dân tộc đã góp phần tạo sự công bằng và phát triển cho vùng đồng bào dân tộc, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của họ Đồng bào dân tộc ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
1.7.2 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về công tác dân tộc; xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc
Việc ban hành văn bản pháp luật là cách thể chế hóa quan điểm và đường lối của Đảng về dân tộc, đóng vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước Công tác dân tộc là nhiệm vụ chung của toàn bộ hệ thống chính trị, bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, với mỗi tổ chức có phương thức thực hiện khác nhau tùy theo chức năng và quyền hạn Bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương quản lý dân tộc bằng nhiều biện pháp, trong đó pháp luật là công cụ quan trọng nhất Pháp luật về dân tộc điều chỉnh một phạm vi rộng lớn, liên quan đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội của các dân tộc thiểu số, và ngoài các văn bản pháp luật riêng, còn được lồng ghép trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục và y tế.
Trong những năm qua, Nhà nước Việt Nam đã liên tục ban hành và sửa đổi các quy định pháp luật để thúc đẩy sự đoàn kết, bình đẳng và tương trợ giữa các dân tộc Chính sách ưu tiên phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và giáo dục tại các vùng dân tộc thiểu số và miền núi được chú trọng, nhằm phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đồng thời, dự án luật dân tộc cũng đang được khẩn trương xây dựng, tạo ra khung pháp lý cơ bản cho các vấn đề và quan hệ dân tộc.
Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp huyện đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện hiệu quả các chính sách dân tộc của nhà nước, tạo ra khung pháp lý vững chắc cho công tác dân tộc Những văn bản này không chỉ định hướng hành vi của tổ chức và cá nhân mà còn xác định rõ cách thức xử sự, giúp các chủ thể thực hiện quyền lợi của mình trong khuôn khổ nghĩa vụ tương ứng Điều này góp phần thay đổi hành vi không mong muốn và thiết lập hành vi phù hợp với nhu cầu phát triển xã hội Hơn nữa, các văn bản pháp lý cần phù hợp với quy định cấp trên và phản ánh đúng tình hình dân tộc địa phương, đảm bảo tính thực tiễn và hiệu quả trong quản lý Để đạt được điều này, Ủy ban nhân dân huyện cần nắm vững thực tế và rà soát các quy định trước khi ban hành văn bản, nhằm hạn chế sai sót và khó khăn trong việc áp dụng.
Ủy ban nhân dân huyện đã triển khai hiệu quả các chủ trương, chính sách về dân tộc từ cấp trên, góp phần phát triển toàn diện kinh tế, xã hội và văn hóa tại vùng dân tộc Việc đưa các chính sách này vào thực tiễn không chỉ giúp ổn định cuộc sống của đồng bào dân tộc mà còn củng cố niềm tin vào Đảng và Nhà nước, ngăn chặn các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá đất nước.
1.7.3 Kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc, thực hiện phân công, phân cấp có hiệu quả trong lĩnh vực công tác dân tộc của Ủy ban nhân dân cấp huyện
Cán bộ làm công tác dân tộc đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai đường lối, chính sách dân tộc của Đảng đến với đồng bào Đảng và Nhà nước đã chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ này từ Trung ương đến địa phương Chương trình hành động của Chính phủ nêu rõ việc xây dựng tiêu chuẩn cho công chức làm công tác dân tộc, ưu tiên đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ cho họ Cán bộ cần nỗ lực nâng cao chuyên môn và gắn bó với nghề, đồng thời cần đổi mới công tác tổ chức và ưu tiên xây dựng đội ngũ cán bộ tại các địa phương khó khăn, nơi chủ yếu nhận trợ cấp từ ngân sách Trung ương.
Quản lý tổ chức và biên chế là nhiệm vụ quan trọng, bao gồm việc thực hiện chế độ, chính sách và đãi ngộ cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động Điều này bao gồm khen thưởng, kỷ luật, đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, cùng với các chế độ và chính sách khác theo quy định của pháp luật.
Uỷ ban nhân dân cấp huyện chú trọng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học về dân tộc thông qua việc tổ chức đào tạo trong và ngoài nước Kế hoạch này nhằm cải thiện trình độ và kỹ năng cho cán bộ trẻ và mới tuyển dụng, đồng thời bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ đang công tác Hơn nữa, cơ quan cũng thường xuyên cập nhật thông tin về tình hình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, xây dựng trung tâm thông tin và thư viện khoa học để phục vụ hiệu quả cho các hoạt động nghiên cứu.
Chúng tôi chú trọng xây dựng một bộ máy quản lý và đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, nhằm phục vụ lợi ích nhân dân và ngăn chặn tình trạng quan liêu, tham nhũng Công tác quy hoạch và sử dụng cán bộ được thực hiện công khai, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ phát huy khả năng Đồng thời, thực hiện tốt các chính sách khen thưởng để động viên tinh thần và tạo môi trường làm việc lành mạnh Ủy ban nhân dân huyện đặc biệt chú trọng đào tạo và sử dụng cán bộ là người dân tộc, giúp xây dựng hệ thống quản lý lĩnh vực dân tộc có năng lực, từ đó nâng cao hiệu quả công tác quản lý đồng bào dân tộc.
Ủy ban nhân dân huyện tiến hành đánh giá toàn diện cán bộ để bố trí nhân sự phù hợp với năng lực và sở trường, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng cán bộ Bên cạnh đó, việc phân công và phân cấp nhiệm vụ rõ ràng giữa các cơ quan chuyên môn và các ban, ngành liên quan trong quản lý lĩnh vực dân tộc giúp tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thực hiện nhiệm vụ, góp phần vào việc Ủy ban nhân dân huyện thực hiện tốt chức năng quản lý của mình.
1.7.4 Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số Ủy ban nhân dân huyện rất chú trọng đa dạng hóa nguồn tài chính, ban hành chính sách khuyến khích các doanh nghiệp, các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư vào các vùng dân tộc thiểu số, tăng cuờng khai thác các nguồn vốn từ hợp tác quốc tế, thành lập quỹ phát triển cho các vùng dân tộc thiểu số Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân huyện còn ban hành nhiều chính sách khuyến khích, tạo mọi điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc
Ủy ban nhân dân huyện đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng các đề án hàng năm nhằm đảm bảo nguồn vốn cho chính sách dân tộc và đầu tư phát triển các vùng dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn Đồng thời, Ủy ban cũng tăng cường quản lý, thanh tra, kiểm tra tài chính để chống thất thoát, lãng phí và nâng cao hiệu quả đầu tư Việc xã hội hóa nguồn lực đầu tư vào phát triển kinh tế - xã hội tại các vùng đồng bào dân tộc được thực hiện tốt sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện về kinh tế, văn hóa và xã hội trong khu vực này.