HOẠT ĐỘNG GIÁM ĐỊNH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa hoạt động giám định trong tố tụng dân sự
1.1.1 Khái ni ệ m, đặ c đ i ể m ho ạ t độ ng giám đị nh trong t ố t ụ ng dân s ự
Theo Từ điển Tiếng Việt, giám định là quá trình xem xét và kết luận về một sự vật hoặc hiện tượng mà cơ quan nhà nước cần làm rõ Trong Từ điển Bách khoa toàn thư, giám định được định nghĩa là việc kiểm tra và đưa ra kết luận về một vấn đề mà cơ quan nhà nước cần tìm hiểu Giám định pháp lý là loại giám định được điều chỉnh bởi luật tố tụng, nhằm làm sáng tỏ các vấn đề và tình tiết liên quan đến vụ án.
Theo “Giáo trình Khoa học điều tra hình sự” của Đại học Luật Hà Nội thì
Giám định là quá trình áp dụng kiến thức, kỹ thuật và phương pháp khoa học để đưa ra kết luận chuyên môn về các vấn đề liên quan, theo yêu cầu của cơ quan, cá nhân hoặc tổ chức.
Xuất phát từ bản chất của thế giới vật chất, vật chất không bao giờ mất đi mà chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác, do đó mọi hành vi và sự kiện đều để lại dấu vết trong thế giới vật chất Dựa vào đặc tính này, con người có thể nghiên cứu và tìm hiểu các dấu vết đó Việc phát hiện và phân tích các dấu vết này thường yêu cầu kiến thức và phương pháp từ các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật, và hoạt động này được gọi là giám định.
Giám định là thuật ngữ rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực như giám định thương mại, bảo hiểm y tế và xây dựng, và được điều chỉnh bởi nhiều ngành luật khác nhau Mục đích chính của tất cả các hoạt động giám định là kiểm tra và đưa ra kết luận về những vấn đề cần làm rõ.
2 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 389
3 Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (2005), Từ điển Bách khoa
Việt Nam (tập 2), Nxb Từ điển Bách khoa, tr 110
4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Khoa học điều tra hình sự, Bùi Kiên Điện, Nxb Công an nhân dân, tr 187
5 Phan Hữu Thư (2001), Kỹ năng hành nghề luật sư (tập 4), Nxb Công an nhân dân, tr 17
Trong tố tụng dân sự và hình sự, việc xác định sự thật khách quan yêu cầu các bên liên quan phải thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ một cách toàn diện Giám định, với vai trò là biện pháp thu thập chứng cứ hiện đại, được thực hiện để xác định các tình tiết và sự kiện của vụ án, và phải tuân theo quy định của luật tố tụng Hoạt động giám định tư pháp không chỉ là một phần quan trọng trong quá trình tố tụng mà còn được hệ thống hóa thành quan hệ pháp luật đặc thù Theo các văn bản pháp luật, giám định tư pháp là phương thức thu thập chứng cứ, và kết luận giám định chỉ được công nhận là nguồn chứng cứ khi được thực hiện đúng quy trình pháp luật.
Trong pháp luật phong kiến Việt Nam, mặc dù chưa có sự phân chia rõ ràng giữa pháp luật hình sự và dân sự, nhưng các quy định về giám định đã được ghi nhận trong một số cổ luật Cụ thể, thời Lê sơ, sách Thiên nam dư hạ tập quy định việc kiểm nghiệm thương tích trong các vụ đánh nhau thuộc thẩm quyền của quan xã trưởng hoặc quan huyện Trong Lịch triều hiến chương loại chí, chương Hình luật cũng nêu rõ quy trình khám vết thương để xác định nguyên nhân và phương tiện gây ra thương tích Đến thời nhà Nguyễn, theo Hoàng Việt luật lệ, các nha môn phải tiến hành khám nghiệm thương tích của can phạm trước khi thẩm vấn, nhằm xác định mức độ thương tích để quyết định biện pháp trách nhiệm pháp lý.
6 Điểm d khoản 1 Điều 87 BLTTHS 2015, khoản 5 Điều 94 BLTTDS 2015, khoản 5 Điều 81 Luật TTHC 2015
7 Điều 86 BLTTHS 2015, khoản 6 Điều 95 BLTTDS 2015, khoản 6 Điều 82 Luật TTHC 2015
8 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam, Nguyễn Thị Thương Huyền, Nxb Hồng Đức, tr 296
9 Huỳnh Công Bá (2017), Định chế pháp luật và tố tụng triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, tr 552
Trong thời kỳ phong kiến, hoạt động kiểm nghiệm (giám định) chủ yếu do các quan chức như quan xã trưởng, quan huyện và nha môn thực hiện Dựa trên thực tiễn xét xử và kinh nghiệm từ các bộ sách nổi tiếng của Trung Quốc như Tẩy oan lục và Vô oan lục, thời nhà Lê đã xuất hiện những bộ sách về giám định pháp y như Công án tra nghiệm bí pháp và Nhân mạng tra nghiệm pháp Điều này cho thấy, trong xã hội Việt Nam phong kiến, các vấn đề chuyên môn liên quan đến giám định, đặc biệt là giám định pháp y, đã được nghiên cứu và hệ thống hóa để phục vụ cho công tác xét xử.
Sự phát triển của trình độ lập pháp đã dẫn đến việc phân định rõ ràng các quan hệ tố tụng giữa tố tụng dân sự và hình sự Hoạt động giám định, từ một chế định mờ nhạt, đã trở nên hoàn thiện nhờ sự tiến bộ của khoa học - kỹ thuật, và hiện nay đã trở thành một chế định pháp luật độc lập Giám định không chỉ là một phương thức thu thập chứng cứ hiệu quả trong tố tụng dân sự mà còn trong hoạt động tố tụng nói chung.
Giám định tư pháp lần đầu tiên được quy định thống nhất trong Nghị định số 117-HĐBT ngày 21/7/1988 của Hội đồng Bộ trưởng Nghị định này đã đặt ra các quy định cơ bản về hoạt động giám định tư pháp, tạo nền tảng pháp lý cho việc thực hiện các hoạt động giám định trong lĩnh vực tư pháp tại Việt Nam.
Giám định tư pháp, theo Nghị định này, được định nghĩa là việc sử dụng kiến thức và phương pháp khoa học kỹ thuật để đưa ra kết luận liên quan đến các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, cũng như tranh chấp lao động Việc này được thực hiện theo quyết định trưng cầu giám định của các cơ quan tiến hành tố tụng như Công an, Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân, nhằm hỗ trợ cho công tác điều tra, truy tố và xét xử trong lĩnh vực tố tụng dân sự.
Nghị định liên quan đến các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, cũng như tranh chấp lao động chỉ quy định về việc trưng cầu giám định từ các cơ quan như Công an, Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân Tuy nhiên, Nghị định này không cho phép đương sự tự yêu cầu giám định, mà chỉ có thể thông qua các cơ quan tiến hành tố tụng Thêm vào đó, việc "trưng cầu giám định" cũng đã được quy định trong các Pháp lệnh về thủ tục tố tụng dân sự, như Pháp lệnh Tố tụng Giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) được ban hành.
Chế độ khám nghiệm pháp y thời Lê được quy định qua hai văn bản hướng dẫn quan trọng Những tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình và nguyên tắc khám nghiệm pháp y trong thời kỳ này Trần Thị Kim Anh đã phân tích chi tiết trong bài viết của mình, giúp người đọc hiểu rõ hơn về các quy định và thực tiễn pháp lý thời Lê.
Pháp lệnh ngày 07/12/1989, có hiệu lực từ 01/01/1990, quy định quyền của Tòa án trong việc chủ động ra quyết định trưng cầu giám định Ngoài ra, Pháp lệnh cũng cho phép Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án hoặc tự mình thực hiện trưng cầu giám định, điều tra và xác minh các vấn đề cần làm sáng tỏ trong vụ án.
Ngày 16/3/1994, PLTTGQCVAKT và ngày 11/4/1996, PLTTGQCTCLĐ đã quy định về trưng cầu giám định như một biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ Hai Pháp lệnh này mở rộng quyền trưng cầu giám định, cho phép Tòa án và Viện kiểm sát không chỉ tự quyết định mà còn có thể ra quyết định trưng cầu giám định theo yêu cầu của đương sự.
Nghị quyết số 08 - NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị đã định hướng cải cách lĩnh vực tư pháp, dẫn đến việc ban hành BLTTDS 2004 và PLGĐTP 2004, trong đó quy định rõ ràng hơn về giám định tư pháp so với các quy định trước đây Các quyền và nghĩa vụ của người giám định trong tố tụng dân sự, cũng như các vấn đề như từ chối hoặc thay đổi người giám định, xác định kết luận giám định và chi phí giám định đã được cụ thể hóa Tuy nhiên, BLTTDS 2004 quy định rằng Tòa án chỉ có thể ra quyết định trưng cầu giám định theo thỏa thuận của các bên, không có quyền chủ động trong việc này Sự thay đổi này nhằm nhấn mạnh nguyên tắc thu thập chứng cứ chủ động từ đương sự và vai trò kiểm sát của Viện kiểm sát Tuy nhiên, trong nhiều vụ việc dân sự, khi kết luận giám định là nguồn chứng cứ quyết định, việc các đương sự không đạt được thỏa thuận hoặc không yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định đã gây khó khăn trong quá trình thu thập chứng cứ.
11 Điểm d khoản 1 Điều 38 PLTTGQCVADS “Để chuẩn bị cho việc hoà giải, xét xử, tuỳ trường hợp, Toà án tiến hành những việc sau đây: d) Trưng cầu giám định”
13 Khoản 1 Điều 24 PLTTGQCVAKT và khoản 1 Điều 25 PLTTGQCTCLĐ
10 thập, đánh giá chứng cứ và giải quyết vụ việc của Tòa án, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự
Sau một thời gian thi hành, thực tiễn cho thấy nhiều quy định của BLTTDS
Nguyên tắc tiến hành hoạt động giám định trong tố tụng dân sự
Nguyên tắc là những điều cơ bản cần tuân thủ trong các hoạt động để đạt được kết quả cao Trong hoạt động giám định trong tố tụng dân sự, các chủ thể phải xác định và tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự và giám định tư pháp Hoạt động này mang tính khoa học và thực tiễn, chịu sự điều chỉnh của pháp luật Theo Điều 3 Luật Giám định tư pháp 2012, các nguyên tắc này nhằm đảm bảo rằng hoạt động giám định được thực hiện một cách khách quan, khoa học và chính xác.
Một là, tuân thủ pháp luật, tuân thủ theo quy chuẩn chuyên môn (khoản 1 Điều 3 Luật GĐTP 2012)
Quy chuẩn chuyên môn là tập hợp quy trình và tiêu chuẩn khoa học do cơ quan có thẩm quyền ban hành, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện và kết luận giám định tư pháp Mỗi lĩnh vực giám định có quy chuẩn riêng, nhằm đảm bảo tính chính xác, khoa học và thống nhất trong quá trình giám định Người giám định cần thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, không được bỏ sót bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình giám định từ khi tiếp nhận trưng.
28 Viện Ngôn ngữ học (2003), tlđd (02), tr 694
Nguyên tắc thực hiện giám định tư pháp là một yếu tố quan trọng trong hệ thống pháp luật, đảm bảo tính chính xác và khách quan trong quá trình điều tra và xét xử Việc tuân thủ các nguyên tắc này giúp nâng cao hiệu quả của công tác giám định, từ đó bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan Để hiểu rõ hơn về các quy định và quy trình giám định tư pháp, người đọc có thể tham khảo bài viết tại trang Congly.vn.
Trong quá trình giám định, cần thực hiện đầy đủ 17 cầu, bao gồm yêu cầu giám định, thực hiện giám định, xây dựng bản kết luận và trả kết luận giám định Ngoài ra, việc lưu hồ sơ và các hoạt động liên quan cũng rất quan trọng Người giám định phải tuân thủ chính xác trình tự, thủ tục và áp dụng tiêu chuẩn khi đưa ra kết luận giám định.
Theo Điều 3 Khoản 2 của Luật Giám định tư pháp 2012, các nguyên tắc gồm: hai là, trung thực, chính xác, khách quan, vô tư và kịp thời, đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá giá trị chứng minh của kết luận giám định trong vụ việc dân sự Nếu không đảm bảo các tiêu chí này, chất lượng giám định và kết quả hoạt động của cơ quan, người tiến hành tố tụng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Người giám định cần đảm bảo tính trung thực, chính xác và khách quan bằng cách chỉ dựa vào các tình tiết và tài liệu có thật trong quá trình giám định Họ không nên tự ý suy diễn theo ý chí cá nhân, nhằm duy trì tính đúng đắn và khoa học trong từng bước, từ việc tiếp nhận nội dung giám định, thu thập và nghiên cứu tài liệu, cho đến tổng hợp, đánh giá và đưa ra kết luận.
"Vô tư" yêu cầu người giám định thực hiện công việc của mình một cách độc lập, không bị ảnh hưởng bởi lợi ích cá nhân hay bên ngoài, đảm bảo sự chuyên môn và khách quan trong từng quyết định và hành động.
Hoạt động giám định cần được thực hiện ngay khi tiếp nhận để ngăn chặn sự biến đổi tự nhiên của đối tượng giám định Đồng thời, kết luận giám định phải được trả đúng hạn theo quyết định trưng cầu hoặc theo thỏa thuận với người yêu cầu giám định.
Ba là, chỉ kết luận về chuyên môn những vấn đề trong phạm vi được yêu cầu (khoản 3 Điều 3 Luật GĐTP 2012)
Nguyên tắc giám định yêu cầu chuyên gia tập trung vào các vấn đề chuyên môn, khoa học và kỹ thuật theo yêu cầu trong quyết định trưng cầu giám định, mà không được đưa ra kết luận về các vấn đề pháp lý Điều này đảm bảo tính khách quan và độc lập trong quá trình Tòa án đánh giá chứng cứ và giải quyết các vụ án, vụ việc.
Bốn là, chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận giám định (khoản 4 Điều 3 Luật GĐTP 2012)
Kết luận giám định đóng vai trò là nguồn chứng cứ khoa học quan trọng trong việc giải quyết các vụ việc dân sự Do đó, việc yêu cầu người giám định chịu trách nhiệm về kết luận của mình là cần thiết, nhằm đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy của thông tin trong quá trình xét xử.
Để bảo đảm tính minh bạch và chính xác trong kết luận giám định, cũng như nâng cao tinh thần trách nhiệm của người giám định, các nguyên tắc của luật tố tụng dân sự, từ Điều 3 đến Điều 25 của BLTTDS 2015, đóng vai trò định hướng cho toàn bộ ngành luật này Hoạt động giám định, là một phương thức thu thập chứng cứ, cần tuân thủ những nguyên tắc cơ bản để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả trong quá trình tố tụng dân sự.
Thứ nhất, nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong tố tụng dân sự (Điều 3
Tuân thủ pháp luật là nguyên tắc cốt lõi trong hoạt động của bộ máy nhà nước, đảm bảo quá trình giải quyết vụ việc dân sự diễn ra khách quan và chính xác, từ đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan Nguyên tắc này yêu cầu mọi hoạt động liên quan đến giám định trong tố tụng dân sự, bao gồm người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, và các cá nhân, tổ chức khác, phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật.
Thứ hai, cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng (Điều 6 BLTTDS
Chứng cứ và chứng minh là yếu tố quyết định trong việc giải quyết vụ việc dân sự, giúp Tòa án đạt được sự khách quan và chính xác Theo BLTTDS 2015, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình thực hiện yêu cầu này nếu Tòa án từ chối Tòa án cũng có thể chủ động ra quyết định trưng cầu giám định khi cần thiết Vai trò của đương sự trong việc đề nghị giám định là rất quan trọng, trong khi Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ nhưng cũng có thể từ chối hoặc tự quyết định Giám định là hoạt động thu thập chứng cứ cần sự can thiệp của bên thứ ba, người giám định, sử dụng kiến thức chuyên môn để làm rõ các vấn đề và tình tiết liên quan.
30 Trường Đại học Kinh tế - Luật (2017), Giáo trình Luật tố tụng dân sự, Nguyễn Thị Hồng Nhung, Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, tr 13
Sự hỗ trợ của Tòa án trong quá trình giám định là cần thiết để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan trong vụ việc dân sự, giúp hoạt động giám định diễn ra hiệu quả và chính xác.
Thứ ba, nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền (Điều 7 BLTTDS 2015)
Trong vụ việc dân sự, chứng cứ có thể được lưu giữ bởi cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức Để đảm bảo giải quyết vụ việc một cách khách quan và chính xác, các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền phải có trách nhiệm cung cấp đầy đủ chứng cứ tài liệu Người giám định cũng phải cung cấp chứng cứ đúng thời hạn theo yêu cầu của đương sự, Tòa án hoặc Viện kiểm sát, và họ sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận giám định Nếu không thể cung cấp chứng cứ, người giám định cần thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Thứ tư, nguyên tắc bảo đảm sự vô tư, khách quan trong tố tụng dân sự (Điều
Trưng cầu giám định
1.3.1 Khái ni ệ m tr ư ng c ầ u giám đị nh
Thuật ngữ “trưng cầu” được hiểu là hành động hỏi ý kiến một cách có tổ chức từ số đông người Tuy nhiên, hiện tại chưa có định nghĩa cụ thể cho cụm từ này trong các văn bản pháp luật.
Trưng cầu giám định là quá trình hỏi ý kiến chuyên gia về các vấn đề cần xem xét trong tố tụng Đây là hoạt động của cơ quan và người tiến hành tố tụng, đặc biệt trong tố tụng dân sự, khi Tòa án cần làm rõ những nội dung qua giám định để giải quyết vụ việc Hoạt động này cũng là căn cứ để phát sinh giám định tư pháp.
1.3.2 Ch ủ th ể tr ư ng c ầ u giám đị nh Đối với trưng cầu giám định, Tòa án sẽ ra quyết định trưng cầu giám định nếu thuộc 02 trường hợp: (i) Đương sự yêu cầu hoặc (ii) Khi xét thấy cần thiết
Trong vụ việc dân sự, đương sự là người hiểu rõ nhất các tình tiết và sự kiện liên quan Tuy nhiên, do một số tình huống đã xảy ra lâu hoặc có sự mâu thuẫn trong lời khai, việc xác định tính chính xác của các sự kiện có thể gặp khó khăn Do đó, cần thiết phải có sự giám định từ các chuyên gia bên thứ ba Điều này không chỉ giúp làm rõ các tình tiết mà còn bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự, đồng thời tránh lãng phí thời gian và tiền bạc cho các bên liên quan Pháp luật quy định rằng đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định, và Tòa án sẽ xem xét để quyết định có chấp thuận yêu cầu hay không.
Theo quy định mới trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án có quyền quyết định trưng cầu giám định ngay cả khi đương sự không yêu cầu, nếu thấy việc này là "cần thiết" Điều này nhằm đảm bảo việc giải quyết các vụ việc dân sự được thực hiện một cách đầy đủ và chính xác hơn.
32 Viện Ngôn ngữ học (2003), tlđd (02), tr 1055
21 nhanh chóng, chính xác, đặc biệt trong trường hợp trưng cầu giám định là cách duy nhất để làm sáng tỏ vụ án” 33
Hiện nay, pháp luật chưa định nghĩa rõ ràng về khái niệm "cần thiết", do đó, việc đánh giá yếu tố này hoàn toàn phụ thuộc vào nhận định của Thẩm phán Tác giả cho rằng, để xác định tính cần thiết, cần xem xét mối liên hệ giữa vấn đề giám định và vấn đề cần chứng minh Nội dung kết luận giám định phải có giá trị chứng minh, làm rõ các tình tiết cụ thể trong vụ việc dân sự Chẳng hạn, giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể là cơ sở xác định mức bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trong khi giám định ADN giúp giải quyết tranh chấp xác định cha cho con.
Quy định về thẩm quyền ra quyết định trưng cầu giám định của Tòa án trong trường hợp cần thiết nhưng không có yêu cầu từ đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành tương đồng với nhiều quy định pháp luật quốc tế.
Khoản 1 Điều 79 BLTTDS Liên bang Nga quy định: “Trong trường hợp phát sinh vấn đề cần kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, thủ công thì Tòa án trưng cầu giám định Việc giám định có thể do cơ quan giám định tư pháp, một hoặc nhiều người giám định khác thực hiện” 34 Điều 232 BLTTDS Pháp quy định: “Thẩm phán có thể ủy thác cho bất kỳ người nào do mình lựa chọn để giúp Thẩm phán làm sáng tỏ vụ việc thông qua việc xác nhận, tư vấn hoặc giám định về một vấn đề thực tiễn đòi hỏi phải có sự hiểu biết của chuyên gia” 35
Bản thuyết minh về dự án Bộ luật Tố tụng Dân sự của Tòa án nhân dân tối cao đã được công bố trên trang duthaoonline.quochoi.vn, cung cấp thông tin chi tiết về nội dung và mục tiêu của dự án Tài liệu này có thể được truy cập tại địa chỉ http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=365&TabIndex=2&TaiLieuID=34, và đã được xem vào ngày 23 tháng 4 năm 2020.
According to Article 79, Clause 1 of the Russian Civil Procedure Code, if any questions arise during the case proceedings that necessitate specialized knowledge in various scientific, technological, artistic, or craft fields, the court is required to appoint an expert This expertise can be provided by a legal expert agency, an individual expert, or a panel of experts.
According to Article 232 of the French Civil Procedure Code, judges have the authority to appoint individuals of their choosing to provide insights, consultations, or expert opinions on factual matters that necessitate specialized knowledge This provision underscores the importance of expert testimony in legal proceedings, ensuring that judges can make informed decisions based on comprehensive understanding For further details, refer to the official document available at Legifrance.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 151 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản, Tòa án có quyền đưa ra các quyết định nhằm làm rõ các vấn đề liên quan đến vụ kiện, bao gồm việc tiến hành thẩm định hoặc trưng cầu kết luận chuyên môn Ngoài ra, Điều 213 cũng quy định rằng một người giám định sẽ được Tòa án chỉ định để phụ trách vụ án, có thể là do một Thẩm phán được ủy quyền thực hiện.
BLTTDS 2015 của Việt Nam có sự tương đồng với các hệ thống pháp luật dân sự khác, đặc biệt trong việc thay đổi vai trò thu thập chứng cứ của Tòa án Trước đây, Tòa án chỉ quyết định trưng cầu giám định theo thỏa thuận của các bên, nhưng hiện nay, quyền này đã được mở rộng, cho phép Tòa án chủ động hơn trong việc hỗ trợ đương sự thu thập tài liệu chứng cứ Điều này không chỉ giúp giải quyết vụ việc dân sự một cách khách quan và chính xác hơn mà còn phản ánh sự khác biệt giữa hệ thống pháp luật dân sự, nơi Thẩm phán đóng vai trò chủ động trong việc chứng minh sự việc, và hệ thống pháp luật thông luật, trong đó các bên đương sự chịu trách nhiệm chính trong việc chứng minh.
Trong thực tiễn xét xử, nhiều vụ việc dân sự không được Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, mặc dù kết luận giám định đóng vai trò là nguồn chứng cứ quan trọng cho việc giải quyết vụ án.
Quyết định giám đốc thẩm số 102/2019/DS-GĐT ngày 07/5/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Tp Hồ Chí Minh đã xem xét vụ kiện của các nguyên đơn ông B, bà Huỳnh T, ông V, bà N đối với bị đơn bà Nguyễn T về việc yêu cầu trả nợ vay Các nguyên đơn đã cung cấp chứng cứ là đĩa ghi âm, ghi hình, trong đó cho rằng bà Nguyễn T đã thừa nhận nợ tiền vay của họ.
Yêu cầu giám định
1.4.1 Khái ni ệ m yêu c ầ u giám đị nh
Trong tố tụng dân sự, thuật ngữ "yêu cầu" được hiểu là việc một cá nhân nêu ra mong muốn với người khác, với ý định rằng người đó có trách nhiệm và khả năng thực hiện Cụ thể, yêu cầu giám định là hành động mà đương sự thể hiện ý chí muốn người giám định tiến hành công việc giám định, từ đó tạo ra cơ sở cho hoạt động giám định tư pháp diễn ra.
1.4.2 Ch ủ th ể yêu c ầ u giám đị nh Đối với yêu cầu giám định, đương sự có quyền tự mình yêu cầu giám định khi đã yêu cầu và Tòa án từ chối Quy định về yêu cầu giám định được ghi nhận lần đầu tiên trong BLTTDS 2015, qua đó thể hiện sự thống nhất với quy định của Luật GĐTP 2012 Trong quá trình thảo luận Dự thảo Luật GĐTP 2012, đa số ý kiến của Thường trực Ủy ban Tư pháp và cơ quan chủ trì soạn thảo cho rằng việc mở rộng quyền của đương sự được yêu cầu giám định để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong hoạt động tố tụng, bảo đảm quyền cung cấp chứng cứ của đương sự trong các vụ việc dân sự và vụ án hành chính là phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp 47 Theo đó, việc cho phép đương sự tự mình yêu cầu giám định đã tạo điều kiện thuận lợi cho phép cho đương sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp Tòa án từ chối không ra quyết định trưng cầu giám định Qua đó, thực hiện hiệu quả quyền và nghĩa vụ chủ động cung cấp chứng cứ, chứng minh theo quy định tại Điều 6 BLTTDS 2015, nhất là trong tình hình mà các vụ việc dân sự cần phải giám định ngày một gia tăng do sự đa dạng của các loại vụ việc và đối tượng giám định cũng như khả năng đáp ứng các lĩnh vực giám định kỹ thuật 48
Quyền yêu cầu giám định của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam có những điểm khác biệt so với pháp luật tố tụng dân sự của các nước theo hệ thống pháp luật dân sự Cụ thể, trong Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp, quy định “Mesure d’instruction” cho phép Tòa án thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ và điều tra bổ sung khi nhận thấy cần thiết để giải quyết vụ án, điều này xuất phát từ quy chế “ex officio”.
46 Viện Ngôn ngữ học (2003), tlđd (02), Nxb Đà Nẵng, tr 1169
47 Phiên họp ngày 16/4/2012 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc cho ý kiến về một số vấn đề còn nhiều tranh luận của dự thảo Luật GĐTP
Bài viết của Nguyễn Minh Hằng và Bùi Xuân Trường (2016) trong Tạp chí Kiểm sát số 07, trang 45, đề cập đến quy trình trưng cầu và yêu cầu giám định theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tác giả phân tích các điều khoản pháp lý liên quan, nhấn mạnh tầm quan trọng của giám định trong việc bảo đảm tính khách quan và công bằng trong các vụ án dân sự.
Trong Luật La Mã cổ đại, Tòa án được cho phép tự tiến hành điều tra trong các vụ án dân sự Tuy nhiên, theo Điều 263 của Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp, chỉ quy định quyền yêu cầu giám định của Thẩm phán mà không đề cập đến quyền này của đương sự.
Tương tự, tại khoản 2 Điều 79 BLTTDS Liên bang Nga cũng có quy định:
Đương sự và các bên liên quan có quyền đề xuất các vấn đề cần giải quyết trong quá trình giám định, nhưng quyết định cuối cùng thuộc về Tòa án Tòa án có quyền bác bỏ các đề xuất này và phải nêu rõ lý do khi từ chối Do đó, mặc dù đương sự có thể đề xuất nội dung giám định, quyền yêu cầu giám định của họ không được quy định.
Trong tố tụng dân sự, có sự khác biệt rõ rệt giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật của Pháp, Nga cũng như các quốc gia theo hệ thống pháp luật dân sự Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam chịu ảnh hưởng từ hệ thống pháp luật dân sự nhưng cũng tiếp thu một số yếu tố từ hệ thống pháp luật thông luật Theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đương sự giữ vai trò trung tâm trong việc thu thập và cung cấp chứng cứ, có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự yêu cầu nếu Tòa án từ chối Ngược lại, trong pháp luật của Pháp và Nga, quy định về việc đương sự tự thu thập chứng cứ rất hạn chế, cho thấy sự khác biệt trong cách tiếp cận giữa các hệ thống pháp luật này.
49 Tống Công Cường (2007), Luật tố tụng dân sự Việt Nam - Nghiên cứu so sánh, Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, tr 258
50 Điều 263 BLTTDS Pháp: “An expertise will not be ordered except in cases where the findings or the consultations were not able to enlighten the judge.”, tlđd (35), truy cập ngày 15/4/2020
According to Article 79, Section 2 of the Federal Civil Procedure Code of Russia, all parties involved in a case, as well as other participants, have the right to present questions to the court that require expert opinion The court is responsible for defining the specific questions for which an expert's conclusion is necessary Additionally, the court must provide justification if it decides not to accept the proposed questions.
52 Tống Công Cường (2007), tlđd (49), tr 259
31 quyền tự yêu cầu giám định của đương sự mà chỉ đề cập đến quyền yêu cầu, đề xuất Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, quyền tự yêu cầu giám định của đương sự chỉ được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm Quyền này giúp đương sự chủ động hơn trong việc thu thập chứng cứ, nhưng cũng yêu cầu đảm bảo không ảnh hưởng đến thời hạn và tiến độ giải quyết vụ việc dân sự cũng như quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan Việc Tòa án đánh giá chứng cứ và tính hợp pháp, liên quan của từng chứng cứ cần thời gian xem xét cẩn thận, bởi vì nó ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án Nếu đương sự có quyền tự yêu cầu giám định ở bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình tố tụng, sẽ gây khó khăn cho công tác đánh giá chứng cứ Do đó, pháp luật tố tụng dân sự đã quy định giới hạn thời gian mà đương sự có thể sử dụng quyền tự yêu cầu giám định nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ thể khác và đảm bảo tiến trình giải quyết vụ án.
Khi phát hiện đối tượng cần giám định sau khi vụ án đã được đưa ra xét xử sơ thẩm, đương sự có quyền đề nghị Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định Tòa án sẽ nghiên cứu và xem xét đề nghị này, đảm bảo quyền lợi cho các đương sự mà không làm ảnh hưởng đến thời gian và thủ tục tố tụng Quy định này khuyến khích đương sự chủ động thu thập chứng cứ, chứng minh, từ đó nâng cao hiệu quả của nguyên tắc cung cấp chứng cứ theo Điều 6 BLTTDS 2015.
1.4.3 Trình t ự , th ủ t ụ c yêu c ầ u giám đị nh
Trưng cầu giám định và yêu cầu giám định đều liên quan đến hoạt động giám định tư pháp trong tố tụng dân sự, nhưng chúng khác nhau về chủ thể thực hiện Sự khác biệt này dẫn đến quy trình và trình tự thực hiện cũng có những điểm khác nhau.
Thủ tục yêu cầu giám định và trưng cầu giám định có những điểm khác biệt quan trọng Trong trưng cầu giám định, Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng với quyền lực Nhà nước nhằm giải quyết tranh chấp và yêu cầu của đương sự trong vụ việc dân sự Ngược lại, yêu cầu giám định được thực hiện bởi đương sự, không mang quyền lực nhà nước, với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong vụ việc dân sự.
Trong tố tụng dân sự, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định Nếu Tòa án không chấp nhận, trong vòng 07 ngày, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho đương sự Sau thời hạn này hoặc khi nhận được thông báo từ chối, đương sự có quyền tự yêu cầu giám định theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Luật GĐTP 2012 Yêu cầu giám định của đương sự phải được thể hiện bằng văn bản, không bị giới hạn về hình thức, thường là đơn yêu cầu hoặc đơn đề nghị Theo khoản 2 Điều 26 Luật GĐTP 2012, văn bản yêu cầu giám định cần có các thông tin như tên tổ chức hoặc cá nhân yêu cầu, nội dung yêu cầu, tên và đặc điểm đối tượng giám định, tài liệu liên quan, ngày tháng yêu cầu, và thời hạn trả kết luận giám định Thời hạn trả kết luận giám định được thỏa thuận giữa người yêu cầu và tổ chức thực hiện giám định, khác với thời hạn do Tòa án ấn định trong quyết định trưng cầu giám định.
Để tiến hành giám định, văn bản yêu cầu cần được gửi kèm theo đối tượng giám định cùng các tài liệu và đồ vật liên quan Đồng thời, đương sự phải cung cấp bản sao chứng minh mình là bên liên quan trong vụ việc dân sự hoặc là người đại diện hợp pháp.
Thời hạn giám định
Hiện tại, pháp luật về tố tụng dân sự và giám định tư pháp chưa quy định rõ ràng về thời hạn giám định trong tố tụng dân sự Luật Giám định tư pháp năm 2012 chỉ nêu rõ nghĩa vụ của người giám định trong việc thực hiện và trả kết luận giám định đúng theo thời hạn yêu cầu.
55 Điểm a khoản 2 Điều 22 Luật GĐTP 2012
Theo quy định tại Điều 23 Luật Giám định tư pháp 2012, Tòa án có quyền yêu cầu người giám định cung cấp kết luận đúng thời hạn trong quyết định trưng cầu giám định Đồng thời, đương sự cũng có quyền yêu cầu người giám định thực hiện kết luận theo thời hạn đã thỏa thuận Pháp luật giám định tư pháp hiện nay quy định thời hạn giám định theo hướng linh hoạt, phụ thuộc vào quyết định của Tòa án hoặc sự thỏa thuận giữa các bên liên quan Điều này dẫn đến việc thời hạn giám định có thể khác nhau tùy thuộc vào chủ thể trưng cầu, yêu cầu, và nội dung cần giám định, ngay cả khi đối tượng giám định là giống nhau.
Luật Giám định tư pháp 2012 không quy định thời hạn giám định, dẫn đến việc thiếu cơ sở pháp lý để ràng buộc thời gian trả lời kết luận giám định Điều này khiến cho công tác giám định thường bị chậm trễ, kéo dài, gây khó khăn trong việc giải quyết vụ việc và không đảm bảo thời hạn tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng nói chung và tố tụng dân sự nói riêng.
Chính vì vậy, một trong những vấn đề trọng tâm trong quá trình xây dựng
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Giám định tư pháp 2012 cần bổ sung quy định nguyên tắc về thời hạn giám định và trách nhiệm của các Bộ, ngành chuyên quản trong việc ấn định thời hạn cụ thể cho từng loại giám định Điều này nhằm đảm bảo tính đồng bộ và tương thích với quy định của pháp luật tố tụng, khắc phục tình trạng chậm trễ trong quá trình tiếp nhận và thực hiện giám định Mặc dù hoạt động giám định trong các lĩnh vực tố tụng dân sự, hình sự và hành chính đều chịu sự điều chỉnh của Luật Giám định tư pháp 2012, nhưng thời hạn và quy trình giám định giữa các lĩnh vực này không giống nhau, do đó quy định về thời hạn giám định chỉ có thể mang tính nguyên tắc và định hướng.
57 Vũ Quốc Thắng (2016), “Một số ý kiến qua công tác giám định của lực lượng công an”, Tạp chí
Dân chủ & Pháp luật, số chuyên đề 06, tr 28
Báo cáo số 32/BC-BTP ngày 31/01/2019 của Bộ Tư pháp tổng kết việc thi hành Luật Giám định tư pháp năm 2012, cung cấp cái nhìn tổng quát về kết quả và những thách thức trong quá trình thực hiện luật này Để tìm hiểu chi tiết, bạn có thể truy cập vào đường link: http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=1&TabIndex=2&TaiLieuID716, truy cập ngày 23/4/2020.
34 thời hạn tối đa nhằm áp dụng cho tất cả lĩnh vực tố tụng (bao gồm cả tố tụng hình sự và tố tụng hành chính)
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Giám định tư pháp 2012 đã bổ sung Điều 26a, quy định thời hạn giám định tối đa là 03 tháng, và có thể kéo dài đến 04 tháng trong trường hợp phức tạp Các cơ quan quản lý cần quy định thời hạn cụ thể cho từng loại việc dựa trên tính chất chuyên môn Thời hạn giám định có thể được gia hạn theo quyết định của Tòa án nhưng không vượt quá 1/2 thời hạn tối đa Người trưng cầu giám định có thể thống nhất về thời hạn nhưng không được vượt quá quy định Mục tiêu của quy định này là giới hạn thời gian giám định, xác định thời hạn cụ thể cho từng lĩnh vực, nhằm giải quyết nhanh chóng các vụ việc dân sự Một số đại biểu Quốc hội cho rằng thời hạn giám định này không hợp lý vì dài hơn thời hạn tố tụng trong BLTTDS 2015, nhưng tác giả không đồng ý, cho rằng quy định 03 tháng không ảnh hưởng đến thời hạn tố tụng, đặc biệt là thời gian chuẩn bị.
59 “Cần quy định cụ thể thời hạn giám định”, https://baophapluat.vn/tu-van-365/can-quy-dinh-cu- the-thoi-han-giam-dinh-tu-phap-494996.html, truy cập ngày 14/5/2020
35 xét xử (Điều 203 BLTTDS 2015) và chuẩn bị xét đơn yêu cầu (Điều 366 BLTTDS
Theo quy định tại Điều 26 và Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thời hạn giám định trong các vụ án phải ngắn hơn thời hạn chuẩn bị xét xử, không vượt quá 04 tháng và có thể được gia hạn thêm tối đa 02 tháng.
Theo Điều 30 và Điều 32 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thời hạn giám định trong các vụ án được quy định bằng thời hạn chuẩn bị xét xử tối đa là 02 tháng, có thể gia hạn thêm 01 tháng.
Thời hạn giám định trong việc xét đơn yêu cầu là không quá 01 tháng, có thể gia hạn thêm 01 tháng Việc giải quyết dân sự thường đơn giản hơn vụ án dân sự do không phát sinh tranh chấp, nên giám định có thể thực hiện nhanh chóng và ít trở ngại Dự thảo quy định rằng Tòa án và đương sự có thể thống nhất thời hạn giám định với tổ chức, cá nhân giám định, nhưng không vượt quá thời gian tối đa quy định, giúp Tòa án và đương sự chủ động và linh hoạt trong việc đưa ra thời hạn giám định phù hợp với thời gian chuẩn bị xét xử.
Thời hạn chuẩn bị xét xử và xét đơn yêu cầu là khoảng thời gian quan trọng để Tòa án và các đương sự thu thập, đánh giá chứng cứ và chuẩn bị thủ tục Nếu hoạt động giám định không hoàn thành trong thời gian này, Tòa án sẽ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại Điều 214 BLTTDS 2015, nhằm chờ kết quả ủy thác tư pháp hoặc tài liệu từ cơ quan, tổ chức Việc quy định thời hạn giám định tối đa sẽ giúp rút ngắn thời gian tạm đình chỉ, khắc phục tình trạng chậm trễ và đảm bảo giải quyết nhanh chóng vụ việc dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
Quy định tại Điều 361 BLTTDS 2015 nêu rõ rằng các quy định này cũng áp dụng cho việc dân sự Nếu phần này không có quy định cụ thể, thì sẽ áp dụng những quy định khác của Bộ luật này để giải quyết các vấn đề dân sự.
Kết luận giám định
Kết luận giám định tư pháp là văn bản nhận xét và đánh giá của người giám định về đối tượng theo yêu cầu giám định Để kết luận này trở thành chứng cứ trong vụ việc dân sự, quá trình giám định phải tuân thủ đúng các thủ tục pháp luật quy định Điều này có nghĩa là tất cả các giai đoạn từ trưng cầu, yêu cầu giám định, thực hiện giám định cho đến việc trả kết luận đều phải được thực hiện theo trình tự và thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật giám định tư pháp quy định.
Nếu giám định không tuân thủ trình tự và thủ tục pháp luật, kết luận giám định sẽ không được coi là chứng cứ hợp lệ, mà chỉ được xem là tài liệu tham khảo, như đã nêu trong Bản án số 36/2018/HNGĐ.
Vào ngày 08/11/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã có phán quyết về tranh chấp xác định con cho mẹ, trong đó Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định rằng kết quả giám định ADN ngày 08/5/2018 từ Trung tâm xét nghiệm Logi ADN chỉ là một trong những tài liệu tham khảo Điều này là do kết quả xét nghiệm chưa được thực hiện theo trình tự và thủ tục pháp luật quy định, vì nó được thực hiện theo yêu cầu cá nhân và tự thu thập mẫu.
Theo khoản 1 Điều 32 Luật GĐTP 2012, kết luận giám định cần có các thông tin quan trọng để đảm bảo tính thống nhất và chính xác, bao gồm: họ tên người thực hiện giám định, tổ chức thực hiện giám định, tên cơ quan tiến hành tố tụng, họ tên người yêu cầu giám định, số văn bản trưng cầu, thông tin xác định đối tượng giám định, thời gian nhận văn bản, nội dung yêu cầu, phương pháp thực hiện, kết luận về đối tượng giám định, và thời gian, địa điểm thực hiện giám định Những thông tin này là căn cứ để Tòa án xem xét giá trị chứng minh của kết luận giám định đối với sự thật khách quan của vụ việc Khoản 2 Điều 32 cũng quy định cụ thể về việc ký tên vào kết luận giám định.
37 giám định nhằm xác định cá nhân chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung chuyên môn và hình thức của kết luận giám định
Việc không tuân thủ quy định pháp luật trong hoạt động giám định sẽ khiến kết luận giám định mất giá trị pháp lý và không thể sử dụng làm chứng cứ trong tố tụng dân sự Chẳng hạn, trong một vụ án cụ thể, nếu các bên liên quan không thực hiện đúng quy trình giám định, kết quả sẽ không được công nhận trong quá trình xét xử.
Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa ông Đ và ông S đã trải qua 03 cấp xét xử, với 06 kết luận giám định về chữ ký và tuổi mực của giấy vay tiền Bản kết luận giám định số 2125/C54-P5 ngày 02/01/2014 của Hội đồng giám định thuộc Viện khoa học hình sự, do Tòa án cấp sơ thẩm trưng cầu, đã được ban hành sau Quyết định số 5406/QĐ-BCA-C41 của Bộ trưởng Bộ Công an Theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Luật GĐTP 2012, người quyết định thành lập Hội đồng phải ký và đóng dấu vào bản kết luận giám định, nhưng Bản kết luận này lại do Viện trưởng ký, dẫn đến việc không có giá trị pháp lý.
Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam đặc biệt chú trọng đến trình tự và thủ tục giám định, cũng như hình thức trình bày kết luận giám định Điều này được quy định khác nhau ở các quốc gia, ví dụ như Điều 215 BLTTDS Nhật Bản cho phép thẩm phán quyết định hình thức trình bày kết quả giám định, có thể là bằng lời nói hoặc bằng văn bản, tùy thuộc vào sự xem xét của thẩm phán.
Theo Điều 282 BLTTDS Pháp, nếu không yêu cầu giải thích bằng văn bản, Thẩm phán có thể cho phép người giám định trình bày bằng lời nói tại phiên tòa, và nội dung này sẽ được ghi vào biên bản Tuy nhiên, biên bản có thể được thay thế bằng tài liệu tham khảo trong bản án nếu được đánh giá là phương án cuối cùng Trong các trường hợp khác, người giám định cần gửi biên bản cho văn phòng thư.
63 Thái Văn Đoàn, “Vấn đề đánh giá chứng cứ trong án dân sự”, https://vksndcc2.gov.vn/index.php?act=news&viewf4, truy cập ngày 29/4/2020
64 Điều 215 BLTTDS Nhật Bản: “The presiding judge may have an expert witness state his/her opinions in writing or orally.”, tlđd (36), truy cập ngày 15/4/2020
Theo Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp, kết quả giám định thường được ghi nhận bằng biên bản gửi đến văn phòng thư ký Tòa án Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người giám định không cần phải giải thích bằng văn bản và có thể trình bày trực tiếp tại phiên tòa Lời trình bày này sẽ được ghi vào biên bản phiên tòa hoặc có thể được thay thế bằng tài liệu tham khảo.
Hay trong BLTTDS của Liên bang Nga, tại khoản 1 Điều 86 có quy định tương tự BLTTDS của Việt Nam: “Người giám định phải nộp báo cáo bằng văn bản.” 66
Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, kết luận giám định đóng vai trò quan trọng, cần trình bày rõ ràng và khoa học để đáp ứng yêu cầu của Tòa án Tuy nhiên, nhiều kết luận hiện nay chưa thể hiện rõ ý kiến của người giám định, dẫn đến khó hiểu cho các bên liên quan Do đó, nội dung kết luận cần phải đầy đủ, chính xác và dễ hiểu, phản ánh đúng quá trình nhận thức của người giám định Để nâng cao chất lượng giám định tư pháp, cần chú trọng bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ giám định viên trong tương lai.
According to Article 282 of the French Code of Civil Procedure, if a judge deems that an expert's opinion does not require written clarification, the expert may present their findings orally during the hearing, which will be documented in the minutes In cases where a final decision is made ex tempore, the minutes can be referenced in the judgment instead of being drafted However, in other situations, the expert is obligated to submit the minutes to the court clerk's office.
66 Khoản 1 Điều 86 BLTTDS Liên bang Nga: “The expert shall submit his report in writing.”, tlđd
67 Vũ Quốc Thắng (2016), tlđd (57), tr 27 - 28
68 Tưởng Duy Lượng (2007), “Bàn về giám định tư pháp trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 05, tr 29
39 cao chất lượng truyền tải của kết luận giám định cũng như hiệu quả của hoạt động giám định trong tố tụng dân sự
Mặc dù bản kết luận giám định thường được trình bày rõ ràng, nhưng nhiều người sử dụng vẫn chưa biết cách khai thác hiệu quả thông tin Không phải ai cũng nắm vững kiến thức chuyên môn và phương pháp khoa học trong các kết luận này Do đó, việc nâng cao kỹ năng nghiệp vụ và kiến thức cơ bản về giám định cho Thẩm phán và Hội thẩm là rất cần thiết Điều này giúp họ đánh giá chính xác các vấn đề chuyên môn và yêu cầu người giám định giải thích khi cần thiết, từ đó xác định đúng giá trị chứng minh và góp phần giải quyết vụ việc dân sự một cách chính xác.
Giám định bổ sung, giám định lại
Trong quá trình đánh giá kết luận giám định, nếu Tòa án hoặc các bên liên quan phát hiện những bất cập, sai sót hoặc thông tin còn nhiều nghi vấn trong kết luận giám định ban đầu, họ sẽ tiến hành giám định bổ sung hoặc thực hiện giám định lại.
Giám định bổ sung được thực hiện khi kết luận giám định trước đó chưa rõ ràng hoặc có vấn đề mới phát sinh liên quan đến vụ việc Tòa án có quyền quyết định trưng cầu giám định bổ sung theo yêu cầu của đương sự hoặc khi thấy cần thiết Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng Dân sự chỉ quy định về quyền yêu cầu trưng cầu giám định bổ sung của Tòa án và đương sự mà không đề cập đến quyền tự yêu cầu giám định bổ sung của đương sự Điều này đặt ra câu hỏi: nếu đương sự cho rằng kết luận giám định chưa đủ rõ ràng và đề nghị Tòa án thực hiện giám định bổ sung nhưng bị từ chối, liệu họ có quyền tự yêu cầu giám định bổ sung hay không?
Tại khoản 1 Điều 29 Luật GĐTP 2012 “Việc trưng cầu, yêu cầu giám định bổ sung được thực hiện như giám định lần đầu” Với quy định này, có thể hiểu
69 Tưởng Duy Lượng (2007), ttđd (68), tr 30
70 Khoản 1 Điều 20 Luật GĐTP 2012, khoản 4 Điều 102 BLTTDS 2015
72 Lê Văn Sua, tlđd (41), tr 08
Theo Điều 40 của Luật Giám định tư pháp, các bên đương sự có quyền yêu cầu giám định bổ sung tương tự như yêu cầu giám định lần đầu Điều này có nghĩa là, nếu Tòa án không chấp nhận đề nghị trưng cầu giám định bổ sung, đương sự vẫn có quyền tự mình thực hiện yêu cầu này Thêm vào đó, khoản 1 Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cũng quy định rõ về quyền này.
Quyền tự yêu cầu giám định là một bước quan trọng trước khi Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm và mở phiên họp giải quyết việc dân sự.
Quyền tự yêu cầu giám định bổ sung của đương sự chỉ được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm hoặc quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự.
BLTTDS và Luật GĐTP cần có quy định thống nhất về quyền yêu cầu giám định bổ sung trong tố tụng dân sự, nhằm bảo vệ quyền lợi của đương sự Tác giả đề xuất rằng BLTTDS nên khẳng định rõ ràng quyền này của đương sự trước khi Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, cũng như trước khi mở phiên họp giải quyết việc dân sự Việc này không chỉ đảm bảo tính hợp pháp trong trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc mà còn bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.
Giám định lại được thực hiện khi có lý do cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác, hoặc theo quyết định của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo quy định của Luật Giám định tư pháp Tòa án có quyền quyết định việc trưng cầu giám định lại, hoặc theo đề nghị của đương sự Nếu Tòa án không chấp nhận yêu cầu giám định, phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do Trong trường hợp có sự khác biệt giữa kết luận giám định lần đầu và giám định lại, việc giám định lại lần thứ hai sẽ do người trưng cầu quyết định và phải được thực hiện bởi Hội đồng giám định.
Trong quá trình xét xử, có thể xảy ra tình huống một vụ việc có nhiều kết luận giám định khác nhau, mặc dù nội dung và đối tượng giám định là giống nhau Điều này có thể dẫn đến sự mâu thuẫn trong các kết quả giám định, ảnh hưởng đến tính chính xác và khách quan của quá trình xét xử.
Trong vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa ông Đ và ông S, việc đánh giá các kết luận giám định trở nên khó khăn do sự khác biệt rõ rệt giữa các bản kết luận Cụ thể, trong tổng số 06 bản kết luận giám định, chỉ có 05 bản có giá trị, trong đó 02 bản xác định chữ ký trong giấy vay tiền là của ông S, trong khi 02 bản còn lại khẳng định chữ ký không phải của ông S Điều này tạo ra sự mâu thuẫn và làm phức tạp thêm quá trình xét xử của vụ án.
Trong vụ án này, các kết luận giám định về chữ ký của ông S có sự mâu thuẫn, đòi hỏi việc đánh giá phải được thực hiện cẩn thận Kết quả đánh giá sẽ quyết định việc lựa chọn một trong các kết luận giám định làm căn cứ chứng minh sự thật khách quan, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giải quyết vụ án dân sự.
Khi có nhiều kết luận giám định có kết quả khác nhau về cùng một đối tượng, có thể thực hiện một số biện pháp sau:
Tòa án yêu cầu các giám định viên giải thích rõ ràng các kết luận giám định, đồng thời có thể triệu tập những giám định viên đưa ra kết luận khác nhau để trình bày tại phiên tòa Việc này nhằm làm rõ quy trình, phương pháp khoa học và kết quả giám định, cũng như tạo điều kiện cho việc tranh luận khoa học về các vấn đề mâu thuẫn Qua đó, tòa án có thể đánh giá các kết luận giám định một cách khách quan và chính xác.
Trong pháp luật tố tụng dân sự của một số quốc gia, có quy định về việc triệu tập người giám định đến phiên tòa để giải thích kết luận giám định Cụ thể, theo Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản, Tòa án có thể cho phép người giám định trình bày ý kiến bằng lời nói và sau đó sẽ tiến hành đặt câu hỏi cho họ Việc hỏi đáp sẽ được thực hiện theo thứ tự từ thẩm phán chủ tọa, bên yêu cầu giám định đến bên còn lại Điều này cho thấy Tòa án và đương sự có quyền đặt câu hỏi về kết quả giám định tại phiên tòa khi có thắc mắc.
76 Thái Văn Đoàn, tlđd (63), truy cập ngày 02/5/2020
According to Article 215-2 of the Japanese Civil Procedure Code, when an expert witness presents their opinions orally in court, the court is permitted to ask questions following the expert's statement The questioning process is structured to be conducted sequentially by the presiding judge, the party that requested the expert's testimony, and then the opposing party.
Điều 282 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) Pháp quy định rằng nếu biên bản chưa làm rõ vấn đề cần tìm hiểu, Thẩm phán có thể triệu tập chuyên gia hoặc các bên liên quan để nghe giải thích ý kiến của họ.
Trong trường hợp các kết quả giám định mâu thuẫn, Tòa án sẽ gặp khó khăn trong việc đánh giá tính đúng đắn và khách quan của các kết luận giám định do tính chất đặc thù của ngành khoa học này Giám định yêu cầu kiến thức chuyên môn cao và phương pháp khoa học chính xác Vì vậy, khi có sự xung đột giữa các kết luận, việc tham khảo ý kiến chuyên gia là cần thiết để xem xét phương pháp giám định và cơ sở khoa học của từng kết luận.
Trưng cầu giám định chứng cứ bị tố cáo là giả mạo
Trong vụ việc dân sự, chứng cứ chủ yếu do đương sự thu thập và nộp cho Tòa án, tuy nhiên, những chứng cứ này có thể bị nghi ngờ về tính xác thực, đặc biệt từ các bên có quyền lợi đối lập Để giải quyết vấn đề này, Điều 103 BLTTDS 2015 quy định về việc trưng cầu giám định chứng cứ nghi ngờ giả mạo, cho phép đương sự rút lại chứng cứ đó nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí Nếu đương sự không rút lại, người tố cáo có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định theo Điều 102 BLTTDS 2015 Nếu chứng cứ được xác định là giả mạo, đương sự trình chứng cứ sẽ phải chịu hậu quả, bao gồm việc chuyển hồ sơ đến cơ quan điều tra nếu có dấu hiệu tội phạm, bồi thường thiệt hại cho người bị hại và chịu chi phí giám định nếu Tòa án quyết định trưng cầu.
Trong thực tiễn xét xử, Tòa án có vai trò hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ, và khi có nghi ngờ về tính xác thực của chứng cứ, Tòa án thường ra quyết định trưng cầu giám định Ví dụ, trong Bản án số 01/2018/DS-ST ngày 23/01/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, bị đơn T đã cáo buộc file ghi âm do nguyên đơn H cung cấp bị cắt ghép Tòa án đã tiến hành giám định và xác định file ghi âm là liên tục, không bị chỉnh sửa.
Nếu đương sự hoặc người tố cáo rút yêu cầu giám định, Tòa án sẽ không tiến hành trưng cầu giám định, điều này giúp bảo đảm quyền tự quyết và sự chủ động của đương sự trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự.
81 Học viện Tư pháp (2014), Giáo trình Kỹ năng giải quyết vụ việc dân sự, Phan Hữu Thư - Lê Thu
Hà, Nxb Lao động, tr 127
Trong Bản án số 07/2019/DS-PT ngày 26/3/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, liên quan đến tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa anh Nguyễn Xuân C và bị đơn P, anh C đã có đơn kháng cáo yêu cầu giám định lại đoạn ghi âm gốc Sau khi thụ lý phúc thẩm, Tòa án đã thông báo yêu cầu nộp tiền tạm ứng chi phí giám định theo Điều 160 Bộ luật tố tụng dân sự Tuy nhiên, anh C đã đề nghị không thực hiện giám định, dẫn đến việc Tòa án không tiến hành thủ tục trưng cầu giám định đoạn ghi âm làm chứng cứ trong hồ sơ vụ án.
Nghiên cứu pháp luật nước ngoài cho thấy, trong Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) của một số quốc gia, có quy định về việc trưng cầu giám định chứng cứ bị tố giả mạo Cụ thể, BLTTDS Liên bang Nga chủ yếu tập trung vào việc xác minh tính xác thực của chữ ký trong các tài liệu, trong khi các loại chứng cứ khác như file ghi âm hay hình ảnh lại không được đề cập Theo khoản 1 Điều 81, nếu có nghi ngờ về tính xác thực của chữ ký, Tòa án có quyền yêu cầu lấy mẫu chữ viết tay của người có chữ ký để tiến hành nghiên cứu và so sánh, đồng thời sẽ ra quyết định thu thập các mẫu này.
Theo quy định từ Điều 287 đến Điều 298 trong Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp, có hướng dẫn cụ thể về thẩm quyền và trình tự kiểm tra, xác minh chữ viết tay Điều này áp dụng khi một bên phủ nhận chữ viết tay là của mình hoặc không công nhận chữ viết của một cá nhân khác Tranh chấp liên quan có thể được xem như một vụ kiện chính hoặc vụ kiện phụ.
Chi phí giám định
Tiền tạm ứng chi phí giám định là khoản tiền mà người giám định ước tính cần thiết để thực hiện giám định, dựa trên quyết định của Tòa án hoặc theo yêu cầu của các bên liên quan.
According to Article 81, Section 1 of the Civil Procedure Code of the Russian Federation, if there is a question regarding the authenticity of a signature on a document, the court is authorized to request handwriting samples from the individual whose signature is in dispute for comparative analysis The court must issue a ruling to determine the necessity of obtaining these handwriting samples.
Chi phí giám định là khoản tiền hợp lý cần chi trả cho quá trình giám định, được xác định bởi người giám định dựa trên các quy định pháp luật hiện hành.
Chi phí giám định được xác định dựa trên tính chất của đối tượng và nội dung giám định, bao gồm các khoản như tiền lương và thù lao cho người thực hiện giám định, chi phí vật tư tiêu hao, chi phí sử dụng dịch vụ, chi phí khấu hao máy móc, thiết bị, cùng các chi phí khác theo quy định của pháp luật.
Nếu các bên không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không quy định khác, nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí giám định và nghĩa vụ chịu chi phí giám định sẽ được xác định theo Điều 160 và Điều 161 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Chi phí giám định đóng vai trò quan trọng trong việc chi trả thù lao cho người giám định và bù đắp các khoản chi phí liên quan Khi Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, cần xác định rõ ai là chủ thể có nghĩa vụ nộp chi phí giám định, thường thuộc về người có lỗi trong quá trình giám định theo Điều 161 BLTTDS 2015 Nghĩa vụ này không chỉ đảm bảo quyền và nghĩa vụ tố tụng của các đương sự mà còn ngăn chặn việc lạm dụng quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định, từ đó hỗ trợ Tòa án trong việc giải quyết vụ việc một cách hiệu quả.
Trong trường hợp Tòa án trưng cầu giám định mà không có yêu cầu từ đương sự, quy định về việc ai sẽ chi trả chi phí giám định vẫn chưa được xác định rõ Theo Khoản 2 Điều 160 BLTTDS 2015, nguyên đơn và các bên liên quan phải nộp tiền tạm ứng chi phí giám định khi Tòa án quyết định trưng cầu Tuy nhiên, Điều 161 BLTTDS 2015 lại không nêu rõ người chi trả trong tình huống này Nếu dựa vào Điều 36 Luật GĐTP 2012, người yêu cầu giám định tư pháp sẽ phải chi trả, tức là Tòa án phải gánh chịu chi phí Điều này không hợp lý, vì Tòa án không thể tự bỏ chi phí giám định để giải quyết tranh chấp giữa các bên.
85 Điều 9 Pháp lệnh số 02/2012/UBTVQH13 về Chi phí giám định, định giá; Chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch trong tố tụng
86 Trường Đại học Luật Hà Nội, tlđd (26), tr 230
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, trong trường hợp Tòa án yêu cầu giám định, bên chịu kết quả bất lợi từ kết luận giám định sẽ phải chịu chi phí giám định Cụ thể, nếu kết luận giám định xác nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, thì bị đơn sẽ phải thanh toán chi phí giám định.
Rất tiếc, không tìm thấy trang này.
Hoạt động giám định trong tố tụng dân sự ngày càng trở nên quan trọng trong việc thu thập chứng cứ, bảo vệ quyền lợi của đương sự và hỗ trợ Tòa án giải quyết vụ việc một cách công bằng và khách quan Tuy nhiên, do thiếu hướng dẫn cụ thể, hoạt động này gặp nhiều khó khăn, như việc Tòa án không thể trưng cầu giám định do sự không hợp tác của đương sự, dẫn đến nhiều vụ án không có quyết định trưng cầu giám định, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của đương sự và làm cho một số vụ án phải trải qua nhiều cấp xét xử.
Trong thực tiễn xét xử, nhiều vấn đề vướng mắc vẫn phát sinh khi một vụ việc dân sự có nhiều kết luận giám định mâu thuẫn về cùng một đối tượng và nội dung cần giám định.
Theo tác giả, cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về giám định trong tố tụng dân sự, bao gồm cơ chế giải quyết khi đương sự không hợp tác, quy định chi phí giám định khi Tòa án yêu cầu, và cách đánh giá khi có nhiều kết luận giám định mâu thuẫn Việc này nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giám định trong tố tụng dân sự.