1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về kiểm soát chuyển giá đối với doanh nghiệp FDI ở việt nam

96 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp Luật Về Kiểm Soát Chuyển Giá Đối Với Doanh Nghiệp FDI Tại Việt Nam
Tác giả Lê Đặng Phương Linh
Người hướng dẫn TS. Phan Phương Nam
Trường học Trường Đại Học Luật Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản Trị-Luật
Thể loại khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật
Năm xuất bản 2020
Thành phố Tp Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,64 MB

Cấu trúc

  • Blank Page

  • Blank Page

  • Blank Page

  • Blank Page

Nội dung

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ VÀ PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT CHUYỂN GIÁ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP FDI Ở VIỆT NAM

Khái quát về chuyển giá và đặc điểm của chuyển giá

1.1.1 Khái niệm về chuyển giá:

Chuyển giá là khái niệm liên quan đến việc thiết lập giá cho hàng hóa và dịch vụ giữa các pháp nhân có liên quan trong cùng một doanh nghiệp, như khi công ty con bán hàng cho công ty mẹ Theo Andrew Lymer & John Hasseldine, chuyển giá thường xảy ra trong các công ty đa quốc gia (MNEs) và được hiểu là việc áp dụng chính sách giá không theo giá thị trường nhằm giảm thiểu thuế toàn cầu Tổ chức OECD cũng định nghĩa chuyển giá là việc thực hiện chính sách giá cho sản phẩm và dịch vụ giữa các bên liên kết mà không theo giá giao dịch thông thường, với mục tiêu tối thiểu hóa tổng số thuế phải nộp.

Tại Việt Nam, vấn đề định giá chuyển giao và hành vi chuyển giá đang thu hút sự quan tâm ngày càng nhiều từ các nhà nghiên cứu Các học giả đã diễn đạt thuật ngữ chuyển giá theo nhiều cách khác nhau Theo TS Phạm Hùng Tiến (2012), chuyển giá được hiểu là việc xác định giá trị tiền tệ cho một loại hàng hóa hay sản phẩm nhất định, nhưng chỉ áp dụng cho những mặt hàng không được mua từ bên ngoài, mà là hàng hóa được trao đổi giữa các đơn vị liên kết trong cùng một doanh nghiệp.

1 Shivangia Agarwal, Transfer Pricing : Meaning, examples, risks and benefits Truy cập tại: https://www.linkedin.com/pulse/transfer-pricing-meaning-examples-risks-benefits-shivangi-agarwal/ truy cập ngày 05/5/2020

Giá chuyển giao (Transfer Price) là mức giá mà một công ty áp dụng cho hàng hóa, dịch vụ hoặc tài sản vô hình khi giao dịch với công ty thành viên hoặc các công ty liên kết, không được xác định trên thị trường tự do Mức giá này khác biệt so với giá mà các đối tác thương mại không có quan hệ liên kết thực hiện trong cùng một giao dịch tương tự.

3 Andrew Lymer & John Hasseldine (2002), The International Taxation System, tr 30

4 OECD (2010), Hướng dẫn về giá chuyển nhượng cho công ty đa quốc gia và các cơ quan quản lý thuế (Bản dịch tiếng Việt của Tổng cục Thuế)

Theo PGS.TS Phan Duy Minh, có 7 điều áp dụng cho các tập đoàn bao gồm nhiều doanh nghiệp liên kết có tư cách pháp nhân độc lập, hoặc các chủ thể kinh tế được cấu trúc theo mô hình công ty mẹ và công ty con, đồng thời tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế.

Chuyển giá là chính sách áp dụng giá không theo thị trường đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản giữa các thành viên trong tập đoàn xuyên quốc gia, nhằm giảm thiểu thuế cho các công ty đa quốc gia Hành vi này do các doanh nghiệp thực hiện để điều chỉnh giá trị trao đổi hàng hóa và dịch vụ trong mối quan hệ với các bên liên kết.

Chuyển giá, theo Ed Jonathan Law và John Smullen (2008), được hiểu đơn giản là hoạt động thiết lập giá cho việc chuyển giao hàng hóa và dịch vụ trong nội bộ giữa các công ty liên kết Mục đích chính của chuyển giá là thay đổi nghĩa vụ thuế của các nhóm công ty, chuyển từ khu vực có thuế cao sang khu vực có thuế thấp hơn, dựa trên sự khác biệt về chính sách thuế giữa các quốc gia và các ưu đãi thuế đặc biệt.

Dựa trên các khía cạnh trên, tác giả đồng tình với quan điểm về chuyển giá của

Theo TS Dương Văn An (2016), chuyển giá là hành vi chủ quan của các chủ thể kinh tế có quan hệ liên kết, như các thành viên trong tập đoàn, hoặc các chủ thể độc lập nhưng có cùng lợi ích Hành vi này diễn ra thông qua việc định giá không theo giá thị trường cho hàng hóa, dịch vụ và tài sản trong giao dịch, nhằm phân bổ lại thu nhập từ nơi chịu thuế cao sang nơi chịu thuế thấp, từ đó giảm thiểu nghĩa vụ thuế và tối đa hóa lợi nhuận sau thuế Ngoài ra, chuyển giá cũng có thể được thực hiện để tăng nguồn thu thuế cho “chính quốc” hoặc khi công ty mẹ muốn thu hồi vốn nhanh chóng.

1.1.2 Đặc điểm của chuyển giá 7 :

Với cách hiểu trên, chuyển giá có những đặc điểm sau:

Chuyển giá là hành vi thể hiện qua các giao dịch cụ thể, có thể hiểu là những hoạt động như mua, bán, trao đổi, thuê hay vay Những hành vi này đều có hình thức rõ ràng và đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giá trị tài sản và dịch vụ.

5 Ed Jonathan Law and John Smullen (2008), A Dictionary of Finance and Banking, Oxford University Press, tr.50

6 Dương Văn An (2016), Chuyển Giá Trong Doanh Nghiệp Có Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài (Fdi) -

Kinh Nghiệm Quốc Tế Và Bài Học Cho Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội

Việt Nam Học Viện Khoa Học Xã Hội, tr.36

7 Phan Thị Thành Dương (2010), tlđd (2), tr.28-34

Trong lĩnh vực thanh toán, có 8 thành quan hệ thanh toán với giá cả cụ thể Các đối tượng giao dịch có thể bao gồm tài sản vô hình, tài sản hữu hình hoặc dịch vụ cung ứng Sự khác biệt giữa các đối tượng giao dịch này sẽ dẫn đến những thay đổi trong quy trình chuyển giá.

Chuyển giá là hành vi chỉ diễn ra giữa các chủ thể kinh doanh, liên quan đến chiến lược kinh doanh và hình thành giá từ quan hệ kinh doanh Ít nhất một bên trong giao dịch phải là chủ thể kinh doanh, và chuyển giá cũng có thể xảy ra giữa một chủ thể kinh doanh và một chủ thể không kinh doanh có quan hệ liên kết, như người tiêu dùng cuối cùng Chuyển giá chỉ diễn ra trọn vẹn khi toàn bộ lợi ích được chuyển về cho chủ sở hữu thực sự của thực thể kinh doanh, dẫn đến thay đổi nghĩa vụ thuế và kết thúc vòng tuần hoàn của lợi ích bị kiểm soát bởi thuế và quản lý nhà nước Do đó, pháp luật về kiểm soát chuyển giá chỉ điều chỉnh giao dịch của các chủ thể kinh doanh.

Chuyển giá thường diễn ra giữa các bên có quan hệ liên kết, nhằm tăng lợi ích cho chủ sở hữu thông qua việc điều chỉnh giá trị giao dịch Nếu không có mối quan hệ này, các bên khó có thể chấp nhận giao dịch vì có thể dẫn đến sự bất lợi cho một trong hai bên Do đó, các giao dịch chuyển giá cần được thực hiện trong nội bộ của nhóm liên kết, đảm bảo rằng lợi ích vẫn nằm trong tầm kiểm soát của chủ sở hữu, chỉ chuyển từ “túi đựng tiền này” sang túi khác.

Túi đựng tiền khác không thiết lập quan hệ liên kết, dẫn đến việc chuyển giá không được áp dụng Mặc dù có thể xuất hiện dấu hiệu bất ổn trong giao dịch, nhưng những vấn đề này thuộc về các lĩnh vực pháp luật khác như phá giá, cạnh tranh, hoặc trốn thuế, chứ không phải là chuyển giá.

Chuyển giá không làm thay đổi tổng giá trị hình thành trong xã hội, mà chỉ chuyển dịch lợi ích giữa các chủ thể nội bộ Điều này tạo ra sự khác biệt trong phân phối lợi ích xã hội Do đó, việc điều chỉnh pháp luật về kiểm soát chuyển giá là cần thiết để khôi phục sự bình thường cho các giá trị chuyển giao, phù hợp với quan hệ thị trường.

8 Điều 9 Công ước mẫu của OECD về định giá chuyển giao ghi nhận “Hai doanh nghiệp được xem là liên kết (associated enterprises) khi:

- Một doanh nghiệp tham gia vào quản lý, điều hành hay góp vốn vào doanh nghiệp kia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc qua trung gian;

Các doanh nghiệp có thể có sự tham gia của một hoặc nhiều cá nhân hoặc thực thể khác trong việc quản lý, điều hành, hoặc góp vốn, dù là trực tiếp hay gián tiếp, hoặc thông qua các trung gian.

Vào thứ năm, chuyển giá diễn ra không đồng đều về mặt không gian, dẫn đến việc tập trung lợi ích tại các khu vực khác nhau Sự tích tụ giá trị phụ thuộc vào chính sách điều tiết của nhà nước và đặc điểm từng vùng lãnh thổ Do đó, chuyển giá thường chỉ diễn ra một chiều, với lợi ích được chuyển từ nơi có sự kiểm soát chặt chẽ sang nơi ít bị điều tiết hơn Vì vậy, pháp luật về kiểm soát chuyển giá cần được thiết lập tại những khu vực có dấu hiệu chuyển giá để điều chỉnh lợi ích một cách hợp lý trong tương quan kinh tế.

Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển giá trong

1.2.1 Định nghĩa Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được Tổ chức Thương mại Thế giới định nghĩa là việc một nhà đầu tư từ nước chủ đầu tư sở hữu tài sản tại nước thu hút đầu tư, kèm theo quyền quản lý tài sản đó Quản lý là yếu tố phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Thông thường, cả nhà đầu tư và tài sản mà họ quản lý đều là các cơ sở kinh doanh, trong đó nhà đầu tư thường được gọi là "công ty mẹ" và tài sản là "công ty con" hoặc "chi nhánh công ty".

Doanh nghiệp FDI, hay còn gọi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hiện chưa được định nghĩa rõ ràng trong các văn bản pháp luật của Việt Nam Sự thiếu sót này có thể gây khó khăn trong việc nhận diện và quản lý loại hình doanh nghiệp này trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu.

Luật Đầu tư 2005 đã phân loại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành hai loại: doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập và doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập hoặc mua lại Tuy nhiên, Luật Đầu tư 2014 (số 67/2014/QH13) ban hành ngày 26/11/2014 không nêu rõ loại hình doanh nghiệp này mà chỉ đưa ra định nghĩa tổng quát tại Khoản 17 Điều.

Luật Đầu tư 2014 định nghĩa tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức có thành viên hoặc cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài Điều này cho thấy sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trong các tổ chức kinh tế tại Việt Nam.

Doanh nghiệp FDI, hay doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, được định nghĩa là các doanh nghiệp có sự tham gia của vốn đầu tư từ nước ngoài, không quan trọng tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài là bao nhiêu.

1.2.2 Một số hình thức biểu hiện của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 9 :

Hiện nay, có nhiều loại hình doanh nghiệp FDI Có thể kể đến một số loại hình sau:

Doanh nghiệp liên doanh là hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế, trong đó hai hoặc nhiều chủ thể nước ngoài hợp tác với một nước chủ nhà Các bên tham gia góp vốn, cùng kinh doanh, chia sẻ lợi nhuận và rủi ro theo tỷ lệ góp vốn Doanh nghiệp liên doanh thường được thành lập dưới dạng công ty TNHH và có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật nước nhận đầu tư.

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp hoàn toàn thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, được thành lập tại quốc gia tiếp nhận đầu tư Các doanh nghiệp này tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh, đồng thời phải tuân thủ luật pháp của quốc gia đó Hình thức đầu tư này thường được các nhà đầu tư lựa chọn vì họ có quyền quản lý toàn bộ và được hưởng lợi nhuận từ kết quả đầu tư.

1.2.3 Chuyển giá trong doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: 1.2.3.1 Đặc trưng của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giá:

Doanh nghiệp FDI thường ít bị ràng buộc bởi chính trị, tạo điều kiện thuận lợi để khai thác hiệu quả nguồn lực trong nước Kết quả kinh doanh của dự án được chia cho các bên theo tỷ lệ góp vốn sau khi nộp thuế cho nước sở tại và trả lợi tức cổ phần Tuy nhiên, các nhà đầu tư nước ngoài có xu hướng chuyển giá hoặc định giá cao thiết bị máy móc, dẫn đến thiệt hại kinh tế cho nước nhận đầu tư và làm giảm lợi nhuận mà họ đáng lẽ được hưởng một cách công bằng.

FDI kết hợp quyền sở hữu với quyền chi phối và quản trị vốn, đặc biệt rõ ràng ở doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, nơi nhà đầu tư hoàn toàn quản lý doanh nghiệp.

1.2.3.2 Mối liên hệ giữa chuyển giá và đặc điểm của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài:

Việc xác định hiện tượng chuyển giá của doanh nghiệp FDI là rất quan trọng, đặc biệt trong các giao dịch giữa doanh nghiệp và các chủ sở hữu Điều này giúp đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong hoạt động kinh doanh, đồng thời góp phần vào việc quản lý thuế hiệu quả hơn.

9 Xem chi tiết các hình thức đầu tư tại Mục 1 Chương IV Luật Đầu tư 2014 số 67/2014/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2014

Có 11 thể loại doanh nghiệp đã thiết lập mối quan hệ liên kết, thường theo mô hình tập đoàn kinh tế hoặc cấu trúc mẹ-con, và tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế nhằm đạt được những lợi ích cụ thể Trong số đó, công ty đa quốc gia (MNC) là một trong những thành phần doanh nghiệp FDI nổi bật, thường có hành vi chuyển giá.

Công ty đa quốc gia (MNC hoặc MNE) là những doanh nghiệp thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài, với một công ty mẹ mang quốc tịch nhất định và các công ty con hoạt động tại nhiều quốc gia thông qua các dự án FDI Đặc điểm nổi bật của các công ty này là công ty mẹ có quyền quản lý hoặc kiểm soát đáng kể đối với các công ty con của mình.

Công ty đa quốc gia (MNC) có quy mô lớn, doanh thu cao và hoạt động trên phạm vi toàn cầu, với sự tham gia của nhiều chủ sở hữu từ các quốc gia khác nhau Sở hữu của MNC mang tính chất đa chủ và đa quốc tịch, thể hiện qua việc phân bố tài sản rộng rãi Mục tiêu chính của sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong MNC là nhằm giải quyết các khó khăn về vốn trong kinh doanh.

Các công ty đa quốc gia là các công ty đa ngành Cùng với sự phát triển của

MNCs, hay các tập đoàn đa quốc gia, thường hoạt động trong nhiều ngành nghề và lĩnh vực khác nhau, bao gồm tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và nghiên cứu ứng dụng trong khoa học và công nghệ.

Tác động của chuyển giá trong doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam- quốc gia tiếp nhận đầu tư và yêu cầu kiểm soát chuyển giá bằng pháp luật

1.3.1 Tác động của hành vi chuyển giá đối với nước tiếp nhận đầu tư

Khi nước tiếp nhận vốn đầu tư có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn nước sở hữu doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp FDI có khả năng chuyển giá để chuyển lợi nhuận về nước nhận đầu tư nhằm giảm thiểu thuế Điều này không chỉ mang lại nguồn thu cho nước tiếp nhận mà còn giúp phát triển kinh tế thông qua việc tăng cường vốn đầu tư, kim ngạch xuất khẩu, tạo việc làm, tiếp thu khoa học – công nghệ và phát triển công nghiệp phụ trợ Tại Việt Nam, nguồn vốn FDI đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, với mức đóng góp của khu vực FDI trong GDP của cả nước đã tăng từ 9,3% trong những năm qua.

1995 lên 16,9% năm 2008 và 19,6% năm 2017; tỷ trọng thu Ngân sách Nhà nước (NSNN) từ khu vực FDI cũng gia tăng đáng kể, từ 1,8 tỷ USD trong giai đoạn 1994-

2000 lên 23,7 tỷ USD trong giai đoạn 2011-2015, chiếm gần 14% tổng thu NSNN Riêng năm 2017, khu vực FDI đã đóng góp vào NSNN hơn 8 tỷ USD, chiếm 17,1% tổng thu NSNN 18

18 Xem thêm ThS Phạm Thiên Hoàng, Tầm quan trọng của khu vực FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội

Khu vực FDI đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư Sự gia tăng FDI không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn tạo ra nhiều việc làm và cải thiện cơ sở hạ tầng Đồng thời, FDI cũng giúp chuyển giao công nghệ và nâng cao trình độ quản lý, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ Việc phát triển khu vực FDI cần được chú trọng để tối ưu hóa lợi ích cho nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập toàn cầu.

Lạm dụng chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI đã gây ra nhiều tác động tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước.

Thứ nhất, chuyển giá tác động làm giảm nghĩa vụ thuế, gây thất thu NSNN

Chuyển giá cho phép doanh nghiệp liên kết chuyển giá trị lợi nhuận từ doanh nghiệp chịu thuế suất cao sang doanh nghiệp hưởng thuế suất thấp Các bên liên kết có thể tự định giá giao dịch đầu vào và đầu ra, từ đó điều chỉnh giá giao dịch đầu vào để tăng chi phí và giảm giá bán đầu ra nhằm giảm thu nhập và doanh thu chịu thuế.

Việc giảm nghĩa vụ thuế có thể xảy ra khi giá giao dịch giữa các bên liên kết được định ở mức thấp, ảnh hưởng đến thuế gián thu như thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng Giá giao dịch này trở thành cơ sở tính thuế, dẫn đến việc giảm số thuế gián thu phải nộp Mặc dù thuế gián thu cuối cùng được gánh chịu bởi người tiêu dùng, nhưng giao dịch chuyển giá cũng mang lại lợi ích cho các bên liên kết trong một số khía cạnh liên quan đến thuế gián thu.

Chuyển giá đã dẫn đến thất thu ngân sách nhà nước từ thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và chuyển lợi nhuận ra nước ngoài Việt Nam đã cung cấp nhiều ưu đãi thuế TNDN cho doanh nghiệp FDI, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, bao gồm ưu đãi về tiếp cận đất đai và cho phép chuyển lỗ từ năm trước sang năm sau Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp FDI sau khi tận dụng các ưu đãi này đã hoàn vốn đầu tư và có lợi nhuận, dẫn đến việc họ hoặc giải thể, hoặc chuyển hướng kinh doanh, hoặc tiếp tục thua lỗ, do đó không phải nộp thuế TNDN từ những khoản đầu tư lớn Bên cạnh đó, việc thu thuế giá trị gia tăng từ hoạt động của các doanh nghiệp FDI cũng gặp khó khăn do giá các yếu tố đầu vào cao, trong khi giá bán ra (đặc biệt là trong trường hợp xuất khẩu) không tương xứng với mức giá đầu vào.

Thứ hai, chuyển giá làm thay đổi các cấu trúc giao dịch thương mại

Chuyển giá gây ra tình trạng các giao dịch không phản ánh giá trị thực tế, mà chủ yếu phụ thuộc vào quyết định và chiến lược chuyển giá của các bên liên kết Điều này dẫn đến việc cung cầu thị trường không chính xác, ảnh hưởng đến khả năng phân tích và dự báo thị trường Hệ quả là bên chuyển giá có thể thao túng thị trường thông qua các mức giá ảo được tạo ra từ hoạt động chuyển giá.

Thứ ba, chuyển giá ảnh hưởng đến việc định giá vốn, giá đầu vào và tái phân phối thu nhập

Chuyển giá có thể được sử dụng để định giá vốn cao bằng cách nâng khống giá tài sản, trang thiết bị và vật tư Việc này dẫn đến thay đổi nghĩa vụ thuế, làm giảm thu nhập sau thuế Tuy nhiên, nhà đầu tư vẫn có lợi ích từ việc nâng giá đầu vào, đồng thời giảm rủi ro cho nguồn vốn đầu tư.

Giá trị của máy móc thiết bị mới và hiện đại dễ kiểm soát hơn so với máy móc cũ và lạc hậu, điều này khiến nhà đầu tư FDI thường ưu tiên nhập khẩu máy móc cũ để thực hiện chuyển giá dễ dàng hơn Hệ quả của việc chuyển giá này làm cho hai mục tiêu quan trọng nhất trong thu hút FDI, bao gồm vốn và công nghệ hiện đại, trở nên khó đạt được.

Chuyển giá là một công cụ quan trọng giúp các doanh nghiệp FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài) dễ dàng thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường, từ đó gia tăng thị phần và thôn tính các đối tác với chi phí tối ưu nhất.

Chuyển giá là một chiến lược mà doanh nghiệp FDI sử dụng để chiếm lĩnh thị trường và tăng trưởng thị phần thông qua việc điều khiển giá giao dịch nội bộ, từ đó gây khó khăn cho các đối thủ cạnh tranh Hệ quả là nhiều doanh nghiệp trong nước phải rút lui do không thể cạnh tranh nổi, trong khi các doanh nghiệp liên doanh thường xuyên thua lỗ và bị “bào mòn” vốn góp, dẫn đến việc nhượng lại phần vốn cho đối tác FDI Thêm vào đó, sự hấp dẫn từ lợi nhuận chuyển giá khiến doanh nghiệp FDI ít chú trọng đến việc sử dụng nguồn lực trong nước, thay vào đó, họ ưu tiên nhập khẩu Kết quả là sự phát triển của doanh nghiệp FDI không chỉ không thúc đẩy doanh nghiệp trong nước mà còn chèn ép họ, nhờ vào các lợi thế về vốn, thị trường, ưu đãi thuế và tiếp cận đất đai.

Vào thứ năm, lợi nhuận của các nhà đầu tư FDI chủ yếu đến từ việc chuyển giá, điều này dẫn đến việc các nhà quản lý doanh nghiệp FDI thiếu động lực để cải thiện hiệu quả quản lý, giảm chi phí và nâng cao năng suất lao động.

Mục tiêu thu hút FDI nhằm nâng cao trình độ quản lý doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, khi vai trò tạo việc làm với thu nhập cao cho người lao động bị ảnh hưởng Doanh nghiệp FDI thường xuyên báo cáo thua lỗ hoặc lợi nhuận không đáng kể, dẫn đến việc hạn chế tuyển dụng và tăng lương cho nhân viên Dù thực tế vẫn đạt lợi nhuận lớn, nhiều doanh nghiệp này lại sử dụng chuyển giá để báo cáo lỗ.

1.3.2 Yêu cầu điều chỉnh và kiểm soát hành vi chuyển giá bằng pháp luật Đối với các doanh nghiệp FDI từ trước đến nay, mục đích mà các doanh nghiệp sử dụng các hình thức chuyển giá như đã nêu là tối đa hóa lợi nhuận và làm giảm rủi

Chuyển giá trong hoạt động sản xuất kinh doanh được nhìn nhận đa chiều, đặc biệt trong các doanh nghiệp FDI Ông Wayne Barford, Cố vấn cấp cao của Trung tâm Thuế và đầu tư quốc tế, cho rằng chuyển giá không phải là hoạt động bất hợp pháp mà là một phần tự nhiên của chiến lược kinh doanh.

Khái Quát Chung Về Pháp Luật Kiểm Soát Chuyển Giá

1.4.1 Quá trình hình thành và phát triển về pháp luật về kiểm soát chuyển giá thế giới

Vào đầu thế kỷ 20, quy định IRC-Internal Revenue Code của Hoa Kỳ đã đề cập đến một hiện tượng giúp giảm nghĩa vụ thuế, tạo nền tảng cho hiện tượng chuyển giá hiện nay.

Vào những năm 60 của thế kỷ 20, Hoa Kỳ chính thức ban hành các quy định về chuyển giá, được hình thành ổn định thông qua các án lệ Sự ra đời sớm của các quy định này là do Hoa Kỳ có số lượng lớn các tập đoàn đa quốc gia (MNCs) nhất thế giới Với thuế suất thu nhập cao hơn so với các nước đang phát triển, các tập đoàn này đã tìm kiếm các thị trường mới bên ngoài để tránh nghĩa vụ thuế đối với chính phủ Hoa Kỳ.

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) được thành lập theo Công ước Paris vào ngày 14 tháng 12 năm 1960 và chính thức có hiệu lực từ ngày 30 tháng 12 năm 1961 Vào năm 1979, các thành viên của OECD đã cùng nhau thảo luận về vấn đề chuyển giá trong báo cáo mang tên “Chuyển giá và Công ty đa quốc gia.” Ấn phẩm này đã đưa ra hướng dẫn về chuyển giá cho các công ty đa quốc gia.

Hướng dẫn “Doanh nghiệp và Quản lý thuế” của OECD, ra mắt vào năm 1984 và được cập nhật vào các năm 1995, 2010 và 2017, đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các tập đoàn đa quốc gia (MNC) quản lý nghĩa vụ thuế theo tiêu chuẩn chung Các quốc gia thành viên sẽ áp dụng những quy định hướng dẫn này vào hệ thống pháp luật quốc gia, phù hợp với bối cảnh địa phương Xu hướng kiểm soát chuyển giá đang gia tăng ở nhiều quốc gia thành viên OECD cũng như từ chính OECD cho thấy sự chú trọng ngày càng lớn đối với vấn đề này.

- Mở rộng các loại giao dịch được xem xét chuyển giá: đầy đủ và chi tiết hơn với nhiều dạng thức

- Hình thành đa dạng phương pháp để xác định giá thị trường: cho phép lựa chọn phương pháp tối ưu để xác định lại giá giao dịch

21 Phan Thị Thành Dương (2010), tlđd (2), tr.25

22 Những hướng dẫn chi tiết về chuyển giá được đăng tải trên website của OECD: https://www.oecd.org/tax/transfer-pricing

Phát triển các yếu tố ảnh hưởng đến giá giao dịch bao gồm chức năng, điều khoản hợp đồng, rủi ro, điều kiện kinh tế và các loại hình giao dịch tài sản hoặc dịch vụ Những yếu tố này giúp xác định giá thị trường một cách chính xác và hợp lý nhất.

- Hình thành ý niệm về biên độ giá thị trường (arm’s length range), cho phép đối tượng nộp thuế được điều chỉnh trong phạm vi biên độ giá thị trường

- Hình thành khuynh hướng phạt tiền đối với số tiền thuế bị điều chỉnh từ chuyển giá

Thỏa thuận trước giá giao dịch (Advance Pricing Agreements) giúp người nộp thuế lập kế hoạch kinh doanh dài hạn bằng cách xác định trước giá giao dịch, từ đó tạo ra sự rõ ràng về ngưỡng cho các giao dịch phù hợp.

- Hình thành cơ chế thiết lập bộ hồ sơ chứng minh giao dịch liên kết phù hợp với giá thị trường

Trước đây, quy định về kiểm soát chuyển giá thường chỉ được thể hiện qua văn bản chuyên biệt hoặc trong Đạo luật thuế, với các văn bản hướng dẫn thi hành Tuy nhiên, sau khi OECD ban hành hướng dẫn, pháp luật về chuyển giá ngày càng trở nên quan trọng trong việc điều tiết các quan hệ liên kết Các quy định chuyển giá của các quốc gia thành viên và một số quốc gia không phải thành viên được cập nhật thường xuyên trên website của OECD, góp phần nâng cao chất lượng quản trị thuế và hoàn thiện quy trình này.

1.4.2 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật kiểm soát chuyển giá tại Việt Nam 1.4.2.1 Định nghĩa, đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh

Khái niệm pháp luật kiểm soát chuyển giá bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh giá giao dịch giữa các bên liên kết, nhằm kiểm soát và duy trì trật tự xã hội bình đẳng trong phân phối lợi ích Điều này đảm bảo rằng giá giao dịch phù hợp với giá thị trường và bảo vệ quyền thu thuế của Nhà nước.

Pháp luật kiểm soát hoạt động chuyển giá tập trung vào các giao dịch giữa các bên liên kết, nhằm khôi phục giá khai báo trong những giao dịch này Các quy định về chuyển giá cần đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong việc xác định giá giao dịch, từ đó tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của thị trường.

Phương pháp xác định giá và thẩm quyền của cơ quan quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý giá giao dịch nội bộ Nội dung quản lý này cần được rõ ràng để xử lý hiệu quả các trường hợp chuyển giá có thể gây thiệt hại và hậu quả tiêu cực.

Phương pháp điều chỉnh phải mang tính mệnh lệnh và hành chính, do mối quan hệ không cân xứng về địa vị pháp lý, nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà nước và xã hội Trong trường hợp các bên có thỏa thuận trước về giá giao dịch, thỏa thuận này cần được xem xét bởi cơ quan nhà nước, không chỉ dựa trên sự bình đẳng giữa các bên.

1.4.2.2 Chủ thể tham gia hoạt động kiểm soát chuyển giá

Pháp luật về kiểm soát chuyển giá không nhằm tạo ra hành lang pháp lý cho các giao dịch giữa các bên liên quan, mà mục tiêu chính là thiết lập quan hệ pháp luật để điều chỉnh giá giao dịch giữa các bên có quan hệ liên kết Điều này yêu cầu các chủ thể phải có quyền thiết lập lại giá giao dịch nhằm phục hồi sự bình thường cho thị trường, từ đó góp phần vào sự lành mạnh hóa nền kinh tế Trong quan hệ pháp luật này, chủ thể kiểm soát đại diện cho nhà nước, có quyền lực và khả năng cưỡng chế để duy trì trật tự xã hội theo định hướng của nhà nước, tạo thành mối quan hệ giữa Nhà nước và các chủ thể chuyển giá.

Chủ thể chuyển giá là những cá nhân hoặc tổ chức trực tiếp tham gia vào hoạt động chuyển giá, ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước, đặc biệt là khoản thu từ thuế và các lợi ích liên quan khác Những chủ thể này có vai trò quan trọng trong việc xác định hành vi chuyển giá và đặc điểm của họ cần được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật.

Chủ thể tham gia quan hệ chuyển giá là đối tượng nộp thuế trực thu theo quy định của pháp luật thuế tại quốc gia sở tại, vì loại thuế này ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của họ Trong giao dịch qua biên giới, đối tượng chuyển giá là người nộp thuế của nước sở tại, không phân biệt quốc tịch hay nơi cư trú Đối với giao dịch nội địa, cả hai bên tham gia đều có thể là đối tượng nộp thuế tại nước sở tại Những chủ thể này sẽ là bên giao dịch trực tiếp, chịu trách nhiệm về hậu quả pháp lý liên quan đến chuyển giá.

Chủ thể chuyển giá cần phải là những doanh nghiệp, vì sự chuyển dịch giữa các cá nhân không kinh doanh không tạo ra bất lợi về giá Các giao dịch giữa những chủ thể này thường chỉ mang tính tiêu dùng và không liên quan đến định giá trong kinh doanh Do đó, những giao dịch này không gây ảnh hưởng đến giá cả trong thị trường.

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP FDI TẠI VIỆT NAM VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:24

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w