1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghị định thư kyoto và vấn đề thực hiện nghị định thư sau năm 2012

66 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 671,08 KB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: NGHỊ ĐỊNH THƯ KYOTO-NỖ LỰC TOÀN CẦU CHỐNG LẠI HIỆN TƯỢNG KHÍ HẬU BIẾN ĐỔI (0)
    • 1.1/ Cơ sở hình thành Nghị định thư KYOTO (7)
      • 1.1.1/ Cơ sở khoa học (0)
        • 1.1.1.1/ Hiện tượng khí hậu biến đổi (7)
        • 1.1.1.2/ Tính thống nhất của môi trường (16)
      • 1.1.2/ Cơ sở lý luận (18)
    • 1.2/ Quá trình phát triển Nghị định thư KYOTO (23)
    • 1.3/ Mục đích và ý nghĩa của Nghị định thư KYOTO (28)
      • 1.3.1/ Mục đích (28)
      • 1.3.2/ Ý nghĩa (28)
    • 1.4/ Tóm lại (29)
  • CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA NGHỊ ĐỊNH THƯ (0)
    • 2.1/ Những vấn đề pháp lý cơ bản của Nghị định thư Kyoto (30)
      • 2.1.1/ Xác định các loại khí nhà kính cần cắt giảm (30)
      • 2.1.2/ Xác định thời gian cắt giảm khí nhà kính và chỉ tiêu phát thải khí nhà kính cho các nước công nghiệp (33)
        • 2.1.2.1/ Chủ thể của Nghị định thư Kyoto (33)
        • 2.1.2.2/ Trách nhiệm của các quốc gia thành viên (34)
      • 2.1.3/ Xác định hướng tác động để chống lại xu hướng trái đất ấm dần lên (38)
        • 2.1.3.1/ Cắt giảm thực tế (39)
        • 2.1.3.2/ Tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính của trái đất (45)
        • 2.1.3.3/ Thực hiện các cơ chế hỗ trợ triển khai Nghị định thư Kyoto (46)
      • 2.1.4/ Những điểm hạn chế của Nghị định thư KYOTO (53)
        • 2.1.4.1/ Hạn chế trong cách thức sử dụng các thuật ngữ khoa học (53)
        • 2.1.4.2/ Hạn chế trong vấn đề xác định mức khí thải cần cắt giảm (55)
        • 2.1.4.3/ Nghị định thư Kyoto chưa đề cập đến trách nhiệm của các nước đang phát triển đối với các thời kỳ cam kết tiếp theo (55)
        • 2.1.4.4/ Các quy định về vấn đề kiểm tra thực hiện Nghị định thư Kyoto chưa chặt chẽ (56)
    • 2.2/ Vấn đề thực hiện Nghị định thư Kyoto sau năm 2012 (57)
      • 2.2.1/ Tiến trình thương lượng thỏa thuận quốc tế thay thế Nghị định thư Kyoto (57)
      • 2.2.2/ Sự bất đồng quan điểm trong tiến trình đàm phán về tương lai của bản hiệp ước mới (59)

Nội dung

NGHỊ ĐỊNH THƯ KYOTO-NỖ LỰC TOÀN CẦU CHỐNG LẠI HIỆN TƯỢNG KHÍ HẬU BIẾN ĐỔI

Cơ sở hình thành Nghị định thư KYOTO

1.1.1.1/Hiện tượng khí hậu biến đổi

Trong vài thập kỷ qua, nhân loại đã đối mặt với những biến động khí hậu toàn cầu ngày càng nghiêm trọng, dẫn đến những tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái và đời sống con người Biến đổi khí hậu là hiện tượng tự nhiên, có nhiều nguyên nhân như chu kỳ mặt trời, phun trào núi lửa và gia tăng khí nhà kính Trong 1,6 triệu năm qua, trái đất đã trải qua 5-6 lần thay đổi khí hậu lớn, mỗi chu kỳ kéo dài hàng vạn đến hàng chục vạn năm, cho phép các sinh vật thích nghi dần dần Tuy nhiên, sự biến đổi khí hậu gần đây diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ, theo báo cáo của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), đã chỉ ra rằng trong 100 năm qua, tình hình đã có những thay đổi đáng kể.

Từ năm 1906 đến 2005, nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất đã tăng 0,74°C Đặc biệt, 11 năm gần đây (từ 1995 đến 2006) ghi nhận là những năm nóng nhất trong lịch sử quan trắc nhiệt độ.

IPCC, viết tắt của Intergovernmental Panel on Climate Change, là Ủy ban liên chính phủ về sự biến đổi khí hậu, được thành lập vào năm 1988 bởi Tổ chức khí hậu thế giới.

Meteorological Organization) và Chương trình môi trường của Liên Hiệp Quốc (United Nations Environment Programme).

Vào năm 1850, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng khí hậu Trái đất chưa bao giờ trải qua những biến đổi mạnh mẽ như hiện nay Nguyên nhân chính của sự thay đổi này là do con người xả thải quá nhiều khí CO2 và các khí khác vào khí quyển, dẫn đến hiệu ứng nhà kính vượt mức cho phép Để đánh giá chính xác tác động của hiệu ứng nhà kính đối với môi trường khí hậu, việc hiểu rõ bản chất của hiện tượng này là vô cùng cần thiết.

Thuật ngữ "hiệu ứng nhà kính" được Jean Baptiste Joseph Fourier đặt tên từ tiếng Pháp "Effect de serry" Ban đầu, nó được sử dụng trong nông nghiệp và kiến trúc để chỉ hiện tượng ánh sáng mặt trời xuyên qua kính, tạo ra nhiệt lượng sưởi ấm không gian bên trong Hiệu ứng này giúp tiết kiệm năng lượng mặt trời và chất đốt Ngày nay, khái niệm này mở rộng hơn, mô tả hiện tượng nghẽn nhiệt trong bầu khí quyển của trái đất do ánh sáng mặt trời chiếu sáng.

Bầu khí quyển là lớp khí bao quanh trái đất, chủ yếu gồm nitơ, oxy, hơi nước, cacbon dioxit, ôzôn và mêtan, được giữ lại bởi lực hấp dẫn Nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất, khoảng 16°C, được hình thành từ sự cân bằng giữa năng lượng mặt trời và năng lượng bức xạ mà trái đất phát ra Năng lượng mặt trời chủ yếu là sóng ngắn dễ xuyên qua khí quyển, trong khi bức xạ trở lại vũ trụ là sóng dài có năng lượng thấp, dễ bị khí quyển giữ lại nhờ các khí nhà kính như CO2, hơi nước, mêtan và CFC Sự mất cân bằng trong trao đổi năng lượng giữa trái đất và không gian xung quanh dẫn đến hiện tượng gia tăng nhiệt độ bề mặt, tạo ra hiệu ứng nhà kính khí quyển.

Hiệu ứng nhà kính là một hiện tượng tự nhiên quan trọng, xảy ra do các tác nhân gây hiệu ứng nhà kính có sẵn trong khí quyển Hiện tượng này đã tồn tại từ lâu và đóng vai trò thiết yếu trong việc duy trì nhiệt độ Trái Đất, giúp hỗ trợ sự sống.

2 Nguyễn Trường Giang (2008), “Những phát triển của luật pháp quốc tế trong thế kỷ XXI”, Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, tr 204.

Nhiệt độ trung bình của trái đất khoảng âm 18°C, nhưng nhờ năng lượng từ bức xạ bị khí nhà kính hấp thụ, nhiệt độ tăng thêm khoảng 30°C Điều này tạo ra môi trường sống lý tưởng cho các loài sinh vật.

Trong thời kỳ tiền công nghiệp, khí nhà kính trong khí quyển đạt sự cân bằng toàn cầu, chủ yếu do con người và động thực vật thải ra, trong khi hệ sinh thái rừng và đại dương hấp thụ chúng Tuy nhiên, từ khi cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu, việc khai thác nhiên liệu hóa thạch gia tăng đã dẫn đến sự gia tăng lượng khí nhà kính Nghiên cứu chỉ ra rằng hiện nay, nồng độ CO2 trong khí quyển cao nhất trong 600.000 năm qua, với sự phát thải khí CO2 từ con người tăng gấp 3 lần từ năm 1960 đến 2002 Nạn khai thác rừng và các hoạt động tiêu cực khác đã làm giảm khả năng hấp thụ CO2 của rừng và đại dương, dẫn đến việc trái đất mất khả năng tự điều chỉnh trước các tác nhân gây hiệu ứng nhà kính Nhiệt độ trái đất đã tăng 0,5°C từ năm 1885 đến 1940 do sự thay đổi nồng độ CO2, và nếu không có biện pháp khắc phục, nhiệt độ có thể tăng từ 1,4 đến 5,8°C trong tương lai.

Vậy, hiện nay, hiệu ứng nhà kính không đơn thuần là một hiện tượng tự nhiên mà nó còn có sự “hậu thuẫn” từ phía con người

Hậu quả của sự biến đổi khí hậu:

Hậu quả rõ rệt nhất của hiện tượng ấm lên toàn cầu là sự suy giảm đáng kể lượng băng tuyết trên Trái Đất Chẳng hạn, vào tháng 02 năm 2002, băng thềm Larsen ở phía trước bán đảo đã cho thấy sự biến đổi này.

3 Kiều Minh (2007), “Đối mặt với thảm họa băng tan”, Tạp chí Việt Báo: http://vietbao.vn/Khoa-hoc/Doi-mat-voi-tham-hoa-bang-tan/20702696/193/

4 Kiều Minh (2007), “Đối mặt với thảm họa băng tan”, Tạp chí Việt Báo: http://vietbao.vn/Khoa-hoc/Doi-mat-voi-tham-hoa-bang-tan/20702696/193/

7 thuộc châu Nam Cực bị rã ra từng mảnh nhỏ 5 Đến năm 2003, băng vĩnh cửu ở sườn núi Matterhorn (thuộc dãy núi Alps, châu Âu) bị sụp hoàn toàn 6

Sự tồn tại và biến mất của băng tuyết có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sống trên trái đất:

Băng tuyết đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa nhiệt độ Trái Đất bằng cách phản chiếu bức xạ nhiệt từ mặt trời Khi băng tan, lượng nhiệt giữ lại trên Trái Đất gia tăng, dẫn đến hiện tượng nóng lên toàn cầu.

Băng tan do nhiệt độ bề mặt trái đất tăng cao dẫn đến mực nước biển dâng lên, theo báo cáo của IPCC năm 2001, có thể đạt từ 9 đến 88 cm trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến 2100 Hệ quả của hiện tượng này là các vùng đất thấp và ven biển sẽ bị nhấn chìm, khiến hàng trăm triệu người mất nơi cư trú, đồng thời gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng khác như thiếu hụt lương thực và suy giảm sức khỏe con người.

Băng tuyết là nguồn dự trữ nước ngọt lớn nhất của Trái Đất, với 90% lượng nước ngọt tự nhiên nằm ở Nam Cực Sự tan chảy của băng không chỉ làm giảm đáng kể trữ lượng nước ngọt hiện có mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sống của các loài sinh vật, đặc biệt là con người Nhiều thành phố vùng núi phụ thuộc vào nguồn nước này cho sinh hoạt và nông nghiệp Nếu các núi băng tiếp tục tan chảy, hàng triệu người sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu nước nghiêm trọng.

Sự tan chảy của băng tuyết đang đe dọa môi trường sống của nhiều loài sinh vật phụ thuộc vào băng, như gấu Bắc Cực, hải cẩu và chim cánh cụt Việc này không chỉ ảnh hưởng đến sự tồn tại của các loài này mà còn làm suy giảm đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái Bắc Cực.

5 S Rahmstorf và Hans J Schellnhuber (2008), “Khí Hậu Biến Đổi-Thảm kịch vô tiền khoáng hậu trong lịch sử nhân loại”, Nhà xuất bản Trẻ, TP HCM, tr 103, 104.

6 Xem chú thích 5 ở trên, tr 100.

7 Xem chú thích 5 ở trên, tr 109.

8 Minh Anh (2007), “Phát hiện những hồ nước khổng lồ ở Nam Cực”, Tạp chí Giao

Thông Vận Tải: http://www.giaothongvantai.com.vn/Desktop.aspx/News/khoa-hoc-doi- song/Phat_hien_nhung_ho_nuoc_khong_lo_o_Nam_cuc/

Sự tan chảy của 8 nước từ các sông băng đã hòa lẫn với nước biển, gây ra sự thay đổi trong các dòng hải lưu Hiện tượng này ảnh hưởng lớn đến đời sống của nhiều loài sinh vật biển, bao gồm san hô và tảo biển.

Quá trình phát triển Nghị định thư KYOTO

Nghị định thư Kyoto xác định rõ các điều kiện để có hiệu lực, được phân thành hai nhóm chính: một là số lượng quốc gia cần phê chuẩn Nghị định thư, và hai là lượng khí nhà kính phát thải vào khí quyển.

Nghị định thư sẽ chính thức có hiệu lực khi ít nhất 55 bên của Công ước khung Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu phê chuẩn, đây là điều kiện cần thiết để đảm bảo tính khả thi của văn bản này.

Điều kiện 2 liên quan đến lượng khí nhà kính phát thải vào khí quyển yêu cầu các nước công nghiệp thuộc phụ lục I của Công ước khung về biến đổi khí hậu phải phê chuẩn Nghị định thư Kyoto, với tổng lượng phát thải khí nhà kính đạt ít nhất 55% so với mức năm 1990 Đây là điều kiện đủ để Nghị định thư chính thức có hiệu lực Cả hai điều kiện này cần thiết để đảm bảo Nghị định thư được áp dụng một cách khả thi và hiệu quả, yêu cầu có ít nhất 55 bên tham gia Công ước.

Nghị định thư đã thu hút sự tham gia của 21 quốc gia, chứng tỏ tầm ảnh hưởng của nó trên trường quốc tế Tuy nhiên, chỉ dựa vào số lượng quốc gia tham gia ký kết không đủ để đảm bảo hiệu quả trong việc hạn chế sự nóng lên toàn cầu Biến đổi khí hậu chủ yếu do con người gây ra thông qua việc gia tăng hiệu ứng nhà kính, do đó, việc kiểm soát phát thải khí nhà kính là cần thiết Hội nghị đã thống nhất lựa chọn mức giảm 55% tổng lượng phát thải khí nhà kính của các nước trong phụ lục I/ Công ước khung, dựa trên số liệu năm 1990, làm ngưỡng để thực hiện Nghị định thư một cách hiệu quả.

Nghị định thư Kyoto, ra đời vào tháng 12/1997, chính thức có hiệu lực từ ngày 16/02/2005, đã trở thành chủ đề chính trong các cuộc tranh luận quốc tế suốt gần một thập kỷ.

Vào tháng 3/2001, Tổng thống Mỹ George Bush đã tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ rút khỏi Nghị định thư Kyoto, gây ra sự chỉ trích mạnh mẽ từ nhiều quốc gia như Australia, Anh, Đức và Thụy Điển Mặc dù Mỹ là một trong những quốc gia khởi xướng Nghị định thư này, nhưng sau khi nhận nhiệm vụ giảm 7% lượng khí nhà kính, Mỹ đã quyết định không tiếp tục tham gia Chính quyền Mỹ cho rằng Nghị định thư Kyoto không công bằng khi đặt trách nhiệm nặng nề lên vai nước này, với 25% tổng lượng khí carbonic toàn cầu xuất phát từ các hoạt động công nghiệp của Mỹ.

Nghị định thư chỉ yêu cầu các nước công nghiệp giảm thải khí nhà kính mà không áp đặt trách nhiệm tương tự cho các nước đang phát triển, những nước này còn nhận được hỗ trợ tài chính để giảm ô nhiễm và ứng phó với biến đổi khí hậu Đồng thời, Mỹ đã nêu ra câu hỏi về lý do tại sao các quốc gia này vẫn tiếp tục xả thải nhiều.

26 Đoan Trang (2001), “Thế giới phản đối việc Mỹ rút khỏi Kyoto1997”, Tạp chí Việt Báo:http://vietbao.vn/Khoa-hoc/The-gioi-phan-doi-viec-My-rut-khoi-Kyoto-

22 khí nhà kính vào khí quyển như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazin lại không chịu chung trách nhiệm giảm thải khí nhà kính

Hoa Kỳ đã chỉ trích Nghị định thư Kyoto vì cho rằng nó xác định nước này là quốc gia gây ô nhiễm lớn nhất mà không có bằng chứng khoa học rõ ràng Tổng thống George Bush bày tỏ lo ngại rằng nền kinh tế Mỹ phụ thuộc vào nguyên liệu hóa thạch, vốn thải ra nhiều khí cacbonic, và việc tán thành Nghị định thư này sẽ buộc Mỹ phải giảm sử dụng các nguồn nguyên liệu này, từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế.

Mỹ, với vai trò là quốc gia dẫn đầu trong việc thải khí nhà kính, đã rút khỏi Nghị định thư Kyoto, khiến cho hiệu lực của Nghị định thư này gặp nguy cơ Tính đến năm 2001, Nga đứng thứ hai với 17% lượng khí thải toàn cầu nhưng vẫn chưa phê chuẩn Nghị định thư Điều này dẫn đến việc mặc dù một số quốc gia công nghiệp khác có thể tham gia, tổng lượng khí thải mà các nước này kiểm soát vẫn chưa đủ để Nghị định thư có hiệu lực, khi Mỹ và Australia đã phát thải hơn 33% tổng lượng khí gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu, cộng với 17% của Nga, tổng cộng khoảng 50,33% Do đó, ngay cả khi các nước công nghiệp khác gia nhập, Nghị định thư vẫn không thể hoạt động hiệu quả.

Sau sự kiện gây chấn động từ Mỹ, nhiều hội nghị quốc tế đã được tổ chức nhằm kêu gọi các quốc gia chú trọng và hợp tác thực hiện Nghị định thư Kyoto dù không có sự tham gia của Mỹ Tại hội nghị các bên lần thứ sáu diễn ra ở Bonn, Đức từ ngày 16 đến 27/7/2001, các nước đã thông qua Thỏa thuận Bonn, đánh dấu một bước tiến mới trong nỗ lực toàn cầu chống biến đổi khí hậu.

27 Minh Thương (2006), “Nghị định thư Kyoto có hiệu lực vào ngày 16/2/2005”, Tạp chí Con người và thiên nhiên: http://www.thiennhien.net/?c5&a07

28 Xem chú thích 2 ở trên, tr 215.

Nghị định thư Kyoto quy định cơ chế phát triển sạch (CDM) và cam kết tài chính từ Liên minh châu Âu để hỗ trợ các nước đang phát triển trong bảo vệ và phát triển rừng cũng như tìm kiếm năng lượng thay thế Thỏa thuận Bonn đã nhấn mạnh việc thành lập một Hội đồng quốc tế để giám sát việc thực hiện Nghị định thư Các bên vi phạm quy định sẽ phải giảm phát thải thêm 1,3 tấn khí trong giai đoạn cam kết thứ hai bắt đầu từ năm 2013 Sau hội nghị Bonn, Nhật Bản, Canada, Úc và Liên minh châu Âu đã quyết tâm thực hiện Nghị định thư Kyoto mà không cần sự tham gia của các bên khác.

Mỹ Thỏa thuận Bonn ra đời như một vị cứu tinh, giúp Nghị định thư Kyoto tiến thêm một bước đến gần với thế giới

Sau gần một năm kể từ hội nghị môi trường tại Bonn, thế giới lại chuẩn bị cho Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững tại Johannesburg năm 2002 Hội nghị diễn ra trong bối cảnh tranh luận gay gắt giữa các nước phát triển và đang phát triển về vấn đề bảo vệ môi trường Mọi người đều đồng thuận rằng phát triển bền vững trong lĩnh vực môi trường cần đạt được sự cân bằng giữa ba khía cạnh: kinh tế, xã hội và môi trường Tuy nhiên, việc thực hiện phát triển bền vững vẫn gặp nhiều khó khăn do những mâu thuẫn trong quan điểm giữa các nước phát triển và đang phát triển.

Các nước phát triển coi việc bảo vệ môi trường là ưu tiên hàng đầu, nhằm khắc phục hậu quả ô nhiễm Họ mạnh mẽ phản đối các hoạt động phá rừng và khai hoang đất rừng để mở rộng canh tác, cũng như việc lạm dụng nguồn nguyên liệu gây ô nhiễm và các hoạt động tiêu cực khác ảnh hưởng xấu đến môi trường.

Các nước đang phát triển cho rằng trong quá trình phát triển, việc khai thác nguồn khoáng sản tự nhiên và rừng là cần thiết để tạo ra lợi nhuận lớn từ kinh doanh Họ cũng nhận thấy rằng việc sử dụng nguyên liệu sẵn có giúp tiết kiệm chi phí tìm kiếm nguyên liệu mới và phát triển khoa học kỹ thuật Do đó, các nước này thường đặt vấn đề phát triển kinh tế lên trên việc bảo vệ môi trường.

Để phát triển bền vững, cần dung hòa giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế-xã hội Phát triển kinh tế-xã hội là nhiệm vụ cấp bách, nhưng không thể quên rằng ô nhiễm môi trường sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống con người Bảo vệ môi trường không nên cản trở sự phát triển kinh tế; thay vào đó, phát triển đất nước cần kết hợp tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo và khai thác tài nguyên một cách bền vững Các quốc gia cần xem xét lại quan điểm và chú trọng phát triển thể chế cũng như khoa học công nghệ để đạt được sự cân bằng này.

Mục đích và ý nghĩa của Nghị định thư KYOTO

Nghị định thư Kyoto được thiết lập với mục đích rõ ràng ngay từ những dòng đầu tiên, nhấn mạnh rằng các bên ký kết sẽ hướng tới việc đạt được mục tiêu cuối cùng của Công ước khung về biến đổi khí hậu năm 1992.

Mục tiêu chính của Công ước và các văn bản pháp lý liên quan là đạt được sự ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển, nhằm ngăn chặn tác động tiêu cực của con người đối với khí hậu Điều này cần được thực hiện trong thời gian đủ để các hệ sinh thái thích nghi tự nhiên với biến đổi khí hậu, bảo vệ sản xuất lương thực và đảm bảo phát triển kinh tế bền vững.

Nghị định thư nhấn mạnh rằng trách nhiệm bảo vệ khí hậu toàn cầu thuộc về toàn nhân loại Để đạt được sự ổn định khí hậu trên trái đất, thế giới cần thực hiện các hành động kịp thời nhằm giảm thiểu khí thải gây hiệu ứng nhà kính Điều này không chỉ tạo ra môi trường sống lý tưởng cho các sinh vật mà còn đảm bảo đạt được các mục tiêu phát triển bền vững mà nhân loại đã đề ra.

Sự ra đời của Nghị định thư Kyoto mang lại nhiều ý nghĩa to lớn :

Nghị định thư Kyoto đóng vai trò then chốt trong việc phát triển pháp luật quốc tế về môi trường, thể hiện nỗ lực của các quốc gia trong việc củng cố và xây dựng các quy định pháp lý quốc tế Điều này nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách của thế giới về bảo vệ môi trường và hướng tới sự phát triển bền vững.

29 Điều 2/ Công ước khung về biến đổi khí hậu của Liên Hiệp Quốc.

Nghị định thư đóng vai trò quan trọng trong việc cụ thể hóa Công ước khung về khí hậu biến đổi, thiết lập một khung pháp lý thống nhất cho các hoạt động quốc tế nhằm bảo vệ môi trường khí hậu Nó không chỉ tạo ra cơ sở vững chắc cho các quốc gia mà còn khuyến khích sự thống nhất trong việc hoạch định các chính sách về môi trường và khí hậu trong tương lai.

Nghị định thư Kyoto đóng vai trò quan trọng trong việc thu hẹp khoảng cách giữa các nước phát triển và đang phát triển, thúc đẩy hợp tác quốc tế Sự hợp tác này không chỉ nâng cao mối quan hệ giữa các quốc gia mà còn tạo điều kiện thuận lợi để giải quyết các vấn đề môi trường thông qua các biện pháp hòa bình, thay vì xung đột kéo dài.

Tóm lại

Nghị định thư Kyoto, mặc dù chỉ là bước khởi đầu trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, đã có ảnh hưởng lớn trên diễn đàn quốc tế Nó thu hút sự quan tâm không chỉ của các chính phủ và nhà khoa học mà còn của mỗi cư dân trên hành tinh Là một phần quan trọng trong nỗ lực toàn cầu chống lại biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto đã thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa các quốc gia phát triển lên một tầm cao mới.

Trong chương tiếp theo, tác giả sẽ phân tích các nội dung pháp lý cơ bản của Nghị định thư Kyoto để làm rõ vai trò của nó Đồng thời, tác giả cũng sẽ đề cập đến vấn đề đang được tranh luận sôi nổi hiện nay, đó là việc thực hiện Nghị định thư Kyoto sau năm 2012.

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA NGHỊ ĐỊNH THƯ

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w