Khái niệm đầu tư gián tiếp ra nước ngoài
Đầu tư đóng vai trò quan trọng trong việc tái sản xuất và củng cố nguồn lực kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng bền vững và hội nhập quốc tế Theo định nghĩa kinh tế, đầu tư là việc sử dụng nguồn lực hiện có để thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội trong tương lai Nguồn lực đầu tư có thể là tài sản hữu hình như tiền, tài nguyên thiên nhiên, máy móc, hoặc tài sản vô hình như sức lao động, trí tuệ và công nghệ Theo Luật Đầu tư 2014, đầu tư kinh doanh bao gồm việc bỏ vốn để thành lập tổ chức kinh tế, góp vốn, mua cổ phần, hoặc thực hiện dự án đầu tư Trong cơ chế thị trường, hoạt động đầu tư diễn ra qua nhiều chủ thể khác nhau, từ cá nhân đến tổ chức, với hình thức ngày càng đa dạng.
1.1.2 Khái niệm đầu tƣ gián tiếp
Luật Đầu tư 2014 đã loại bỏ sự phân biệt giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp như trong Luật Đầu tư 2005, mà thay vào đó, quy định rõ các hình thức đầu tư kinh doanh từ Điều 22 đến Điều 29 Tuy nhiên, dựa trên vai trò quản lý dự án của nhà đầu tư, đầu tư vẫn có thể được phân loại thành đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
Trong luận án tiến sĩ “Quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán”, tác giả Nguyễn Thanh Huyền đã trích dẫn định nghĩa về đầu tư gián tiếp nước ngoài (Foreign Portfolio Investment - FPI) từ Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), cho rằng đây là hình thức mà nhà đầu tư nước ngoài góp vốn vào doanh nghiệp trong nước mà không tham gia vào việc quản lý điều hành Hoạt động này có nhiều hình thức khác nhau, bao gồm tín dụng quốc tế.
Các Điều 22 và 23 quy định về hình thức đầu tư để thành lập tổ chức kinh tế, trong khi Điều 24 đến Điều 26 đề cập đến hình thức đầu tư thông qua góp vốn, mua cổ phần và phần vốn góp vào tổ chức kinh tế Điều 27 quy định về hình thức đầu tư thông qua hợp đồng PPP, và Điều 28 cùng Điều 29 quy định về hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC.
Nguyễn Thanh Huyền (2015) trong luận án tiến sĩ kinh tế chính trị của mình tại Trường đại học Kinh tế Quốc dân đã phân tích về quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư nước ngoài và cách thức quản lý hiệu quả nhằm tối ưu hóa lợi ích cho nền kinh tế.
6 mua cổ phiếu, trái phiếu hoặc giấy tờ có giá, vốn tài trợ phát triển chính thức (ODA).”
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư (NĐT) góp vốn vào các dự án nước ngoài thông qua việc mua cổ phần hoặc chứng khoán trên thị trường tài chính quốc tế Mục tiêu của NĐT là thu lợi từ cổ tức hoặc thu nhập từ chứng khoán Tuy nhiên, với hình thức này, NĐT không có quyền tham gia điều hành dự án như trong đầu tư trực tiếp.
Đầu tư gián tiếp, theo giáo trình Kinh tế đối ngoại Việt Nam của Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, là hình thức đầu tư mà chủ sở hữu vốn không tham gia trực tiếp vào việc quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn Các chủ sở hữu vốn không chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư, mà chỉ nhận thu nhập từ cổ tức và lợi tức.
Đầu tư gián tiếp, mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng đều có điểm chung về bản chất Đây là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác, hoặc thông qua quỹ đầu tư chứng khoán và các định chế tài chính trung gian Mục tiêu của đầu tư gián tiếp là tìm kiếm lợi nhuận mà nhà đầu tư không trực tiếp quản lý hoạt động đầu tư.
1.1.3 Khái niệm đầu tư ra nước ngoài và đầu tư gián tiếp ra nước ngoài
Đầu tư của nhà đầu tư (NĐT) Việt Nam được phân loại thành đầu tư trong nước và đầu tư ra nước ngoài, với xu hướng đầu tư ra nước ngoài ngày càng gia tăng trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa Khi có đủ nguồn tài chính, năng lực và kinh nghiệm, NĐT không chỉ giới hạn hoạt động trong nước mà còn mở rộng ra thị trường quốc tế Đầu tư ra nước ngoài là việc NĐT chuyển vốn và tài sản hợp pháp từ Việt Nam để thực hiện các hoạt động đầu tư, bao gồm mua cổ phần, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác, hoặc thông qua quỹ đầu tư chứng khoán và các định chế tài chính trung gian ở nước ngoài nhằm mục tiêu thu lợi nhuận.
5 Trường đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh (2011), Giáo trình thương mại quốc tế, Nhà xuất bản Lao động Xã hội, tr 414
6 Trường đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh (2012), Kinh tế đối ngoại Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, tr 352
7 mà không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh Theo Khoản 1 Điều 3
Nghị định 135/2015/NĐ-CP quy định về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài:
ĐTGTRNN là hoạt động đầu tư ra nước ngoài thông qua việc mua bán chứng khoán, giấy tờ có giá, hoặc đầu tư qua các quỹ đầu tư chứng khoán và các định chế tài chính trung gian khác tại nước ngoài.
Đặc điểm của đầu tư gián tiếp ra nước ngoài
ĐTGTRNN là sự kết hợp giữa đầu tư gián tiếp và đầu tư ra nước ngoài, phản ánh vai trò của nhà đầu tư trong các dự án bên ngoài lãnh thổ Việt Nam Bản chất của ĐTGTRNN mang đặc điểm của cả hai hình thức đầu tư này Qua việc nghiên cứu tài liệu liên quan, khóa luận đã phân tích và tổng hợp để làm rõ những đặc điểm nổi bật của ĐTGTRNN.
Xét về bản chất đầu tƣ gián tiếp, ĐTGTRNN mang một số đặc điểm sau 7 :
Nhà đầu tư thực hiện đầu tư gián tiếp vào thị trường chứng khoán không tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát hành, mà chỉ tập trung vào lợi tức và sự an toàn của các chứng khoán Đầu tư gián tiếp thường đi kèm với việc đa dạng hóa danh mục đầu tư để tối đa hóa lợi nhuận, với vốn được phân tán ở nhiều khu vực kinh doanh khác nhau Nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội ở nhiều thị trường và thích nghi với các môi trường đầu tư mới nhằm thu lại lợi nhuận cao, từ đó sử dụng nguồn vốn hiệu quả và giảm thiểu rủi ro.
Đầu tư gián tiếp qua ĐTGTRNN không yêu cầu nhà đầu tư cam kết chuyển giao tài sản vật chất, công nghệ, hay đào tạo lao động như đầu tư trực tiếp, mà chỉ là đầu tư tài chính thuần túy trên thị trường tài chính quốc tế Điều này tạo ra rủi ro cho nhà đầu tư, đặc biệt là rủi ro chính trị, đạo đức và kinh tế tại các thị trường mới nổi Thị trường tài chính thường xuyên biến động và bị ảnh hưởng bởi tâm lý bầy đàn, khiến nhà đầu tư khó dự đoán xu hướng phát triển Ngoài ra, các thay đổi trong kinh tế, chính trị và xã hội của quốc gia tiếp nhận cũng có thể ảnh hưởng đến doanh số và lợi nhuận của doanh nghiệp.
7 Trường đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh (2012), Kinh tế đối ngoại Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, tr 356
Nguyễn Thanh Huyền (2015), Quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán,
Luận án tiến sĩ kinh tế chính trị, Trường đại học Kinh tế Quốc dân, tr 37-38
Đầu tư chứng khoán quốc tế mang lại nhiều rủi ro cho nhà đầu tư (NĐT), đặc biệt do sự khác biệt giữa thị trường tài chính nước ngoài và trong nước Khi thực hiện đầu tư ra nước ngoài, NĐT cần chuẩn bị cho các chi phí như nghiên cứu thị trường, tư vấn pháp luật, môi giới chứng khoán và chi phí ủy thác Tùy thuộc vào độ phức tạp của thị trường nước tiếp nhận, các khoản chi phí này có thể nằm trong dự tính hoặc vượt ngoài dự kiến.
Dòng vốn đầu tư gián tiếp ra nước ngoài (ĐTGTRNN) có tính thanh khoản cao, cho phép nhà đầu tư (NĐT) thực hiện các giao dịch nhanh chóng và linh hoạt Tính thanh khoản này khiến hình thức đầu tư này mang tính ngắn hạn, với khả năng rút ra và đưa vào dễ dàng, phụ thuộc vào biến động giá chứng khoán và chính sách quản lý của Nhà nước Trong bối cảnh suy thoái kinh tế hoặc khi tiềm năng lợi nhuận giảm, NĐT có thể nhanh chóng bán chứng khoán để bảo toàn vốn và chuyển sang các cơ hội đầu tư có lợi hơn Điều này mang lại cho NĐT sự chủ động trong quản lý nguồn vốn, khác với đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, nơi việc chuyển nhượng hoặc chấm dứt dự án gặp nhiều khó khăn.
Nhà đầu tư (NĐT) thường bị giới hạn tỷ lệ sở hữu và số lượng chứng khoán theo từng loại và quy định của quốc gia nhận đầu tư Điều này nhằm bảo vệ nền kinh tế trong nước và kiểm soát khả năng chi phối của NĐT nước ngoài Dòng vốn có tính thanh khoản cao, bất ổn và dễ đảo chiều có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính nếu NĐT rút vốn đột ngột, đặc biệt khi có những cú sốc kinh tế Do đó, pháp luật của nước sở tại thường quy định mức tối đa vốn góp để bảo vệ nền kinh tế quốc gia và xây dựng các chính sách điều tiết thị trường vốn, khiến NĐT phải tuân thủ các quy định này.
Vào ngày thứ năm, dựa vào đặc điểm của công cụ nợ, nhà đầu tư thực hiện đầu tư trái phiếu quốc gia (ĐTGTRNN) sẽ có quyền sở hữu và quyền kiểm soát khác nhau Quyền sở hữu và quyền kiểm soát là hai khái niệm tách biệt, không phải lúc nào cũng đi đôi với nhau trong các giao dịch.
Ấn Độ đã siết chặt quy định về tỷ lệ đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, cho phép họ chỉ được đầu tư tối đa 10% vào tổng vốn phát hành của doanh nghiệp Ấn Độ, tăng từ mức quy định cũ là 5% Đối với cổ phiếu Ấn Độ, tỷ lệ đầu tư cũng bị giới hạn dưới 10% tổng vốn cổ phần, trong khi trước đây có thể đầu tư tối đa đến 10%.
Trong giao dịch trái phiếu, nhà đầu tư không có quyền sở hữu và kiểm soát doanh nghiệp, trong khi đó, khi nắm giữ cổ phiếu, nhà đầu tư có quyền sở hữu tương ứng với tỷ lệ cổ phần Tuy nhiên, chỉ khi đạt một tỷ lệ cổ phiếu nhất định theo quy định pháp luật, nhà đầu tư mới có quyền kiểm soát doanh nghiệp Khi đó, nguồn vốn từ gián tiếp chuyển hóa thành trực tiếp, cho phép nhà đầu tư có khả năng trở thành chủ sở hữu doanh nghiệp thông qua các giao dịch mua bán hoặc sáp nhập.
Thu nhập của nhà đầu tư (NĐT) phụ thuộc vào loại chứng khoán mà họ nắm giữ Nếu NĐT mua trái phiếu, họ sẽ nhận được trái tức cố định, nhưng cũng có trái phiếu có phần thu nhập cố định và phần thay đổi theo kết quả sản xuất kinh doanh Đối với các loại chứng khoán khác, NĐT nhận lợi tức theo tỷ lệ và quyết định phân chia lợi nhuận, đồng thời phải chấp nhận rủi ro nếu đầu tư không thành công Mặc dù đầu tư gián tiếp ra nước ngoài (ĐTGTRNN) mang lại lợi nhuận thấp hơn, nhưng nó lại cung cấp sự ổn định và an toàn hơn cho NĐT.
Xét ở bản chất đầu tư ra nước ngoài, ĐTGTRNN mang một số đặc điểm sau 9 :
Thứ nhất, trong mối quan hệ với Nhà nước quốc gia tiếp nhận đầu tư, NĐT
Việt Nam là nhà đầu tư nước ngoài, với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTGTRNN) diễn ra ngoài lãnh thổ Việt Nam Yếu tố lãnh thổ luôn đi đôi với quốc tịch, khi nhà đầu tư Việt Nam đưa vốn ra nước ngoài để đầu tư Tại quốc gia tiếp nhận đầu tư, nguồn vốn này thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài Đặc điểm này mang lại cho nhà đầu tư Việt Nam quyền lợi và trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ theo quy định pháp luật của quốc gia tiếp nhận đầu tư.
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (ĐTGTRNN) phải tuân theo hai hệ thống pháp luật song song: pháp luật Việt Nam và pháp luật của quốc gia tiếp nhận đầu tư Hiệu lực pháp luật được xác định dựa trên yếu tố lãnh thổ, tôn trọng chủ quyền quốc gia Do đó, khi đầu tư diễn ra trên lãnh thổ nước khác, pháp luật Việt Nam không còn hiệu lực Pháp luật Việt Nam chủ yếu điều chỉnh giai đoạn đầu của hoạt động đầu tư, bao gồm các vấn đề như đối tượng được phép đầu tư, quy trình đăng ký, thẩm quyền chấp thuận ĐTGTRNN, công cụ và nguồn vốn đầu tư, cũng như việc chuyển vốn và lợi nhuận hợp pháp về nước.
Quy chế pháp lý về đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam đã được nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp của Võ Thị Xuân Ba (2003) tại Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh Bài viết tập trung vào thực tiễn áp dụng các quy định pháp lý hiện hành và đề xuất phương hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam.
Đầu tư trái phiếu quốc tế (ĐTGTRNN) không chỉ bị chi phối bởi các quy định pháp luật trong nước mà còn liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật chuyên ngành khác như quản lý ngoại hối và chứng khoán Điều này đòi hỏi nhà đầu tư (NĐT) phải có kiến thức pháp luật sâu rộng, bao gồm cả pháp luật Việt Nam và quốc tế Sự phức tạp này tạo ra tâm lý e ngại cho NĐT và dẫn đến chi phí tư vấn pháp lý cao khi thực hiện ĐTGTRNN.
Thứ ba, ĐTGTRNN có sự di chuyển những yếu tố đầu tƣ ra khỏi lãnh thổ
Việt Nam ĐTGTRNN là hình thức NĐT Việt Nam đƣa vốn hợp pháp từ trong nước ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư
Vốn đầu tư gián tiếp ra nước ngoài (ĐTGTRNN) thường được tính bằng ngoại tệ, chủ yếu là đồng đô la Mỹ, và được thực hiện bên ngoài lãnh thổ Việt Nam Do đó, nhà đầu tư (NĐT) không thể sử dụng đồng nội tệ (VND) để thực hiện các hoạt động đầu tư ở nước ngoài Điều này tạo ra mối liên hệ chặt chẽ giữa ĐTGTRNN và sự biến động của tỷ giá hối đoái, cũng như chính sách tiền tệ của các quốc gia tham gia đầu tư, bao gồm cả Việt Nam.
Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư gián tiếp ra nước ngoài
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTGTRNN) bị ảnh hưởng bởi cả yếu tố bên trong và bên ngoài Các yếu tố bên ngoài bao gồm môi trường quốc tế và quốc gia nơi tiếp nhận đầu tư, trong khi các yếu tố bên trong liên quan đến nhà đầu tư và bối cảnh kinh tế của Việt Nam.
1.3.1 Các yếu tố bên ngoài
Thứ nhất, môi trường quốc tế (tình hình kinh tế, chính trị xã hội thế giới):
Môi trường quốc tế có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến tất cả các quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu, bao gồm cả Việt Nam Hòa bình thế giới và sự ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội là điều kiện quan trọng để nhà đầu tư quyết định và thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài Khi có dấu hiệu suy thoái hoặc bất ổn trong môi trường kinh tế vĩ mô, đặc biệt là sự bất ổn chính trị, nhà đầu tư thường sẽ rút vốn và chuyển nguồn vốn đến những nơi an toàn hơn với mức sinh lời cao hơn.
Mức độ tự do hóa và sức cạnh tranh của môi trường đầu tư nước tiếp nhận đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn Tự do hóa bao gồm việc xóa bỏ các rào cản tài chính như kiểm soát lãi suất, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, và khuyến khích đầu tư nước ngoài vào doanh nghiệp nội địa Đồng thời, việc giảm thiểu can thiệp của Chính phủ và dỡ bỏ kiểm soát dòng vốn ra vào thị trường chứng khoán cũng góp phần nâng cao tính cạnh tranh Sức cạnh tranh quốc gia chính là tổng hợp các thể chế và chính sách hỗ trợ cho môi trường đầu tư.
Mức độ hiệu quả và tính năng suất của một quốc gia phụ thuộc vào 11 yếu tố quyết định nhằm đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút đầu tư, và nâng cao đời sống người dân Theo mô hình của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), năng lực cạnh tranh được đánh giá qua chỉ số cạnh tranh toàn cầu (GCI) và chia thành ba nhóm chính: nhóm các yếu tố cơ bản (thể chế, kết cấu hạ tầng, ổn định kinh tế vĩ mô, y tế và giáo dục phổ thông), nhóm các yếu tố cải thiện hiệu quả (đào tạo và giáo dục bậc cao, hiệu quả thị trường hàng hóa, thị trường lao động, mức độ sẵn sàng về công nghệ), và nhóm nhân tố sáng tạo (sự tinh tế của doanh nghiệp và đổi mới) Trước khi quyết định đầu tư, nhà đầu tư cần nghiên cứu mức độ tự do hóa và sức cạnh tranh của môi trường đầu tư, bao gồm tốc độ tăng trưởng, ưu đãi tài chính, và chính sách hỗ trợ thông tin từ nhà nước để tìm kiếm cơ hội đầu tư tối ưu và hiệu quả nhất.
Chính sách đầu tư của quốc gia tiếp nhận đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút đầu tư Một môi trường pháp lý thuận lợi, phù hợp với thông lệ quốc tế và bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư sẽ tạo sức hấp dẫn mạnh mẽ cho quốc gia đó Ngược lại, nếu có những rào cản và chính sách quản lý nghiêm ngặt, nhà đầu tư sẽ cảm thấy lo ngại khi quyết định đầu tư.
Đỗ Văn Đức trong bài viết “Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia” nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện năng lực cạnh tranh để phát triển kinh tế bền vững Ông đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, khuyến khích đổi mới sáng tạo và tăng cường hợp tác quốc tế Bài viết cũng chỉ ra rằng việc nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ giúp quốc gia phát triển mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân.
Thái Lan, Singapore và Philippines không áp dụng giới hạn về tỷ lệ sở hữu tối đa cho nhà đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho quy trình đầu tư Điều này giúp giảm thiểu sự phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, như được nêu bởi Lê Quốc Tuấn và Nguyễn Quỳnh Chi trong nghiên cứu của họ về quản lý và thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài.
Thái Lan đã ban hành quy chế giao dịch cho phép nhà đầu tư nước ngoài thực hiện giao dịch tự do, bao gồm cả đầu tư trực tiếp và gián tiếp qua danh mục chứng khoán Vốn được chuyển vào Thái Lan và gửi trong tài khoản ngoại tệ một cách tự do, trong khi cổ tức, lợi nhuận và lãi suất sau thuế có thể dễ dàng chuyển về nước Các loại chứng khoán, tín phiếu và hối phiếu cũng có thể được chuyển ra nước ngoài mà không gặp trở ngại nào Singapore và Philippines cũng áp dụng những chính sách tương tự, khuyến khích đầu tư vào thị trường chứng khoán với rất ít hạn chế.
Các nhà đầu tư muốn tham gia vào thị trường chứng khoán (TTCK) tại một số quốc gia Đông Nam Á cần thực hiện thủ tục đăng ký theo quy định và tuân thủ các điều kiện cơ bản cho việc đầu tư Ngoài ra, nhà đầu tư nước ngoài phải cung cấp giấy tờ và chứng minh nhân thân để ngăn chặn các hành vi tiêu cực như rửa tiền và tài trợ khủng bố Thái Lan và Philippines có quy định rõ ràng về các lĩnh vực mà nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư, trong đó một số lĩnh vực nhạy cảm liên quan đến bí mật quốc gia và quốc phòng, cũng như các lĩnh vực đặc thù như nghề thủ công, bị hạn chế.
Rào cản thuế tại nước tiếp nhận có ảnh hưởng lớn đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư Chính sách thuế cao có thể làm giảm lợi nhuận và hạn chế khả năng đầu tư.
Sự phát triển của thị trường tài chính ảnh hưởng lớn đến quyết định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của nhà đầu tư (NĐT) Họ thường chú trọng đến các ưu đãi và chính sách thu hút vốn, bao gồm cơ sở hạ tầng như điện, giao thông, và chính sách thuế Đối với đầu tư gián tiếp ra nước ngoài (ĐTGTRNN), NĐT quan tâm đến sự phát triển của thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường chứng khoán (TTCK) Sự phát triển này được thể hiện qua hệ thống tiền tệ và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh, độ mở cửa và chất lượng của TTCK, cũng như sự đa dạng và hiệu quả của các định chế tài chính trung gian như quỹ đầu tư chứng khoán và công ty bảo hiểm Tuy nhiên, các quy định quản lý và xử phạt nghiêm khắc vẫn được duy trì, hạn chế sự tham gia của NĐT nước ngoài.
Lê Quốc Tuấn và Nguyễn Quỳnh Chi (2014) trong bài viết "Quản lý và thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài" đã phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia và rút ra bài học cho Việt Nam Nghiên cứu được đăng trên Tạp chí Chứng khoán, số 194/2014, trang 10, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý hiệu quả và các chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế bền vững.
Năm 2011, Chính phủ Hàn Quốc đã tái áp dụng mức khấu trừ thuế 14% đối với thu nhập lãi của người không cư trú khi nắm giữ trái phiếu kho bạc, nhằm hạn chế dòng vốn vào nước Điều này được nêu trong bài viết của Lê Thị Thùy Vân và Vương Duy Lâm trên Tạp chí Tài chính, số 654/2017, trang 66.
Lãi suất thực ở Thổ Nhĩ Kỳ luôn duy trì ở mức cao, dao động quanh 75% trong nhiều năm, giúp thu hút nhiều vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài Trong khi đó, Chi Lê đã chuyển từ tỷ giá cố định sang tỷ giá linh hoạt, neo với các đồng tiền mạnh để thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài.
“Kinh nghiệm quản lý, giám sát luân chuyển vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài”, Tạp chí Tài chính, số 654/2017, tr.64-65
NĐT nước ngoài chủ yếu mua cổ phiếu N và H của các công ty Trung Quốc, trong khi cổ phiếu A, phát hành trên TTCK Trung Quốc, không được phép mua Ngày 01/12/2002, Chính phủ Trung Quốc ban hành Quy chế QFII, cho phép các NĐT nước ngoài có giấy phép QFII được quyền mua cổ phiếu A, được định giá bằng đồng Nhân dân tệ.
Hình thức đầu tư gián tiếp ra nước ngoài
Đầu tư gián tiếp từ nước ngoài (ĐTGTRNN) chủ yếu được thực hiện qua các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu và chứng chỉ quỹ, mà không làm tăng tài sản cố định trong nền kinh tế như đầu tư trực tiếp ĐTGTRNN có hai hình thức thực hiện chính.
Trực tiếp mua, bán chứng khoán, các giấy tờ có giá khác ở nước ngoài
Cơ quan giám quản chứng khoán Trung Quốc đã ban hành thủ tục công bố thông tin và áp dụng các biện pháp tạm thời để ngăn chặn hành vi lừa đảo liên quan đến chứng khoán, nhằm bảo vệ nhà đầu tư Lê Quốc Tuấn và Nguyễn Quỳnh Chi (2014) trong bài viết "Quản lý và thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài: Kinh nghiệm của một số quốc gia và bài học cho Việt Nam" đăng trên Tạp chí Chứng khoán, số 194/2014, trang 9, đã nêu rõ tầm quan trọng của việc quản lý và thu hút vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài.
Kể từ năm 2005, Trung Quốc đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ trong quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước Nhiều doanh nghiệp lớn, nắm giữ vị trí độc quyền trong nền kinh tế quốc dân, đã thực hiện phát hành lần đầu ra công chúng Những doanh nghiệp này sở hữu tiềm năng lớn với vốn điều lệ lên đến hàng trăm tỷ đô la.
Mỹ đang thu hút sự quan tâm mạnh mẽ từ các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là từ những tập đoàn lớn như Petro China và China Mobile Theo Nguyễn Đông Chiều, trong bài viết "Thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài: Kinh nghiệm từ Trung Quốc", việc quản lý vốn đầu tư gián tiếp là rất quan trọng để phát triển kinh tế Thông tin chi tiết có thể được tìm thấy tại http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-quoc-te/thu-hut-va-quan-ly-von-dau-tu-gian-tiep-nuoc-ngoaikinh-nghiem-tu-trung-quoc-7860.html, truy cập ngày 06/7/2017.
Các nhà đầu tư (NĐT) có thể tự mình hoặc ủy thác cho tổ chức thực hiện giao dịch mua, bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán nước ngoài, bao gồm trái phiếu và cổ phiếu Người nắm giữ trái phiếu được đảm bảo thanh toán đầy đủ gốc và lãi đúng hạn, trong khi cổ đông sở hữu cổ phiếu sẽ nhận cổ tức tương ứng với tỷ lệ vốn góp Tùy thuộc vào chiến lược đầu tư, NĐT sẽ cân nhắc giữa lợi nhuận mong muốn và mức độ rủi ro chấp nhận để lựa chọn giữa cổ phiếu và trái phiếu Những NĐT chấp nhận rủi ro cao thường ưa chuộng cổ phiếu để tìm kiếm lợi nhuận lớn, trong khi những NĐT ưu tiên sự an toàn sẽ chọn trái phiếu với mức rủi ro thấp hơn Ngoài ra, NĐT cũng có thể đầu tư qua việc mua, bán chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán hoặc ủy thác đầu tư cho các định chế tài chính trung gian ở nước ngoài.
Các nhà đầu tư có thể tự mình hoặc ủy thác cho tổ chức mua, bán chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán quốc tế Một số quỹ đầu tư chứng khoán phổ biến ở nước ngoài bao gồm quỹ tương hỗ và quỹ đầu tư mạo hiểm Nhà đầu tư tiến hành thực hiện giao dịch mua chứng chỉ quỹ để đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình.
Trái phiếu là một loại chứng khoán, trong đó người phát hành có nghĩa vụ trả cho người nắm giữ một khoản tiền xác định, bao gồm vốn và lãi, trong một khoảng thời gian nhất định Theo chủ thể phát hành, trái phiếu được phân loại thành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu công ty.
Cổ phiếu là chứng khoán xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với vốn và tài sản của công ty cổ phần Mỗi quốc gia có quy định riêng về việc mua cổ phiếu, thường có những hạn chế nhất định.
Chứng chỉ quỹ đầu tư (investment unit) là loại chứng khoán chứng nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với một phần vốn góp của quỹ đại chúng Quỹ đầu tư được phân loại thành quỹ đại chúng và quỹ thành viên dựa trên số lượng thành viên, trong đó chỉ quỹ đại chúng mới có quyền phát hành chứng chỉ quỹ ra công chúng.
Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ tiền được hình thành từ vốn góp của các nhà đầu tư, nhằm mục đích đầu tư chủ yếu vào chứng khoán để tìm kiếm lợi nhuận Mặc dù định nghĩa về quỹ đầu tư chứng khoán có thể khác nhau giữa các quốc gia, nhưng chúng đều có những đặc điểm chung: quỹ tập trung vốn từ nhiều nhà đầu tư, đầu tư vào các công cụ tài chính như cổ phiếu và trái phiếu, và được quản lý bởi những chuyên gia có kinh nghiệm để đảm bảo hiệu quả và an toàn hơn so với việc đầu tư cá nhân Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư sẽ được chia theo tỷ lệ đóng góp vốn của các thành viên trong quỹ.
23 “Quỹ tương hỗ (mutual fund)là quỹ đƣợc điều hành bởi công ty đầu tƣ nhằm huy động vốn từ nhiều
Nhà đầu tư (NĐT) tham gia vào việc đầu tư cổ phiếu, trái phiếu, hợp đồng quyền chọn, hàng hóa và các chứng khoán trên thị trường tiền tệ NĐT sẽ nhận được lãi từ các hoạt động đầu tư và có cơ hội tiếp cận danh mục đầu tư đa dạng với sự quản lý chuyên nghiệp.
Đầu tư mạo hiểm (Venture Capital) là hình thức cung cấp tài chính cho các công ty mới thành lập hoặc những công ty đang trong giai đoạn phát triển 24 quỹ đầu tư mạo hiểm nổi bật hiện nay đã và đang góp phần quan trọng vào sự phát triển của các doanh nghiệp khởi nghiệp, giúp họ có nguồn lực cần thiết để mở rộng hoạt động và đổi mới sáng tạo.
Đầu tư qua quỹ chứng khoán mang lại nhiều lợi ích cho nhà đầu tư, bao gồm việc giảm thiểu rủi ro nhờ vào sự đa dạng hóa danh mục đầu tư và tiết kiệm chi phí Nhà đầu tư sẽ được hưởng lợi từ hoạt động đầu tư tương ứng với tỷ lệ vốn góp, đồng thời tiếp cận các dịch vụ quản lý đầu tư chuyên nghiệp Hơn nữa, quỹ chứng khoán cung cấp tính minh bạch cao về tình trạng đầu tư, giúp nhà đầu tư nắm rõ thông tin và tình hình tài chính của mình.
Đầu tư gián tiếp ra nước ngoài có thể thực hiện thông qua việc ủy thác đầu tư cho các định chế tài chính trung gian như ngân hàng thương mại, công ty tài chính, và công ty quản lý quỹ NĐT giao vốn cho các tổ chức này để họ thực hiện đầu tư, giúp tập hợp nguồn vốn từ nhiều nhà đầu tư và tìm kiếm cơ hội sinh lời Với chuyên môn hóa, các định chế tài chính thu thập và phân tích thông tin để tối ưu hóa hiệu suất sử dụng vốn và giảm chi phí cho NĐT Danh mục đầu tư được thiết kế nhằm tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư.
Sự hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về đầu tƣ gián tiếp
1.5.1 Giai đoạn trước khi ban hành Luật Đầu tư 2014
Trước khi Luật Đầu tư 2014 được ban hành, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTGTRNN) đã bắt đầu xuất hiện nhưng chưa có quy định pháp luật cụ thể nào Hơn nữa, Nhà nước cũng chưa phân công nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cho các Bộ, ngành và cơ quan liên quan trong việc quản lý lĩnh vực ĐTGTRNN.
Nghị định số 22/1999/NĐ-CP của Chính phủ, ban hành ngày 14/4/1999, đã tạo nền tảng cho đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực đầu tư mạo hiểm Quỹ đầu tư mạo hiểm là sự kết hợp vốn từ các nhà đầu tư để đầu tư vào các công ty mới thành lập, chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán, với tiềm năng tăng trưởng cao Nhà đầu tư có thể tham gia bằng cách góp vốn vào các quỹ này, từ đó sở hữu cổ phần và chia sẻ lợi nhuận, nhưng không trực tiếp tham gia vào hoạt động kinh doanh mà đóng vai trò tư vấn và hỗ trợ các giải pháp điều hành Các quỹ đầu tư mạo hiểm thường được thành lập bởi các công ty hoặc tập đoàn lớn với đội ngũ chuyên gia dày dạn kinh nghiệm, nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho nhà đầu tư thông qua các chiến lược đầu tư tỉ mỉ.
16 pháp lý cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài Theo Khoản 1 Điều 1 Nghị định này:
Đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam là việc chuyển vốn và tài sản ra nước ngoài để thực hiện các hoạt động đầu tư trực tiếp, theo quy định của Nghị định hiện hành Quy định này cho thấy pháp luật Việt Nam đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động kinh doanh quốc tế.
Thời kỳ này cho phép đầu tư ra nước ngoài, nhưng có giới hạn về phạm vi chủ thể và hình thức đầu tư Đầu tư chỉ được thực hiện dưới hình thức đầu tư trực tiếp Để khắc phục những hạn chế này và thực hiện chính sách khuyến khích đầu tư ra nước ngoài, Luật Đầu tư 2005 đã quy định rõ ràng về vấn đề này tại Khoản 14 Điều.
Đầu tư ra nước ngoài được định nghĩa là việc nhà đầu tư chuyển vốn và tài sản hợp pháp từ Việt Nam ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư Quy định này không chỉ cho phép đầu tư trực tiếp mà còn mở rộng sang hình thức đầu tư gián tiếp, trong đó nhà đầu tư có thể mua cổ phần hoặc chứng khoán của các công ty nước ngoài thông qua thị trường tài chính Điều này giúp nhà đầu tư thu lợi nhuận từ cổ tức hoặc thu nhập chứng khoán mà không cần tham gia điều hành trực tiếp Sự thay đổi này tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp với khả năng tài chính, năng lực và mục đích đầu tư, đồng thời cho phép họ chuyển đổi linh hoạt giữa các hình thức đầu tư mà không bị ràng buộc như trước đây.
Quy định về đầu tư ra nước ngoài theo hình thức đầu tư gián tiếp tại Khoản 2 Điều 76 Luật Đầu tư 2005 chỉ dừng lại ở mức khái quát và chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết Chính phủ cần có chủ trương chính thức để chỉ đạo các cơ quan như NHNN, Bộ Tài chính và Ủy ban chứng khoán phối hợp xây dựng chính sách cụ thể Mặc dù có khoảng trống pháp lý, đầu tư gián tiếp ra nước ngoài vẫn diễn ra, thể hiện qua sự xuất hiện của các công ty chứng khoán Việt Nam trên thị trường chứng khoán Lào, Campuchia Vào đầu năm 2008, ông Đoàn Nguyên Đức, chủ tịch Câu lạc bộ Hoàng Anh Gia Lai, đã lên kế hoạch mua 20% cổ phần của Arsenal và ủy thác cho Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI) nghiên cứu, thẩm định báo cáo tài chính của Arsenal trước khi quyết định đầu tư.
25 “Ông Đoàn Nguyên Đức mua Arsenal”, http://doanhnhanduongthoi.vn/chi-tiet/92-3626-ong-doan-nguyen- duc-mua-arsenal.html, truy cập ngày 12/6/2017
Cục Đầu tư nước ngoài và BTC đã không cho phép Hoàng Anh Gia Lai thực hiện 17 dự định giao dịch do chưa có quy định về đầu tư gián tiếp nước ngoài (ĐTGTRNN) Ông Phan Hữu Thắng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, cho biết nhiều doanh nghiệp đã hỏi về thủ tục ĐTGTRNN qua việc mua cổ phần của công ty nước ngoài, nhưng hồ sơ vẫn bị tắc tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư do thiếu cơ sở pháp lý để cấp phép Trong những trường hợp này, Bộ chỉ tiếp nhận hồ sơ và chuyển cho Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Thêm vào đó, Luật Chứng khoán năm 2006 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm
Nghị định 58/2012/NĐ-CP quy định chi tiết về hoạt động chào bán, niêm yết và giao dịch chứng khoán tại Việt Nam, nhưng chưa điều chỉnh hoạt động đầu tư chứng khoán trên thị trường quốc tế Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11 chỉ quy định quản lý ngoại hối cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài của tổ chức kinh tế mà không có quy định về thẩm quyền chấp thuận Tuy nhiên, khoản 9 Điều 1 của Pháp lệnh Ngoại hối sửa đổi số 06/2013/UBTVQH13 đã bổ sung quy định về đầu tư ra nước ngoài, nhưng chỉ áp dụng cho các tổ chức tín dụng.
Trước khi Luật Đầu tư 2014 được ban hành, hoạt động Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (ĐTGTRNN) thiếu cơ sở pháp lý để thực hiện Thực tế, chỉ một số tổ chức tín dụng (TCTD) có khả năng chuyển vốn ra nước ngoài trong khuôn khổ hoạt động ngoại hối trên thị trường quốc tế Bên cạnh đó, một số trường hợp đặc biệt được Thủ tướng Chính phủ cho phép ĐTGTRNN chủ yếu nhằm mục tiêu tiếp cận và xâm nhập vào thị trường quốc tế.
1.5.2 Giai đoạn từ khi ban hành Luật Đầu tƣ 2014 cho đến nay
Việt Nam đã mở cửa thị trường và thu hút đầu tư nước ngoài nhằm phát triển kinh tế, đồng thời từng bước xúc tiến đầu tư ra nước ngoài để tạo cơ hội lợi nhuận cho nhà đầu tư trong nước Ông Nguyễn Văn Hoàng, phụ trách mảng đầu tư nước ngoài của C.T Group, ví von: “Đầu tư ra nước ngoài như đào ao ra biển lớn; nếu lo ngại nước trong ao chảy hết ra biển, rồi bế quan tỏa cảng, thì sẽ không có ngày nước từ biển ồ ạt trở lại.”
26 “Có thể mua chứng khoán ở nước ngoài?”, http://vneconomy.vn/chung-khoan/co-the-mua-co-phan-o- nuoc-ngoai-62315.htm, truy cập ngày 05/5/2017
Bài viết "Phát triển kinh tế: Canh bạc đầu tư ra nước ngoài" phân tích những rủi ro và cơ hội trong việc đầu tư ra nước ngoài nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đầu tư quốc tế không chỉ mang lại lợi nhuận mà còn giúp các doanh nghiệp mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, các nhà đầu tư cần cân nhắc kỹ lưỡng về các yếu tố như chính trị, kinh tế và văn hóa của quốc gia mục tiêu để giảm thiểu rủi ro Việc tìm hiểu thị trường và xây dựng chiến lược đầu tư hợp lý là rất quan trọng để đạt được thành công bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
Thị trường quốc tế giống như một đại dương rộng lớn, thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư, khiến doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội ở nước ngoài Xu hướng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đã xuất hiện, cùng với việc tự do hóa giao dịch trên thị trường chứng khoán trong khối ASEAN và cam kết gia nhập WTO, tạo ra nhu cầu đầu tư ra nước ngoài cho nhà đầu tư Việt Nam Để quản lý dòng vốn đầu tư ra nước ngoài, Việt Nam cần có định hướng và biện pháp phù hợp, nhưng thời điểm cụ thể để quy định chi tiết vẫn cần được cân nhắc kỹ lưỡng dựa trên lộ trình mở cửa thị trường tiền tệ và trình độ phát triển kinh tế.
Ngày 26/11/2014, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư 2014, trong đó quy định về đầu tư ra nước ngoài (ĐTGTRNN) Cụ thể, tại Điểm d, Khoản 1, Điều 52, Luật này cho phép đầu tư ra nước ngoài thông qua việc mua bán chứng khoán, giấy tờ có giá và đầu tư qua các quỹ đầu tư chứng khoán cùng các định chế tài chính trung gian khác Bên cạnh đó, Khoản 2 của Điều này cũng giao Chính phủ nhiệm vụ quy định chi tiết về ĐTGTRNN.
Ngày 31/12/2015, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 135/2015/NĐ-CP để triển khai hướng dẫn Luật Đầu tư 2014 về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài Nghị định này nhằm xây dựng cơ chế chính sách quản lý chặt chẽ, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho nhà đầu tư, đồng thời thực hiện mục tiêu quản lý nhà nước và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô Nghị định cũng quy định các chính sách quản lý, rào cản kỹ thuật và điều kiện áp dụng cho từng đối tượng nhà đầu tư, thông qua việc xác định phương thức đầu tư, phân loại đối tượng và điều kiện cấp phép cho hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài.
2 phương thức gồm tự doanh ĐTGTRNN và ủy thác ĐTGTRNN
Ngày 29/06/2016, NHNN Việt Nam đã ban hành Thông tư số 10/2016/TT-NHNN, hướng dẫn các quy định tại Nghị định số 135/2015/NĐ-CP về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài Đồng thời, Bộ Tài chính cũng phát hành Thông tư 105/2016/TT-BTC, hướng dẫn hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài cho các tổ chức kinh doanh chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán và doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm Những văn bản này cùng với Nghị định 135/2015/NĐ-CP tạo thành khuôn khổ pháp lý cho hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài tại Việt Nam.
Ý nghĩa đầu tư gián tiếp ra nước ngoài
ĐTGTRNN là một xu hướng không thể tránh khỏi trong bối cảnh tự do hóa tài khoản vốn và hội nhập sâu rộng với nền kinh tế toàn cầu hiện nay, do đó, hoạt động này mang lại vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài (ĐTGTRNN) đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn giữa các quốc gia, đặc biệt là ở các nước nhận đầu tư, nơi có nhu cầu cao về vốn để phát triển kinh tế Các quốc gia thừa vốn, với hiệu quả sử dụng vốn thấp, đã nỗ lực xuất khẩu vốn nhằm tối đa hóa lợi nhuận Sự chênh lệch này thúc đẩy dòng di chuyển đầu tư quốc tế từ những nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn Tại Việt Nam, mặc dù quy mô dự trữ ngoại hối còn hạn chế, ĐTGTRNN vẫn đang được triển khai nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập kinh tế Công cụ này không chỉ giúp phân bổ và điều hòa dòng vốn mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn của Nhà nước, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế Hơn nữa, ĐTGTRNN hỗ trợ Nhà nước trong việc thực hiện các chính sách tài chính và tiền tệ, từ đó nâng cao vị thế của Việt Nam trên thị trường quốc tế Sự kết hợp giữa yếu tố nội lực và cơ hội quốc tế sẽ giúp Việt Nam thực hiện đồng thời hai chiến lược: thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài và xây dựng cơ chế cho ĐTGTRNN.
Đầu tư vào thị trường tài chính quốc tế (ĐTGTRNN) là một kênh đầu tư hiệu quả và an toàn cho nhà đầu tư, giúp nâng cao hiệu suất sử dụng vốn ĐTGTRNN không chỉ góp phần quốc tế hóa danh mục đầu tư mà còn giảm thiểu rủi ro so với việc chỉ đầu tư vào thị trường chứng khoán nội địa Việc phân bổ tài sản đầu tư toàn cầu có thể mang lại lợi tức cao hơn với cùng mức độ rủi ro, hoặc giảm thiểu rủi ro với cùng mức lợi tức dự kiến Đây là nguyên tắc cơ bản trong việc đa dạng hóa chính sách đầu tư.
“không bỏ trứng vào cùng một rổ” Khi mở rộng đầu tư ra nước ngoài, rủi ro sẽ
Đầu tư ra nước ngoài (ĐTGTRNN) giúp phân tán rủi ro hệ thống và tối ưu hóa lợi nhuận cho nhà đầu tư (NĐT) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần lựa chọn các kênh đầu tư hiệu quả để sinh lời từ nguồn dự trữ ngoại tệ Việc không đầu tư sẽ không tạo ra giá trị cho nguồn dự trữ này Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) có cơ hội mở rộng đầu tư ra quốc tế sau khi thoái vốn khỏi nhiều doanh nghiệp, nhằm đạt mục tiêu trở thành NĐT chiến lược của Chính phủ Các NĐT khác cũng tìm kiếm cơ hội tại các thị trường mới như Lào và Campuchia, nơi có nhiều ưu đãi ĐTGTRNN tạo điều kiện cho các tổ chức kinh tế tham gia đầu tư, góp vốn, và thực hiện mua bán sáp nhập (M&A) doanh nghiệp nước ngoài, đồng thời tận dụng lợi ích từ các hiệp định thương mại tự do Ngoài ra, các tổ chức này còn có cơ hội mở rộng thị trường và hoàn thiện chuỗi cung ứng.
Rủi ro hệ thống (Systematic risk) là loại rủi ro chung ảnh hưởng đến tất cả các chứng khoán trong cùng một hạng, không thể loại bỏ thông qua việc đa dạng hóa danh mục đầu tư.
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác mà không trực tiếp quản lý Đầu tư ra nước ngoài đề cập đến việc nhà đầu tư Việt Nam đưa vốn hợp pháp ra nước ngoài để đầu tư Đầu tư gián tiếp ra nước ngoài (ĐTGTRNN) hiểu là việc nhà đầu tư Việt Nam sử dụng vốn hợp pháp từ trong nước để mua cổ phần, trái phiếu hoặc đầu tư qua quỹ đầu tư chứng khoán ở nước ngoài nhằm thu lợi nhuận mà không trực tiếp tham gia điều hành ĐTGTRNN có đặc điểm của cả đầu tư gián tiếp và đầu tư ra nước ngoài, bao gồm việc nhà đầu tư không tham gia quản lý dự án, tính thanh khoản cao, và chịu sự chi phối của hai hệ thống pháp luật Các yếu tố bên ngoài như tình hình kinh tế, chính trị và chính sách đầu tư của nước tiếp nhận cũng ảnh hưởng đến ĐTGTRNN, bên cạnh các yếu tố bên trong như nhu cầu và chiến lược đầu tư của nhà đầu tư Việt Nam ĐTGTRNN chủ yếu được thực hiện qua việc mua bán chứng khoán ở nước ngoài và đầu tư thông qua quỹ đầu tư chứng khoán.
Đầu tư gián tiếp ra nước ngoài (ĐTGTRNN) đã bắt đầu xuất hiện trước khi Luật Đầu tư 2014 được ban hành, nhưng vẫn còn nhiều khoảng trống pháp lý Sự ra đời của Luật Đầu tư 2014 đã tạo nền tảng cho việc ban hành nhiều văn bản hướng dẫn chi tiết về ĐTGTRNN, trong đó có Nghị định 135/2015/NĐ-CP của Chính phủ, được ban hành vào ngày 31/12/2015, quy định cụ thể về hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài.
Thông tư 10/2016/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành ngày
Ngày 29/6/2016, Thông tư 105/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính đã hướng dẫn một số nội dung quy định tại Nghị định số 135/2015/NĐ-CP, liên quan đến đầu tư gián tiếp ra nước ngoài Thông tư này không chỉ hoàn thiện cơ sở pháp lý cho nhà đầu tư (NĐT) mà còn thúc đẩy hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài (ĐTGTRNN) Đồng thời, nó cũng tăng cường vai trò quản lý và kiểm soát của cơ quan Nhà nước, nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp cho NĐT trong lĩnh vực này.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTGTRNN) đang trở thành xu hướng tất yếu, mang lại nhiều cơ hội cho nhà đầu tư (NĐT) tìm kiếm lợi nhuận an toàn và hiệu quả NĐT có thể thực hiện mua bán, sáp nhập doanh nghiệp nước ngoài và mở rộng thị trường Hơn nữa, ĐTGTRNN giúp Việt Nam tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn vốn, đồng thời cải thiện cơ cấu kinh tế và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.