1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối quan hệ giữa các chế tài trong luật thương mại 2005

63 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối Quan Hệ Giữa Các Chế Tài Thương Mại Trong Luật Thương Mại 2005
Tác giả Dương Thị Lan
Người hướng dẫn Ths. Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp Cử Nhân Luật
Năm xuất bản 2010
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,51 MB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI (8)
    • 1.1 Một số vấn đề cơ bản về chế tài thương mại (8)
      • 1.1.1 Khái niệm chế tài thương mại (8)
      • 1.1.2 Đặc điểm của chế tài thương mại (9)
      • 1.1.3 Vai trò của chế tài thương mại (11)
    • 1.2 Những quy định của luật thương mại 2005 về chế tài thương mại và mối quan hệ giữa các chế tài thương mại (13)
      • 1.2.1 Pháp luật điều chỉnh các chế tài thương mại (13)
      • 1.2.2 quan hệ giữa các chế tài (23)
        • 1.2.2.1 Chế tài thương mại trong trường hợp có vi phạm cơ bản và không cơ bản. 18 (0)
        • 1.2.2.2 Quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng với các chế tài khác (26)
        • 1.2.2.3 Quan hệ giữa phạt vi phạm với bồi thường thiệt hại (29)
        • 1.2.2.4 Quyền đòi bồi thường thiệt hại sau khi đã áp dụng các chế tài khác (0)
        • 1.2.2.5 Điều khoản miễn trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thương mại (35)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI (37)
    • 2.1 Thực trạng áp dụng pháp luật điều chỉnh các chế tài thương mại theo luật Thương mại 2005 (37)
      • 2.1.1 Thực trạng áp dụng pháp luật điều chỉnh các chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm hợp đồng, bồi thường thiệt hại và hủy bỏ hợp đồng trong Luật Thương mại 2005 (37)
      • 2.1.2 Thực trạng áp dụng pháp luật điều chỉnh các chế tài còn lại trong Luật Thương mại 2005 (53)
    • 2.2 Một số vướng mắc và kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật chế tài thương mại (54)
  • KẾT LUẬN (7)

Nội dung

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI

Một số vấn đề cơ bản về chế tài thương mại

1.1.1 Khái niệm chế tài thương mại

Khi một hợp đồng dân sự hoặc thương mại được ký kết, các bên thường mong muốn đạt được mục tiêu giao kết một cách có lợi và xây dựng mối quan hệ kinh doanh lâu dài Tuy nhiên, thực tế cho thấy mối quan hệ thương mại không phải lúc nào cũng diễn ra như dự kiến hoặc theo quy định pháp luật, dẫn đến việc hợp đồng có thể bị vi phạm và gây khó khăn cho các bên Để phòng ngừa những vi phạm có thể xảy ra và thiết lập uy tín trong giao kết hợp đồng, pháp luật đã quy định trách nhiệm hợp đồng, thể hiện qua các chế tài trong thương mại.

Trách nhiệm hợp đồng là một chế định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh từ việc vi phạm hợp đồng Nó bao gồm việc bên vi phạm phải gánh chịu hậu quả bất lợi, với các chế tài có thể do cơ quan nhà nước hoặc tổ chức nghề nghiệp như trọng tài thương mại quyết định Trách nhiệm này phát sinh từ hành vi vi phạm và tính có lỗi của hành vi đó, ngay cả khi chưa có thiệt hại thực tế Các chế tài liên quan luôn có mối liên hệ với nhau, giúp xác định chế tài phù hợp trong từng trường hợp vi phạm cụ thể.

Chế tài là một phần quan trọng của quy phạm pháp luật, đại diện cho biện pháp mà nhà nước dự kiến áp dụng đối với những chủ thể không tuân thủ mệnh lệnh pháp luật Những biện pháp này thường dẫn đến hậu quả bất lợi cho đối tượng bị áp dụng, phản ánh thái độ của nhà nước đối với hành vi vi phạm pháp luật Đồng thời, chế tài cũng thể hiện trách nhiệm vật chất, và việc áp dụng chúng thường gây ra hậu quả kinh tế nghiêm trọng, đặc biệt đối với các chủ thể trong hợp đồng thương mại.

Trong lĩnh vực thương mại, vi phạm không chỉ là hành động vi phạm quy định pháp luật mà còn bao gồm những hành vi sai trái từ các bên liên quan Các vi phạm này có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến uy tín và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Do đó, việc tuân thủ các quy định và đạo đức kinh doanh là rất quan trọng để đảm bảo sự minh bạch và công bằng trong thương mại.

1 Đại học Luật Hà Nội (2001), Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, NXB Công an nhân dân, Hà nội, tr

Các điều khoản trong hợp đồng, chẳng hạn như điều khoản về thanh toán và chất lượng hàng hóa, không phải là luật pháp nhưng có hiệu lực bắt buộc do được xây dựng trên cơ sở các quy định pháp luật Điều này yêu cầu các bên phải tuân thủ và tôn trọng các cam kết trong hợp đồng Nếu một bên vi phạm các điều khoản này, bên bị vi phạm có quyền tự mình hoặc nhờ cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng chế tài Theo quy định của Luật Thương mại 2005, những chế tài này được gọi là chế tài trong thương mại.

Chế tài thương mại được định nghĩa là biện pháp trách nhiệm vật chất áp dụng cho bên vi phạm hợp đồng thương mại Việc thực hiện các chế tài này dựa trên thỏa thuận giữa các bên và các quy định của pháp luật thương mại, dẫn đến những hậu quả bất lợi cho bên bị áp dụng chế tài.

1.1.2 Đặc điểm của chế tài thương mại

Chế tài thương mại là một hình thức chế tài đặc thù, được áp dụng trong lĩnh vực hợp đồng thương mại, và nó mang những đặc điểm cơ bản riêng biệt.

Chế tài thương mại là những quy định trong hợp đồng, chỉ có hiệu lực khi có một hợp đồng cụ thể Các thỏa thuận trong hợp đồng là cơ sở để xác định hành vi vi phạm Do đó, không có hợp đồng thì không thể áp dụng chế tài thương mại Nếu vi phạm thương mại không xuất phát từ hợp đồng, chế tài áp dụng sẽ là các chế tài hành chính hoặc hình sự, tùy thuộc vào tính chất và mức độ vi phạm Điều này giúp phân biệt chế tài thương mại với chế tài dân sự, hành chính và hình sự.

Chế tài trong thương mại mang tính tài sản, có nghĩa là bên vi phạm sẽ phải chịu hậu quả bất lợi về tài sản do hành vi vi phạm của mình Điều này có thể bao gồm việc bồi thường thiệt hại, trả tiền phạt hoặc gánh chịu chi phí để thực hiện hợp đồng theo đúng cam kết Ngoài ra, bên vi phạm còn có thể phải chịu chi phí phát sinh nếu hợp đồng bị hủy bỏ Mục đích cuối cùng của các bên khi ký kết hợp đồng là để tối đa hóa lợi ích kinh tế, do đó, nếu một bên không đạt được lợi ích của mình do lỗi của bên kia, họ cần được bù đắp một cách hợp lý.

Trong hợp đồng, việc bồi thường thiệt hại cho bên bị thiệt hại thể hiện tính trung thực và thiện chí giữa các bên Thiệt hại chủ yếu liên quan đến tài sản, do đó chế tài áp dụng cho bên vi phạm cũng cần giới hạn trong lĩnh vực tài sản Cần phân biệt giữa trách nhiệm tài sản trong thương mại và hành chính; trong hành chính, trách nhiệm tài sản thường liên quan đến mức phạt nhỏ và thu vào ngân sách nhà nước, trong khi trong thương mại, trách nhiệm tài sản phát sinh từ thiệt hại và lợi ích mong muốn của bên bị vi phạm.

Chế tài thương mại được áp dụng dựa trên ý chí của các bên thông qua thỏa thuận hoặc quy định của pháp luật, nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho bên bị vi phạm.

Trong quá trình giao kết hợp đồng, các bên không luôn hoàn toàn thiện chí, dẫn đến việc vi phạm hợp đồng không phải là hiếm gặp, ảnh hưởng đến bên còn lại dù thiệt hại đã xảy ra hay chưa Do đó, bên bị vi phạm cần được trao quyền xử lý hành vi vi phạm của bên kia, thể hiện tính tự chủ và công bằng giữa các bên Điều này cho thấy sự khác biệt trong trách nhiệm pháp lý này so với các loại trách nhiệm khác, khi bên bị vi phạm không thể tự mình yêu cầu bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ mà phải thông qua cơ quan nhà nước Nhà nước không trực tiếp xử lý tất cả các vi phạm hợp đồng mà cho phép các bên thỏa thuận về việc áp dụng các chế tài Khi trao quyền này, nhà nước cũng thiết lập các cơ sở pháp lý cần thiết để bảo vệ lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm khi yêu cầu thực hiện các chế tài không được bên vi phạm đáp ứng.

Th ứ tư , việc áp dụng chế tài trong thương mại hay không là quyền của bên bị vi phạm

Theo quy định trong LTM 2005, chỉ bên bị vi phạm hợp đồng mới có quyền yêu cầu áp dụng chế tài thương mại Cụ thể, bên bị vi phạm có thể yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc áp dụng biện pháp khác, và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh (Khoản 1 Điều 297 LTM 2005) Hợp đồng được xem như "luật riêng" giữa các bên dựa trên sự thỏa thuận bình đẳng, do đó quyền áp dụng chế tài chỉ thuộc về bên bị vi phạm Khi xảy ra vi phạm, bên bị vi phạm sẽ quyết định có áp dụng chế tài hay không, cũng như mức độ và cách thức áp dụng Nếu quyền áp dụng không hiệu quả, bên bị vi phạm có thể yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, và việc bảo vệ này dựa trên yêu cầu của nguyên đơn mà không vượt quá yêu cầu đó.

Chế tài trong thương mại có những đặc điểm khác biệt so với chế tài hành chính, hình sự hay dân sự, thể hiện tính linh hoạt và tự do thỏa thuận cao trong hoạt động kinh doanh Điều này giúp các bên trong hợp đồng thương mại có thể lựa chọn phương thức phù hợp nhất để xử lý khi có hành vi vi phạm hợp đồng.

Chế tài thương mại đóng vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước về lĩnh vực kinh doanh thương mại, đồng thời hỗ trợ các bên trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.

1.1.3 Vai trò của chế tài thương mại

Xét trong m ối quan hệ giữa các b ên trong h ợp đồng, chế tài thương mại có nh ững vai tr ò sau:

Những quy định của luật thương mại 2005 về chế tài thương mại và mối quan hệ giữa các chế tài thương mại

và mối quan hệ giữa các chế tài thương mại

1.2.1 Pháp luật điều chỉnh các chế tài thương mại

Chế tài trong thương mại Việt Nam đã trải qua một quá trình phát triển dài Từ những năm đầu xây dựng đất nước theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chế tài thương mại đã bắt đầu hình thành, với Điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh doanh số 735-TTg quy định về bồi thường thiệt hại Đến năm 1975, khi nền kinh tế phát triển mạnh mẽ hơn, hợp đồng kinh tế trở nên quan trọng, và các quy định về chế tài thương mại đã mở rộng, bao gồm cả bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng Tuy nhiên, lúc này, chế tài chủ yếu mang tính hành chính hơn là biện pháp do vi phạm hợp đồng Thời kỳ đổi mới đánh dấu sự bổ sung và chỉnh sửa các quy định về chế tài trong thương mại, với Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 quy định các chế tài như buộc thực hiện hợp đồng, bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm và hủy bỏ hợp đồng, đồng thời cho phép các bên lựa chọn hình thức chế tài phù hợp Tuy nhiên, với sự phát triển của nền kinh tế hội nhập, các quy định của Pháp lệnh này đã không còn đáp ứng yêu cầu, dẫn đến việc LTM 1997 ra đời với các chế tài thương mại đầy đủ và sâu sắc hơn.

Năm 1997, đã đưa ra năm biện pháp chế tài gồm buộc thực hiện đúng hợp đồng, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm và hủy bỏ hợp đồng Tuy nhiên, mối quan hệ giữa các chế tài này còn thiếu sót, dẫn đến việc áp dụng không hiệu quả và dễ phát sinh tranh chấp Hơn nữa, các quy định về chế tài thương mại không đồng bộ với những quy định trong pháp luật Dân sự và luật Đầu tư nước ngoài.

Sự tồn tại của hệ thống pháp luật trong nước, cùng với ảnh hưởng mạnh mẽ của hội nhập quốc tế, đã thúc đẩy các nhà làm luật thực hiện những điều chỉnh cần thiết Bộ luật Dân sự 2005 và Luật Thương mại 2005 (LTM 2005) ra đời là những văn bản pháp luật quan trọng, trong đó LTM 2005 đã nâng cao chế định chế tài thương mại, mở rộng số lượng chế tài và quy định mối quan hệ giữa chúng Đặc biệt, LTM 2005 cho phép các bên thỏa thuận biện pháp chế tài khác ngoài các chế tài luật định, miễn là không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia Nhờ vào quy định này, các quan hệ kinh doanh ngày càng gia tăng, và việc giải quyết vi phạm thương mại không còn phải phụ thuộc nhiều vào tòa án hay trọng tài thương mại Một cơ chế giải quyết tranh chấp mới, dựa trên thỏa thuận của các bên, đã hình thành, góp phần quan trọng vào việc hỗ trợ quá trình hội nhập kinh tế của doanh nghiệp Việt Nam, phù hợp với thương mại quốc tế.

Theo quy định của LTM 2005, có sáu biện pháp chế tài bao gồm: buộc thực hiện đúng hợp đồng, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng, bồi thường thiệt hại, và phạt vi phạm, cùng với các chế tài khác do các bên tự thỏa thuận, miễn là không trái với pháp luật Việt Nam và các điều ước Quốc tế mà Việt Nam tham gia Mỗi biện pháp chế tài có điều kiện áp dụng riêng, phụ thuộc vào từng trường hợp vi phạm, và trong quá trình thực hiện, các chế tài này thể hiện mối quan hệ mật thiết, có thể bổ trợ lẫn nhau hoặc hoạt động độc lập.

Theo LTM 2005, việc áp dụng chế tài thương mại yêu cầu có hành vi vi phạm hợp đồng, thiệt hại thực tế và mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu tố này Tuy nhiên, do tính chất và hậu quả của các vi phạm hợp đồng khác nhau, không phải tất cả các biện pháp chế tài đều cần đủ các căn cứ trên Chế tài bồi thường thiệt hại yêu cầu có đủ căn cứ, trong khi các chế tài khác chỉ cần xác định hành vi vi phạm hợp đồng, như chế tài phạt vi phạm hay buộc thực hiện hợp đồng Lỗi trong hành vi vi phạm không phải là yếu tố bắt buộc và thường chỉ được coi là lỗi suy đoán Trong trường hợp có thỏa thuận miễn trách nhiệm hoặc quy định của pháp luật, lỗi của bên vi phạm không cần xem xét và họ không phải chịu chế tài.

Về các trường hợp áp dụng cụ thể từng biện pháp chế tài, LTM 2005 có những quy định như sau:

Theo Điều 297 LTM 2005, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng yêu cầu bên vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ hợp đồng hoặc áp dụng các biện pháp khác để đảm bảo hợp đồng được thực hiện, đồng thời bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh Nếu người bán vi phạm nghĩa vụ, người mua có quyền yêu cầu người bán thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.

+Nếu vi phạm là chậm giao hàng thì phải thực hiện nghĩa vụ giao hàng; +Nếu giao thiếu hàng thì buộc phải giao đủ;

+Thay thế hàng hóa không phù hợp với loại hàng hóa khác nếu sự không phù hợp là nghiêm trọng

Tuy nhiên, những yêu cầu trên chỉ có hiệu lực nếu người mua tuân thủ thời hạn thông báo do các bên thỏa thuận trong hợp đồng

Theo Điều 300 Bộ luật Thương mại năm 2005, việc phạt vi phạm hợp đồng diễn ra khi bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm phải trả một khoản tiền phạt, điều này chỉ áp dụng nếu trong hợp đồng có quy định rõ ràng về việc phạt vi phạm.

Bên bị vi phạm có quyền trì hoãn thực hiện nghĩa vụ để buộc bên kia thực hiện hợp đồng Theo quy định của LTM 2005, các biện pháp này bao gồm quyền trì hoãn thanh toán tiền hàng nếu người mua có chứng cứ về việc bên bán lừa dối (Điều 51 Khoản 1) hoặc nếu có bằng chứng về việc bên bán lừa gạt, không có khả năng giao hàng, hoặc hàng hóa đang tranh chấp với bên thứ ba (Khoản 2 Điều 51).

Khoản 1 và 2 Điều 51 quy định trường hợp ngoại lệ trong việc áp dụng chế tài buộc thực hiện hợp đồng, khi chưa xảy ra hành vi vi phạm nhưng có cơ sở cho thấy vi phạm có khả năng xảy ra Việc trì hoãn thanh toán tiền là cần thiết để khuyến khích bên có khả năng vi phạm thực hiện đúng hợp đồng và ngăn chặn thiệt hại cho người mua trước nguy cơ vi phạm.

Bên bị vi phạm có quyền cầm giữ tài sản, tài liệu hoặc hàng hóa liên quan đến hợp đồng, theo quy định tại Điều 149 LTM 2005 Cụ thể, người đại diện cho thương nhân có quyền giữ tài sản để đảm bảo thanh toán các khoản thù lao và chi phí đã đến hạn Những quy định này không chỉ là biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng mà còn mang đặc tính của biện pháp buộc thực hiện hợp đồng Điều này cho thấy, các biện pháp này được áp dụng khi bên có nghĩa vụ thanh toán không thực hiện cam kết, mà không cần thỏa thuận trước giữa các bên.

Theo điều 297 của Luật Thương mại Việt Nam năm 2005, pháp luật cho phép các bên trong hợp đồng lựa chọn các "biện pháp khác" để thực hiện hợp đồng, miễn là những biện pháp này không vi phạm pháp luật.

Một điểm quan trọng trong quy định về chế tài thực hiện hợp đồng là quyền gia hạn thời gian nghĩa vụ cho bên vi phạm Cụ thể, bên bị vi phạm có quyền gia hạn một khoảng thời gian hợp lý để bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng Quyền gia hạn này thuộc về bên bị vi phạm, và quyết định thực hiện hay không phụ thuộc vào việc họ đánh giá lợi ích của mình được bảo đảm như thế nào.

Theo Điều 300 của Luật Thương mại 2005, chế tài phạt vi phạm hợp đồng cho phép bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thanh toán một khoản tiền phạt nếu có thỏa thuận trong hợp đồng, trừ trường hợp được miễn trách nhiệm theo quy định tại Điều 294.

Năm 2005, chế tài phạt vi phạm hợp đồng được xác định là một hình thức trách nhiệm áp dụng khi có hành vi vi phạm Khái niệm và cách thức áp dụng chế tài này cũng được làm rõ trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, tương tự như quy định trong LTM 2005.

Năm 1989, theo quy định, bên vi phạm hợp đồng sẽ phải chịu trách nhiệm thanh toán tiền phạt hợp đồng cho bên bị vi phạm Nếu có thiệt hại xảy ra, bên vi phạm cũng có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo Khoản 2 Điều.

THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam, tập 2, NXB Công an nhân dân, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam, tập 2
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2006
8. Ls Bùi Quang Nhơn, Ls Nguyễn Kỳ Việt (2000), Một số khái niệm về Luật Thương mại, NXB Trẻ Tp Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khái niệm về Luật Thương mại
Tác giả: Ls Bùi Quang Nhơn, Ls Nguyễn Kỳ Việt
Nhà XB: NXB Trẻ Tp Hồ Chí Minh
Năm: 2000
9. Ts Dương Anh Sơn, Ts Lê Thị Bích Thọ (2005), “Một số ý kiến về phạt vi phạm do vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam”, Tạp chí khoa học pháp lý,(số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về phạt vi phạm do vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam
Tác giả: Ts Dương Anh Sơn, Ts Lê Thị Bích Thọ
Năm: 2005
10. Ths Nguyễn Văn Cương (2005), Những điểm mới của Luật Thương mại 2005, NXB Tư Pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới của Luật Thương mại 2005
Tác giả: Ths Nguyễn Văn Cương
Nhà XB: NXB Tư Pháp
Năm: 2005
11. Ts Dương Anh Sơn, Ts Lê Thị Bích Thọ, PGS.Ts Nguyễn Văn Luyện (2007), Giáo trình Luật hợp đồng Thương mại Quốc tế, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hợp đồng Thương mại Quốc tế
Tác giả: Ts Dương Anh Sơn, Ts Lê Thị Bích Thọ, PGS.Ts Nguyễn Văn Luyện
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2007
12. Ts Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định hợp đồng trong bộ luật Dân sự Việt Nam, NXB Tư Pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định hợp đồng trong bộ luật Dân sự Việt Nam
Tác giả: Ts Nguyễn Ngọc Khánh
Nhà XB: NXB Tư Pháp
Năm: 2007
13. Ts Đỗ Văn Đại (2008), Luật hợp đồng Việt Nam bản án và bình luận, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hợp đồng Việt Nam bản án và bình luận
Tác giả: Ts Đỗ Văn Đại
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2008
14. Nguyễn Phú Cường (2009), Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong kinh doanh thương mại, Luận văn thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong kinh doanh thương mại
Tác giả: Nguyễn Phú Cường
Năm: 2009
15. Trần Thị Phương Thảo (2006), Chế tài trong thương mại theo Luật Thương mại 2005, khóa luận cử nhân Luật, Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế tài trong thương mại theo Luật Thương mại 2005
Tác giả: Trần Thị Phương Thảo
Năm: 2006
16. Đỗ Trần Hà Linh (2009), Chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại, Khóa luận cử nhân Luật, Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại
Tác giả: Đỗ Trần Hà Linh
Năm: 2009
17. Bùi Ngọc Hồng (2000), chế tài trong thương mại theo luật thương mại, khóa luận cử nhân Luật, Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Ngọc Hồng (2000)," chế tài trong thương mại theo luật thương mại
Tác giả: Bùi Ngọc Hồng
Năm: 2000
18. Huỳnh Xuân Chính (2000), chế độ bồi thường do vi phạm hợp đồng kinh tế, Khóa luận cử nhân Luật, Đại học Luật Tp.Hồ Chí minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: chế độ bồi thường do vi phạm hợp đồng kinh tế
Tác giả: Huỳnh Xuân Chính
Năm: 2000
25. Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2010), “Không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật thực định Việt Nam”, Hội thảo nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật thực định Việt Nam
Tác giả: Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh
Năm: 2010
5. Hợp đồng kinh doanh số 735/TTg ngày 10/4/1956 Khác
6. Nghị định số 04/TTg ngày 04/01/1960 của Thủ tướng Chính phủ về điều lệ tạm thời về Chế độ hợp đồng kinh tế Khác
7. Nghị định số 54/Cp ngày 10/3/1975 về Điều lệ chế độ hợp đồng kinh tế Khác
8. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989. TÀI LIỆU THAM KHẢO Khác
1. Công Ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế Khác
2. Bộ nguyên tắc Unidriot về hợp đồng thương mại quốc tế 2004 3. Luật bán hàng của Vương quốc Anh năm 1979 Khác
4. Nghị quyết số 04/2003/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w