1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trưng cầu giám định trong tố tụng hình sự lý luận và thực tiễn

77 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trưng Cầu Giám Định Trong Tố Tụng Hình Sự Lý Luận Và Thực Tiễn
Tác giả Nguyễn Vũ Hòa
Người hướng dẫn TS. Võ Thị Kim Oanh
Trường học Trường Đại Học Luật Tp.Hcm
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Thể loại Khóa Luận Cử Nhân Luật
Năm xuất bản 2013
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,66 MB

Cấu trúc

  • 1.1 Khái niệm chung trưng cầu giám định (0)
    • 1.1.1 Định nghĩa trưng cầu giám định (9)
    • 1.1.2 Đặc điểm của trưng cầu giámđịnh (10)
    • 1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của hoạt động trưng cầu giám định (16)
  • 1.2 Các nguyên tắc của hoạt động trưng cầu giám định trong tố tụng hình sự….11 (18)
    • 1.2.1 Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa (18)
    • 1.2.2 Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (20)
    • 1.2.3 Nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của những người tiến hành hoặc những người (21)
  • 1.3 Lược sử hình thành và phát triển các quy định về trưng cầu giám định từ năm 1945 đến trước 2003 (23)
    • 1.3.1 Các quy định của pháp luật về trưng cầu giám định giai đoạn 1945 – 1975….16 (23)
    • 1.3.2 Các quy định của pháp luật về trưng cầu giám định 1975 đến trước 2003… (25)
  • CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH VỀ TRƯNG CẦU GIÁM ĐỊNH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ (9)
    • 2.1 Pháp luật thực định về thẩm quyền trưng cầu giám định (27)
      • 2.1.1 Cơ quan có quyền ra quyết định trưng cầu giám định (27)
      • 2.1.2 Nội dung quyết định trưng cầu giám định (32)
    • 2.2 Pháp luật thực định về chủ thể được trưng cầu giám định (0)
    • 2.3 Pháp luật thực định về các trường hợp phải trưng cầu giám định (37)
    • 2.4 Pháp luật thực định về nội dung kết luận giám định (44)
  • CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM ĐỊNH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ (27)
    • 3.1 Thực tiễn thực hiện hoạt động trưng cầu giám định (48)
      • 3.1.1 Về tổ chức, người giám định (49)
      • 3.1.2 Về thời hạn trong trưng cầu giám định (52)
      • 3.1.3 Về cơ chế giải quyết mâu thuẫn trong kết luận giám định và quyền giám định lại của bị can, những người tham gia tố tụng khác (0)
      • 3.1.4 Về cơ chế hoạt động của Viện kiểm sát trong trưng cầu giám định (60)
    • 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám định trong tố tụng hình sự (63)
      • 3.2.1 Giải pháp về mặt pháp luật (63)
      • 3.2.2 Các giải pháp khác (67)

Nội dung

Khái niệm chung trưng cầu giám định

Định nghĩa trưng cầu giám định

Trưng cầu giám định (TCGĐ) là một thuật ngữ chuyên ngành trong Luật học, chủ yếu xuất hiện trong hoạt động điều tra của Tố tụng hình sự (TTHS) Do không phải là thuật ngữ phổ biến trong đời sống hàng ngày, TCGĐ có thể gây nhầm lẫn và khó hiểu cho người tiếp cận Việc cung cấp định nghĩa sơ bộ về TCGĐ sẽ giúp người đọc dễ dàng nắm bắt và hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Giám định được định nghĩa là quá trình nhận xét sự việc và đưa ra quyết định, trong khi trưng cầu có nghĩa là mời ai đó đến để hỏi ý kiến.

Giám định, theo "Từ điển Tiếng Việt" của Nhà xuất bản Thanh niên, được định nghĩa là việc xem xét một sự vật hay sự việc mà cơ quan nhà nước cần tìm hiểu và xác định Trong khi đó, trưng cầu có nghĩa là hỏi ý kiến của một nhóm đông người có tổ chức.

Giám định được định nghĩa là quá trình kiểm tra bằng phương pháp nghiệp vụ nhằm đưa ra kết luận cụ thể Trong khi đó, trưng cầu là hành động tổ chức hỏi ý kiến của số đông một cách có hệ thống.

TCGĐ, hay Trưng cầu giám định, không phải là thuật ngữ phổ biến trong đời sống hàng ngày, vì vậy nó thường không xuất hiện trong các từ điển, chỉ có các khái niệm như “Giám định” và “Trưng cầu” Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án, việc áp dụng TCGĐ đóng vai trò quan trọng trong việc làm rõ các chứng cứ và thông tin liên quan.

Khi phát sinh các vấn đề vướng mắc liên quan đến kiến thức chuyên môn, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ nhờ đến sự hỗ trợ của cá nhân và tổ chức trong lĩnh vực đó để xem xét và đánh giá Bản chất của giám định là việc áp dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật và nghiệp vụ nhằm đưa ra kết luận chuyên môn về các vấn đề liên quan theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân.

Theo Luật Giám định tư pháp 2012, giám định tư pháp là hoạt động mà người giám định sử dụng kiến thức và phương pháp khoa học để đưa ra kết luận liên quan đến điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Cần phân biệt giữa giám định tư pháp và giám định với TCGĐ, mặc dù chúng có mối liên hệ trong việc thu thập chứng cứ Trong vụ án hình sự, giám định chỉ được thực hiện khi có yêu cầu hợp pháp từ cơ quan có thẩm quyền Do đó, trưng cầu giám định trong tố tụng hình sự là một phần của hoạt động điều tra, được thực hiện theo quy trình của Bộ luật TTHS, nhằm xác lập và củng cố tài liệu chứng cứ phục vụ cho việc điều tra và xử lý án hình sự.

Đặc điểm của trưng cầu giámđịnh

Thứ nhất, trưng cầu giám định về bản chất là hoạt động thu thập chứng cứ

Chứng cứ là những tài liệu thực tế được thu thập theo quy trình nhất định bởi các cơ quan có thẩm quyền, giúp phát hiện và xác định tội phạm một cách nhanh chóng Theo quan điểm của Mác - Lênin, mọi vật chất đều có đặc tính phản ánh, điều này cho thấy sự tồn tại khách quan của các hiện tượng trong thế giới vật chất Triết học Mác - Lênin nhấn mạnh khả năng nhận thức của con người, từ cảm tính đến lý tính, từ không biết đến biết, phản ánh quá trình nhận thức diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau.

Việc các cơ quan THTT chưa kịp thời nhận thức đầy đủ về các vấn đề trong vụ án là điều dễ hiểu Do đó, pháp luật quy định quyền TCGĐ cho các cơ quan này, đây là một biện pháp quan trọng trong việc tìm kiếm chứng cứ hiệu quả Sự kết hợp giữa nhận thức chuyên môn và thiết bị hiện đại sẽ giúp làm sáng tỏ mọi sự thật Theo Khoản 2 Điều 64 BLTTHS, chứng cứ được xác định qua vật chứng, lời khai của các bên liên quan, kết luận giám định, biên bản điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.

Kết quả cuối cùng của hoạt động trưng cầu giám định (TCGĐ) là bản kết luận giám định (KLGĐ), đóng vai trò là nguồn chứng cứ quan trọng phản ánh chính xác các tình tiết mấu chốt của vụ án Trong quá trình tố tụng, TCGĐ có thể được thực hiện trước khi khởi tố vụ án, nhằm thu thập và kiểm tra chứng cứ, từ đó làm cơ sở cho các quyết định pháp lý Ở giai đoạn điều tra, hoạt động này trở nên cần thiết để hỗ trợ các cơ quan tố tụng trong việc đánh giá và đưa ra quyết định KLGĐ sử dụng khoa học kỹ thuật để xác định sự kiện cần chứng minh, trở thành công cụ sắc bén để buộc tội bị can, bị cáo Do đó, hoạt động trưng cầu giám định thực chất là tìm kiếm các bằng chứng buộc tội thuyết phục nhất.

Thứ hai, trưng cầu giám định là một hoạt động quan trọng nằm trong giai đoạn điều tra

Giai đoạn điều tra trong tố tụng hình sự (TTHS) đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội Các cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cần thiết để giải quyết vụ án Kết luận điều tra là căn cứ để Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can trước Tòa án hoặc thực hiện các quyết định khác Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, và Điều tra viên được quy định tại Điều 34.

Điều 3 của Pháp lệnh Điều tra hình sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2009) quy định nhiệm vụ của Cơ quan điều tra trong việc điều tra tất cả các tội phạm, áp dụng các biện pháp theo BLTTHS để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội Cơ quan điều tra không chỉ lập hồ sơ và đề nghị truy tố, mà còn tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan liên quan thực hiện biện pháp khắc phục và ngăn ngừa Việc thu thập chứng cứ để xác định tội phạm là nhiệm vụ quan trọng, giúp đảm bảo việc truy tố và xét xử đúng người, đúng tội Cơ quan điều tra sẽ sử dụng các phương pháp chuyên môn để phát hiện và thu thập chứng cứ, dữ liệu liên quan, nhằm làm sáng tỏ vụ án Hoạt động TCGĐ là một phần thiết yếu trong giai đoạn điều tra hình sự, giúp phơi bày những khúc mắc của vụ án, xác định thủ phạm, làm rõ tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, và có thể minh oan cho người vô tội Thông qua đánh giá chuyên môn, TCGĐ cung cấp chứng cứ chính xác và khoa học, hỗ trợ Cơ quan điều tra xác minh nhanh chóng và kịp thời các tình tiết của vụ án.

Các điều khoản từ 155 đến 159 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) trong chương XIII, phần thứ hai, đã làm rõ vai trò pháp lý của hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự và quyết định truy tố.

Mỗi hoạt động điều tra, dù có những đặc điểm và phương thức riêng, đều hướng đến mục tiêu chung là tìm kiếm chứng cứ nhằm xác định tội phạm.

Các hoạt động điều tra có mối quan hệ chặt chẽ và bổ sung lẫn nhau, trong đó TCGĐ đóng vai trò quan trọng Khi phát hiện vụ việc, cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường để đánh giá sơ bộ và thu thập chứng cứ Tuy nhiên, để xác định thông tin liên quan đến người phạm tội, trong nhiều trường hợp cần phải thực hiện TCGĐ Ví dụ, trong vụ án giết người, việc thu thập mẫu máu từ hiện trường là cần thiết để xác định danh tính của người liên quan Kết quả từ KLGĐ cùng với các chứng cứ khác sẽ giúp cơ quan điều tra đưa ra quyết định bắt giữ hoặc áp dụng biện pháp chữa bệnh nếu nghi ngờ về tâm thần của nghi phạm Do đó, TCGĐ không chỉ là một bước quan trọng trong quá trình điều tra mà còn có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động khác, góp phần thúc đẩy việc tìm ra sự thật của vụ án.

Thứ ba, trưng cầu giám định làm phát sinh hoạt động giám định và được thực hiện theo một trình tự thủ tục nhất định

Trong tố tụng dân sự, nếu yêu cầu trưng cầu giám định không được cơ quan thẩm quyền chấp thuận, đương sự có quyền tự mình yêu cầu giám định để bổ sung chứng cứ.

Trong tố tụng dân sự, hoạt động giám định có thể diễn ra mà không cần quyết định trưng cầu của cơ quan THTT, và kết quả giám định sẽ được Tòa án xem xét như một chứng cứ hợp lệ Ngược lại, trong tố tụng hình sự, giám định chỉ được thực hiện sau khi có quyết định TCGĐ từ cơ quan THTT, và các kết quả giám định do bị can, bị cáo hoặc những người tham gia tố tụng khác cung cấp sẽ không được chấp nhận làm chứng cứ Ví dụ, trong các vụ án cố ý gây thương tích, nạn nhân thường đến cơ sở y tế để chữa trị, nhưng kết quả về vết thương không được coi là chứng cứ hợp lệ trong quá trình tố tụng.

Kết luận giám định (KLGĐ) theo quy định pháp luật tố tụng là một bước quan trọng trong quá trình xác định mức độ thương tích sau khi cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án và ra quyết định TCGĐ yêu cầu cơ sở y tế thực hiện Hoạt động TCGĐ phải diễn ra trước khi thực hiện giám định, tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động giám định tiếp theo Quyết định TCGĐ khởi động một chuỗi các hoạt động trong công tác giám định nhằm tìm kiếm chứng cứ.

TCGĐ và hoạt động giám định là những hoạt động điều tra quan trọng, tuân thủ quy định pháp luật TTHS theo quy trình nghiêm ngặt nhằm bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và tránh sai sót trong tố tụng Theo quy định tại Điều 155, cơ quan THTT phải ra quyết định trưng cầu giám định trong những trường hợp bắt buộc hoặc cần thiết Việc giám định phải được thực hiện ngay sau quyết định trưng cầu theo Điều 156, và có thể cần giám định bổ sung hoặc giám định lại theo Điều 158 Các quy trình giao nhận hồ sơ và đối tượng trưng cầu giám định phải tuân theo Điều 26, cùng với yêu cầu về hồ sơ giám định tại Điều 33 và nội dung bắt buộc tại Điều 32 của Luật GĐTP 2003 Vi phạm các trình tự này không chỉ xâm phạm quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan mà còn làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước, thậm chí có thể gây nguy hiểm đến tính mạng người vô tội và làm mất lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước.

Thứ tư, trưng cầu giám định là hoạt động khoa học, đòi hỏi người thực hiện giám định phải có tri thức và chuyên môn

Khoa học là một hệ thống tri thức nghiên cứu quy luật và sự vận động của vật chất, cũng như các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy Giám định đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu và hiểu biết về các hiện tượng này.

Cứu, phân tích và thử nghiệm dựa trên dữ liệu và kiến thức là cách để khám phá bản chất của sự vật và quy luật xã hội Đây là một phần quan trọng của hoạt động khoa học, yêu cầu sự hỗ trợ từ tri thức và công nghệ hiện đại để xác định sự thật trong các vụ án Kết luận giám định phản ánh kết quả nghiên cứu khoa học, đảm bảo tính chính xác và khách quan, không bị ảnh hưởng bởi cảm tính Trong bối cảnh khoa học kỹ thuật ngày càng phục vụ đời sống, việc ứng dụng thành tựu khoa học để chứng minh tội phạm trở thành yêu cầu thiết yếu, góp phần vào công tác phòng chống tội phạm phức tạp hiện nay.

Người giám định sử dụng các biện pháp nghiệp vụ để "giải mã" dấu vết, tìm kiếm thông tin liên quan đến vụ án, yêu cầu chuyên môn cao và hỗ trợ từ thiết bị hiện đại Trình độ chuyên môn kém có thể dẫn đến kết quả sai lệch, ảnh hưởng đến quá trình điều tra Độ chính xác và khách quan của kết luận phụ thuộc vào năng lực và phẩm chất đạo đức của giám định viên Việc bỏ qua chi tiết nhỏ hay thiếu tài liệu có thể làm kết quả thiên lệch, do đó pháp luật quy định chặt chẽ tiêu chuẩn bổ nhiệm giám định viên, đảm bảo lựa chọn người có đức và tài TCGĐ là hoạt động sử dụng tri thức chuyên môn để nghiên cứu và kết luận về các vấn đề cần giám định, nhằm đảm bảo tính chính xác và nhanh chóng trong việc tìm kiếm chứng cứ Yêu cầu chuyên môn của giám định viên được quy định rõ tại Điều 60 BLTTHS và Điều 7 Luật GĐTP, góp phần nâng cao hiệu quả công tác giám định.

Vai trò và ý nghĩa của hoạt động trưng cầu giám định

Trong quá trình điều tra, hoạt động TCGĐ đóng vai trò quan trọng trong việc chứng minh sự tồn tại của tội phạm và ảnh hưởng đến tiến trình tố tụng Ví dụ, nếu có nghi ngờ về độ tuổi của bị can, TCGĐ là cần thiết để xác định liệu bị can có đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hay không Ngoài ra, TCGĐ cũng giúp làm rõ nguyên nhân cái chết của nạn nhân, từ đó bác bỏ giả thuyết tự tử và xác minh tội phạm đã xảy ra Hoạt động này không chỉ hỗ trợ xác định thủ phạm và phương thức phạm tội mà còn cung cấp thông tin quan trọng cho cơ quan điều tra nhằm nhanh chóng truy tìm hung thủ Kết quả từ TCGĐ có thể mở ra hướng điều tra mới và xác định thiệt hại, từ đó giúp định tội và bồi thường thiệt hại nếu có.

Trong bối cảnh đất nước mở cửa hội nhập quốc tế và ứng dụng công nghệ hiện đại, tội phạm ngày càng gia tăng với sự xuất hiện của nhiều loại hình mới như tội phạm kinh tế, môi trường, công nghệ thông tin và tội phạm quốc tế Những thủ đoạn của tội phạm ngày càng tinh vi, đòi hỏi vai trò của giám định trong hoạt động tố tụng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Đặc biệt, đối với những tội phạm có hành vi đơn giản, cơ quan điều tra có thể dễ dàng nhận thức và xác định các tình tiết liên quan.

Trong quá trình điều tra vụ án, việc nhận diện tội phạm thông qua dấu vết để lại trong thế giới khách quan là rất quan trọng Tuy nhiên, với những hành vi phạm tội phức tạp, việc này trở nên khó khăn hơn Điều tra viên cần dựa vào những nhận xét và đánh giá trong bản KLGĐ của giám định viên để có cái nhìn chính xác Tóm lại, TCGĐ đóng vai trò thiết yếu trong hoạt động điều tra, không thể thay thế, giúp bảo đảm quyền lợi cho những người tham gia tố tụng và duy trì an ninh trật tự xã hội.

TCGĐ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ điều tra, nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án Giải quyết một vụ án là một quá trình phức tạp, yêu cầu cơ quan điều tra phải thu thập chứng cứ và xác định tội phạm một cách nhanh chóng để tránh bỏ sót tội phạm hoặc bắt oan người vô tội Cơ quan điều tra còn phải đối mặt với những thủ đoạn tinh vi của tội phạm, như dựng hiện trường giả và xóa dấu vết Trong nhiều trường hợp, TCGĐ là cần thiết để đưa ra phán quyết Cơ quan THTT sẽ yêu cầu giám định viên sử dụng nghiệp vụ để "giải mã" các tình tiết chứng cứ, tìm kiếm sự thật khách quan Nhờ vào TCGĐ, thời gian điều tra được rút ngắn và chi phí giảm thiểu, đồng thời vẫn đảm bảo xác định đúng tội phạm.

Xã hội phát triển đồng nghĩa với tình hình tội phạm gia tăng, vì vậy phòng chống tội phạm không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là của toàn dân Người tham gia tố tụng hình sự (THTT) và giám định viên cần tích cực thực hiện nhiệm vụ của mình Nhiều vụ án gặp khó khăn trong việc tìm ra chứng cứ, dẫn đến tình trạng bế tắc kéo dài Tuy nhiên, thông qua hoạt động nghiệp vụ và yêu cầu giám định, sự thật dần được làm sáng tỏ Với kiến thức chuyên môn vững vàng, các giám định viên cung cấp chứng cứ thuyết phục, buộc tội phạm phải thừa nhận hành vi vi phạm của mình, từ đó tạo ra tác dụng răn đe đối với những kẻ coi thường pháp luật.

Trong quá trình giám định, người giám định có khả năng phát hiện nguyên nhân và điều kiện thực hiện tội phạm, cũng như những sơ hở và thiếu sót của các cơ quan, tổ chức, cá nhân Những phát hiện này giúp nhận diện thủ đoạn hoạt động của kẻ phạm tội, từ đó có tác dụng quan trọng trong việc ngăn ngừa và phòng chống tội phạm.

KLGĐ, mặc dù không phải là chứng cứ trực tiếp, nhưng hiện nay lại đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều tra, đặc biệt là trong các trường hợp cần thiết phải TCGĐ Nó dựa trên kiến thức chuyên môn và khoa học kỹ thuật để xác định sự thật khách quan của vụ án Kiến thức của những người THTT có giới hạn, do đó, các vấn đề chuyên môn phải được đánh giá bởi người giám định để đưa ra kết luận chính xác KLGĐ mang tính chất khoa học, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan, nên có giá trị chứng minh khách quan hơn các nguồn chứng cứ khác Dựa vào KLGĐ và các chứng cứ thu thập được như lời khai của bị can, nhân chứng, và bị hại, cơ quan điều tra có thể xác minh và thực hiện các hoạt động điều tra tiếp theo Tuy nhiên, vì KLGĐ là nguồn chứng cứ gián tiếp, cơ quan THTT không thể chỉ sử dụng KLGĐ để giải quyết vụ án, mà cần phải kết hợp nó với một hệ thống chứng cứ gián tiếp khác hoặc bổ sung cho chứng cứ trực tiếp để khẳng định chắc chắn về vụ án Hiểu rõ ý nghĩa của KLGĐ và hoạt động TCGĐ là định hướng quan trọng trong công tác điều tra.

Các nguyên tắc của hoạt động trưng cầu giám định trong tố tụng hình sự….11

Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa

Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc quan trọng trong tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự, được quy định trong Hiến pháp (Điều 12 Hiến pháp 1992) và Điều 3 Bộ luật Tố tụng hình sự Nguyên tắc này yêu cầu mọi cơ quan, tổ chức và công dân phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật Do đó, quá trình giải quyết vụ án cần tuân theo các quy định về cách thức và trình tự trong tố tụng hình sự.

14 tiến hành Xét riêng trong lĩnh vực giám định thì các thủ tục TCGĐ, giám định phải tuân thủ Hiến Pháp, BLTTHS, Luật GĐTP

Luật TTHS quy định nghiêm ngặt về trình tự và thủ tục giải quyết vụ án hình sự nhằm đảm bảo tính nhanh chóng, chính xác và khách quan Bất kỳ vi phạm nào cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả vụ án và xâm phạm quyền cơ bản của công dân Để nâng cao tính pháp chế, các cơ quan THTT và người THTT cần thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ theo đúng quy định Trong hoạt động TCGĐ, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án là những cơ quan có thẩm quyền yêu cầu giám định Nếu cần thiết, các cơ quan này không được phép bỏ qua quy trình giám định Trong quá trình TCGĐ, các cơ quan có thẩm quyền phải tuân thủ các trình tự như ra quyết định TCGĐ, thực hiện giám định lại hoặc giám định bổ sung Để đảm bảo nguyên tắc pháp chế, Viện kiểm sát cần tăng cường kiểm tra và giám sát hoạt động TCGĐ và giám định.

Các cơ quan THTT và người THTT hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, với các quyết định dựa trên cơ sở pháp luật hình sự và TTHS, đồng thời tôn trọng quyền lợi hợp pháp của công dân Theo quy định tại khoản 2 Điều 73 BLTTHS và khoản 3 Điều 3 Luật GĐTP, người giám định chỉ được giám định những vấn đề chuyên môn nêu trong quyết định TCGĐ, không phải vấn đề pháp lý Các cơ quan THTT cần căn cứ vào quy định pháp luật để xác định trường hợp cần thiết phải trưng cầu nhằm bảo vệ quyền lợi của bị can, theo Điều 155 BLTTHS Hơn nữa, cơ quan THTT có trách nhiệm giải thích rõ quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia giám định, tạo điều kiện thuận lợi cho họ thực hiện công việc, vì các quyết định của cơ quan THTT mang tính bắt buộc và cưỡng chế đối với các chủ thể khác.

Khi áp dụng biện pháp giám định và TCGĐ, cần thận trọng tuân thủ các quy định pháp luật để đảm bảo tính chính xác và khách quan, đồng thời bảo vệ lợi ích công dân Các tổ chức và cá nhân tham gia phải thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo pháp luật Giám định viên, khi nhận quyết định TCGĐ, phải tuân thủ các quy định tại Điều 60 BLTTHS và chịu trách nhiệm nếu từ chối giám định mà không có lý do chính đáng theo Điều 308 Bộ luật hình sự.

Năm 1999, theo quy định của BLHS (đã sửa đổi, bổ sung), việc giám định cần được thực hiện một cách tỉ mỉ và cụ thể Cơ quan TCGĐ yêu cầu phải giải đáp các vấn đề liên quan hoặc cung cấp giải thích theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, đặc biệt trong trường hợp chất lượng giám định chưa rõ ràng, tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng và Luật Giám định tư pháp.

Tuân thủ nguyên tắc pháp chế là yếu tố then chốt để đảm bảo giám định và đưa ra kết luận giám định chất lượng đúng đắn, phù hợp với quy định pháp luật Điều này không chỉ bảo vệ quyền lợi của công dân mà còn giáo dục họ về việc chấp hành pháp luật và các quy tắc xã hội Để nguyên tắc này được thực hiện hiệu quả, cần có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đồng bộ, đặc biệt trong lĩnh vực giám định Hơn nữa, việc tăng cường kiểm tra và giám sát hoạt động tố tụng hình sự là cần thiết để đảm bảo quyền yêu cầu và khiếu nại của công dân Luật Giám định tư pháp mới ban hành đã cụ thể hóa nguyên tắc pháp chế, tạo nền tảng cho sự phát triển của hoạt động giám định.

Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án

Nguyên tắc xác định sự thật trong vụ án được quy định tại Điều 10 BLTTHS, nhấn mạnh rằng khi hành vi phạm tội xảy ra, một mối quan hệ giữa người phạm tội và Nhà nước cũng hình thành Do đó, các cơ quan nhà nước có trách nhiệm thu thập đầy đủ chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội của bị can, bị cáo nếu xác định đó là tội phạm Bị can, bị cáo có quyền nhưng không bắt buộc phải chứng minh sự vô tội của mình, do đó, trách nhiệm xác định sự thật vụ án hoàn toàn thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng.

Để đảm bảo vụ án được làm sáng tỏ một cách đầy đủ và toàn diện, việc xác định sự thật khách quan là vô cùng quan trọng Điều này đồng nghĩa với việc các sự kiện và tình tiết thu thập trong quá trình điều tra và xét xử sẽ được đánh giá theo góc độ pháp lý, từ đó đưa ra kết luận chính xác về vụ án Có nhiều phương pháp thu thập chứng cứ, bao gồm lấy lời khai, hỏi cung và thu thập vật chứng Trong số đó, việc ra quyết định TCGĐ (thu thập chứng cứ từ nguồn gốc) đang ngày càng trở nên phổ biến, đặc biệt trong bối cảnh xã hội phát triển và các vụ án ngày càng phức tạp, cần sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại Kết quả từ quyết định TCGĐ – KLGĐ có vai trò then chốt, trong nhiều trường hợp, quyết định tiến trình của vụ việc Thông qua các loại chứng cứ khác nhau, cơ quan có thẩm quyền sẽ xác định được hành vi phạm tội và danh tính của người thực hiện hành vi đó.

Theo Điều 73 BLTTHS 2003, KLGĐ là nguồn chứng cứ quan trọng giúp làm rõ vụ án, mặc dù tốn kém về thời gian và chi phí Việc áp dụng TCGĐ cần thiết trong các vụ án yêu cầu xác minh khách quan và toàn diện Không có hành vi nào được xem là tội phạm nếu thiếu bằng chứng xác thực TCGĐ góp phần làm sáng tỏ sự thật, đảm bảo xét xử đúng người đúng tội và bảo vệ quyền lợi của bị can, bị cáo Xác định sự thật trong TTHS là nguyên tắc quan trọng, thiếu sự thật có thể dẫn đến truy cứu sai người vô tội hoặc áp dụng hình phạt không phù hợp Để đạt được chân lý, cần nghiên cứu kỹ lưỡng và khách quan các tình tiết của vụ án, quyết định hợp lý khi cần thiết TCGĐ để thu thập chứng cứ rõ ràng.

Nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của những người tiến hành hoặc những người

Những người thực thi công lý và tham gia tố tụng có trách nhiệm làm rõ các vấn đề trong vụ án hình sự; sự vô tư của họ là yếu tố then chốt để đảm bảo tính công bằng trong quá trình xét xử Điều 14 BLTTHS quy định nguyên tắc bảo đảm sự vô tư, yêu cầu thực hiện các biện pháp cần thiết để tránh xung đột lợi ích Nếu có dấu hiệu không vô tư, họ phải được thay thế Các cơ quan có thẩm quyền cũng cần duy trì sự vô tư khi quyết định về việc trưng cầu giám định, không được lợi dụng quy định pháp luật để thực hiện trưng cầu không cần thiết Ngoài ra, những người thực thi công lý phải từ chối hoặc thay đổi theo quy định tại Điều 42 và các khoản 1 của Điều 44, 45, 46 BLTTHS.

Người giám định là những chuyên gia tham gia tố tụng, có trách nhiệm làm rõ các tình tiết của vụ án bằng kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn Trong tố tụng hình sự, họ có quyền và nghĩa vụ nhất định, và việc thực hiện đúng những quyền này ảnh hưởng lớn đến kết quả vụ án Để bảo đảm công bằng xã hội và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị can, người giám định cần phải khách quan và vô tư trong quá trình làm việc Luật GĐTP nghiêm cấm việc lợi dụng giám định để trục lợi, đồng thời quy định các trường hợp từ chối hoặc thay đổi người giám định nhằm đảm bảo tính khách quan Để thực hiện tốt nguyên tắc này, người giám định cần nhận thức rõ vai trò của mình, và pháp luật cần quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của họ để đảm bảo tính khả thi Những nguyên tắc này là kim chỉ nam cho hoạt động tố tụng hình sự và chế định liên quan.

TCGĐ Thực hiện tốt nguyên tắc này là tiền đề không thể thiếu để hoạt động TCGĐ được phát triển mạnh mẽ hơn nữa.

Lược sử hình thành và phát triển các quy định về trưng cầu giám định từ năm 1945 đến trước 2003

Các quy định của pháp luật về trưng cầu giám định giai đoạn 1945 – 1975….16

Năm 1945, sau khi giải phóng, đất nước đối mặt với nhiều khó khăn về chính trị và kinh tế, dẫn đến việc xây dựng hệ thống pháp luật chưa được chú trọng, chủ yếu thông qua các Lệnh và Sắc lệnh của Chủ tịch nước để giải quyết những vấn đề cấp bách Đến năm 1954, đất nước tạm chia thành hai miền với chế độ chính trị khác nhau, gây ra sự khác biệt trong pháp luật Tại miền Bắc, sau khi thực dân Pháp rút lui vào giữa năm 1955, Đảng đã chuyển sang xây dựng chủ nghĩa xã hội Về mặt pháp lý, ngày 12/12/1956, liên Bộ Tư pháp – Y tế ban hành Thông tư 2795 – HCTP quy định về giám định pháp y, trong đó nêu rõ các trường hợp cần giám định, bao gồm những vụ có người chết với nguyên nhân không rõ ràng và nghi ngờ có án mạng.

Phụ nữ nghi ngờ bị hiếp dâm hoặc phá thai, người phạm tội có dấu hiệu bệnh tâm thần, nạn nhân tai nạn lao động gây tàn tật, và những người bị đánh gây thương tích đều là những trường hợp cần được chú ý và can thiệp kịp thời.

Pháp luật hiện tại chỉ quy định một số trường hợp cần giám định mà chưa có quy định tổng quát Mục II liệt kê các chủ thể có quyền thực hiện giám định, không như quy định chung trước đây chỉ xác định cơ quan THTT Các chủ thể bao gồm: a) Công tố ủy viên, Phó Công tố ủy viên, Chánh án và Phó Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, khu hay Sơ thẩm, Phúc thẩm thành phố; b) Trưởng Ty, Phó Ty công an tỉnh, Chánh Phó Giám đốc, Trưởng Phó Phòng Bảo vệ chính trị, Trưởng Phó Phòng Trị an Hành chính Sở công an; c) Trưởng Phó Phòng Quân pháp, Trưởng Cục Phó Cục Quân pháp.

Thông tư quy định điều kiện lựa chọn giám định viên và các thủ tục tiến hành, góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện chế định TCGĐ trong lĩnh vực pháp y Thông tư 423 – TT/LB ngày 12/5/1961 của Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân, Bộ Công an, Bộ Y tế và Bộ Tài chính xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc khám nghiệm tử thi, đồng thời quy định chế độ trang bị phòng ngừa và phụ cấp, từ đó hoàn thiện căn bản chế định này.

Trước năm 1972, miền Nam Việt Nam vẫn áp dụng hệ thống pháp luật của Pháp Tuy nhiên, vào năm 1972, Bộ Hình Luật Sài Gòn được ban hành, đánh dấu sự chuyển biến quan trọng trong hệ thống pháp lý của khu vực này, tiếp theo là Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bộ luật TTHS 1973, được ban hành bởi chính quyền Việt Nam Cộng hòa, đã quy định rõ về vấn đề giám định và TCGĐ Cụ thể, Điều 160 nêu rõ rằng cơ quan tài phán, thẩm vấn hoặc xét xử có quyền yêu cầu giám định Theo đó, mỗi vấn đề chuyên môn có thể được đưa ra để giám định, và giám định viên sẽ thực hiện nhiệm vụ dưới sự giám sát của dự thẩm hoặc thẩm phán được chỉ định bởi cơ quan tài phán.

Bộ luật quy định rõ ràng về nhiệm vụ và nghĩa vụ của giám định viên tại Điều 163, nêu rõ rằng khi được ghi tên trong danh sách hàng năm do Tòa thượng thẩm lập, giám định viên phải tuyên thệ trước Tòa thượng thẩm nơi cư trú, cam kết thực hiện nhiệm vụ với danh dự và lương tâm.

Theo Điều 171, trước phiên tòa, giám định viên có thể thuyết trình về kết quả công tác kỹ thuật và những nhận xét sau khi tuyên thệ Chánh thẩm có quyền chất vấn giám định viên, dựa trên yêu cầu từ công tố viện, các đương sự hoặc luật sư, trong phạm vi nhiệm vụ của giám định viên Sau khi thuyết trình, giám định viên sẽ tham gia vào cuộc tranh luận, trừ khi được chánh thẩm cho phép rời khỏi phòng xử.

Bộ Hình luật Sài Gòn 1972 quy định rõ chế tài đối với giám định viên tại Điều 239, nêu rõ rằng những người được triệu tập với vai trò này mà từ chối không có lý do chính đáng sẽ bị phạt giam từ 11 ngày đến 2 tháng và phạt tiền từ 601 đồng đến 5000 đồng Các quy định này, thừa hưởng từ nền pháp luật Pháp, rất chặt chẽ và chi tiết, nhưng chỉ bị thay đổi vào năm 1975 do sự thay đổi về chế độ.

PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH VỀ TRƯNG CẦU GIÁM ĐỊNH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Pháp luật thực định về chủ thể được trưng cầu giám định

PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH VỀ TRƯNG CẦU GIÁM ĐỊNH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

2.1 Pháp luật thực định về thẩm quyền trưng cầu giám định

2.1.1 Cơ quan có quyền ra quyết định trưng cầu giám định

Theo quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng có quyền ra quyết định tạm giữ để xác định các vấn đề cần làm rõ theo khoản 3 của điều luật này hoặc khi thấy cần thiết.

Tại khoản 1 Điều 33 BLTTHS quy định:

“Các cơ quan THTT gồm có: a) Cơ quan điều tra; b) Viện kiểm sát; c) Toà án.”

Theo quy định pháp luật, các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định TCGĐ bao gồm cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án Trong quan hệ pháp luật hình sự, Nhà nước và người phạm tội có vị thế pháp lý khác nhau, khác với quan hệ pháp luật dân sự Nhà nước tham gia vào quan hệ này thông qua các cơ quan chuyên trách, có quyền điều tra, truy tố và xét xử người phạm tội Những cơ quan này có trách nhiệm buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự khi xâm phạm các quan hệ xã hội được Nhà nước bảo vệ.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 64 BLTTHS, chứng minh phải thuộc về cơ quan THTT Bị can và bị cáo có quyền tham gia vào việc xác định sự thật vụ án, đề xuất và đánh giá chứng cứ, nhưng không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình.

Chứng cứ là thông tin có thật, được thu thập theo quy định của Bộ luật, phục vụ cho việc xác định hành vi phạm tội và các tình tiết liên quan Hoạt động thu thập chứng cứ của cơ quan THTT nhằm phát hiện, giữ gìn thông tin theo đúng quy trình pháp luật Cơ quan THTT có quyền triệu tập nhân chứng, tiến hành khám xét và thực hiện các biện pháp cần thiết Theo Điều 10 BLTTHS, các cơ quan này phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật một cách khách quan và đầy đủ Do đó, thu thập chứng cứ là trách nhiệm quan trọng của cơ quan THTT nhằm làm sáng tỏ vụ án hình sự, và các cơ quan như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án đều có thẩm quyền ra quyết định liên quan đến việc thu thập chứng cứ.

TCGĐ là một hoạt động quan trọng trong giai đoạn điều tra, nhằm làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án Việc chứng minh các tình tiết này thông qua bằng chứng là rất cần thiết để đảm bảo tính chính xác và khách quan của quá trình điều tra.

Cơ quan điều tra đóng vai trò quan trọng trong việc xác định sự tồn tại của tội phạm và quyết định các biện pháp cần thiết cho quá trình điều tra như ngăn chặn, hỏi cung, và khám xét KLGĐ là một phương tiện chứng minh hiệu quả, giúp làm sáng tỏ các khúc mắc của vụ án nhằm tìm ra thủ phạm và xác định năng lực trách nhiệm hình sự của bị can Nó cũng có thể được sử dụng để minh oan cho người vô tội hoặc làm rõ các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Theo Điều 110 BLTTHS và Pháp lệnh Điều tra hình sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2009), Cơ quan điều tra của Công an nhân dân và Quân đội nhân dân là những cơ quan chủ đạo trong việc quyết định TCGĐ.

Điều tra là giai đoạn quan trọng trong tiến trình tố tụng hình sự, đóng vai trò then chốt trong việc xác định kết quả vụ án Mỗi cơ quan điều tra có phạm vi và thẩm quyền khác nhau, nhưng tất cả đều có quyền quyết định trong việc điều tra, giúp nâng cao hiệu quả và tính liên tục trong các hoạt động điều tra Những sai lầm trong giai đoạn này, như bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội, thường có nguồn gốc từ quá trình điều tra, vì vậy việc giao thẩm quyền cho cơ quan điều tra là rất cần thiết để giải quyết vụ án một cách hiệu quả và giảm thiểu thủ tục rườm rà.

Viện kiểm sát, bên cạnh Cơ quan điều tra, cũng có thẩm quyền trong việc thực hiện TCGĐ Từ khi ra đời, chức năng của Viện kiểm sát đã được quy định trong các bản Hiến pháp, bao gồm việc kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố Trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát có quyền tiến hành một số hoạt động điều tra cần thiết theo quy định tại khoản 2 Điều 112 BLTTHS, trong đó có cả hoạt động TCGĐ.

Quyền công tố của Viện kiểm sát là quyền đại diện cho Nhà nước để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Để thực hiện quyền này, Viện kiểm sát cần thu thập đầy đủ tài liệu và chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội Quy trình công tố bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi Viện kiểm sát quyết định truy tố hoặc đình chỉ vụ án theo quy định pháp luật Mục tiêu của hoạt động này là chứng minh tội phạm và người phạm tội một cách đầy đủ, chính xác và khách quan, tuân thủ đúng trình tự, thủ tục pháp luật Trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm áp dụng các biện pháp theo Bộ luật Tố tụng hình sự để đảm bảo điều tra và truy tố được tiến hành kịp thời, hiệu quả, không để lọt người phạm tội và không làm oan người vô tội, đồng thời đảm bảo hoạt động điều tra diễn ra đúng quy định pháp luật.

Trong quá trình điều tra, các hoạt động điều tra trực tiếp là chủ yếu, tuy nhiên pháp luật chưa quy định rõ ràng về thời điểm "xét thấy cần thiết" để Viện kiểm sát ra quyết định trưng cầu giám định (TCGĐ) Điều này có thể hiểu rằng, trong một vụ án, sự hỗ trợ của bản kết luận giám định (KLGĐ) là cần thiết để làm sáng tỏ vụ việc Nếu Cơ quan điều tra không đưa ra quyết định TCGĐ, Viện kiểm sát sẽ phải ra quyết định trưng cầu nhằm đảm bảo sự thật khách quan của vụ án.

Mặc dù pháp luật quy định Tòa án có thẩm quyền ra quyết định TCGĐ, nhưng phạm vi thẩm quyền này lại hạn hẹp hơn nhiều so với Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, do chức năng chính của Tòa án là xét xử Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán có quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi cần thiết, nhưng không có quyền TCGĐ Nếu cần thu thập chứng cứ mới, Thẩm phán sẽ trả hồ sơ để điều tra bổ sung mà không ra quyết định TCGĐ Trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử chỉ có quyền ra quyết định TCGĐ khi cần giám định tâm thần cho bị cáo, không có thẩm quyền TCGĐ với các loại giám định khác như giám định pháp y hay giám định kỹ thuật hình sự Đối với các vấn đề khác, Hội đồng xét xử chỉ có quyền quyết định giám định lại hoặc giám định bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 215 BLTTHS.

Vào tối 19-10-2010, do có mâu thuẫn, Võ Đình Phúc đã dùng dao chém Phạm Văn Dôn gây thương tật Tháng 7-2012, Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên đã tổ chức phiên tòa xét xử sơ thẩm Tại phiên tòa, giám định viên cho biết có sai sót trong việc đánh giá vết thương ở vai trái của nạn nhân, xác định tỷ lệ thương tật là 11% Công tố viên đã chấp nhận ý kiến của giám định viên và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 12 năm tù.

Hội đồng xét xử đã quyết định trưng cầu Trung tâm Pháp y Phú Yên giám định thương tích của người bị hại sau khi nghị án, và bị cáo nhận án 15 tháng tù.

Theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự, chỉ có Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát mới có quyền ra quyết định trưng cầu giám định thương tích Trong giai đoạn xét xử, Tòa án chỉ có quyền trưng cầu giám định pháp y tâm thần khi có căn cứ cho rằng người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự Do đó, việc Tòa án huyện Tuy An trưng cầu giám định thương tích của người bị hại là không đúng thẩm quyền.

Quyết định TCGĐ có thể được đưa ra trong suốt quá trình từ điều tra đến xét xử, không chỉ trong giai đoạn điều tra, giúp giải quyết vụ án nhanh chóng hơn Theo quy định pháp luật, TCGĐ do các cơ quan THTT thực hiện, trong khi bị can và những người tham gia tố tụng chỉ có quyền nhận thông báo về KLGĐ, trình bày ý kiến và yêu cầu giám định bổ sung, nhưng không có quyền yêu cầu giám định độc lập Cụ thể, bị can có quyền yêu cầu cơ quan TCGĐ thông báo về KLGĐ bằng văn bản, như trong vụ án cố ý gây thương tích theo Điều 104 BLHS Họ cũng có quyền trình bày ý kiến và yêu cầu giám định lại nếu không đồng ý với KLGĐ, và các ý kiến này phải được ghi vào biên bản Cơ quan THTT phải xem xét nghiêm túc các yêu cầu của bị can nhằm bảo vệ quyền lợi của họ Quy định này thể hiện sự phân định thẩm quyền giữa Nhà nước và người phạm tội, đồng thời đảm bảo tính dân chủ và quyền con người trong quá trình tố tụng.

Pháp luật thực định về các trường hợp phải trưng cầu giám định

Hoạt động TCGĐ không phải là yêu cầu bắt buộc trong mọi vụ án, nhưng trong một số trường hợp cụ thể, việc trưng cầu là cần thiết theo quy định tại khoản 3 Điều.

Theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), có những tình huống nhất định trong vụ án mà Cơ quan điều tra phải tiến hành trưng cầu giám định (TCGĐ) Cụ thể, các trường hợp này liên quan đến việc cần giám định các yếu tố nhất định để đảm bảo tính chính xác và khách quan trong quá trình điều tra.

Một là nguyên nhân chết người, tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động;

Trong nhiều vụ án, việc phát hiện tử thi muộn có thể dẫn đến việc xác định nguyên nhân cái chết gặp khó khăn, do hung thủ cố tình ngụy tạo chứng cứ hoặc các yếu tố khác Để làm rõ nguyên nhân cái chết, Cơ quan điều tra thường phải nhờ đến cơ quan giám định Có nhiều nguyên nhân dẫn đến cái chết như tự tử, bị giết hoặc do điều kiện khách quan, nhưng không phải cái chết nào cũng liên quan đến yếu tố hình sự Việc xác định nguyên nhân tử vong là cần thiết để kết luận xem có tội phạm xảy ra hay không, và nếu có, lỗi của người phạm tội là vô ý hay cố ý Ví dụ, vào lúc 5 giờ 30 phút ngày 3/6/2013, Công an huyện Yên Dũng nhận được tin báo về một xác chết tại cánh đồng Tiểu khu 2, thị trấn Neo Ngay lập tức, lực lượng chức năng đã có mặt tại hiện trường, xác định nạn nhân là Dương Văn Tiệp (sinh 1986) và tiến hành khám nghiệm hiện trường cũng như khám nghiệm tử thi để xác định nguyên nhân cái chết Kết quả giám định sẽ hỗ trợ Cơ quan điều tra huyện Yên Dũng trong việc làm rõ vụ án.

Xác định nguyên nhân chết của nạn nhân là yếu tố quan trọng trong việc khởi tố vụ án và truy tìm hung thủ Việc này không chỉ giúp cơ quan chức năng xác định hướng điều tra mà còn xây dựng giả thuyết để thu thập chứng cứ Giám định nguyên nhân chết qua tử thi còn cho phép xác định thời gian chết, các bệnh lý kèm theo và phân loại thương tích trên nạn nhân, bao gồm thương tích trước và sau khi chết, cũng như thương tích gây tử vong Các quy định về tội giết người trong Bộ Luật Hình sự từ Điều 93 đến Điều 102 phân hóa mức độ và khung hình phạt khác nhau dựa trên nguyên nhân gây chết Ví dụ, mức phạt cho tội giết người (Điều 93) nặng hơn so với tội bức tử (Điều 100), liên quan đến cái chết do sự đối xử tàn ác hoặc ức hiếp.

Việc giám định tính chất thương tích và mức độ tổn hại sức khỏe là yếu tố bắt buộc trong quá trình điều tra Nó giúp xác định liệu có tội phạm xảy ra hay không Theo quy định của pháp luật hình sự, nếu thương tích dưới 11% và không thuộc các trường hợp đặc biệt, thì không đủ điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo Bộ luật Hình sự (BLHS), Điều 104 quy định rằng hành vi gây thương tích không bị coi là tội phạm mà chỉ bị xử lý hành chính Việc giám định thương tích thông qua khám nghiệm nạn nhân là cần thiết để xác định tỷ lệ thương tật và mức độ tổn hại sức khỏe, từ đó buộc kẻ phạm tội phải chịu trách nhiệm và bồi thường hợp lý Các điều khoản từ Điều 104 đến Điều 109 quy định hình phạt dựa vào tỷ lệ thương tích, với mức phạt thấp hơn cho tỷ lệ từ 11% đến 30% so với từ 31% đến 60% Nếu không có giám định, việc xác định chính xác tính chất thương tích và mức độ tổn hại sức khỏe sẽ gặp khó khăn Ví dụ, kết luận giám định pháp y ngày 21-11-2012 của Trung tâm Giám định pháp y tỉnh Khánh Hòa xác định tỷ lệ thương tật của Đỗ Xuân Luận là 16%, xếp hạng thương tật vĩnh viễn trong vụ xô xát.

Võ Thanh Phong, sinh năm 1985, trú tại Cam Phúc Nam, Thành phố Cam Ranh, đã bị Tòa án tuyên phạt 3 năm, 6 tháng tù giam và buộc bồi thường 22 triệu đồng cho Đỗ Xuân Luận sau vụ việc xảy ra tại quán karaoke Thủy Triều Quá trình điều tra đã xác định rõ nguyên nhân cái chết, tính chất thương tích và mức độ tổn hại sức khỏe, từ đó giúp việc truy cứu trách nhiệm hình sự trở nên dễ dàng hơn Hoạt động trưng cầu này đã tạo điều kiện cho Tòa án đưa ra bản án công minh, đúng người đúng tội, nhằm răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm trong cộng đồng.

Tình trạng tâm thần của bị can, bị cáo có thể ảnh hưởng đến năng lực trách nhiệm hình sự của họ, theo Điều 13 BLHS quy định rằng người thực hiện hành vi nguy hiểm trong khi mắc bệnh tâm thần sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự và cần áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc Trong nhiều vụ án, những kẻ phạm tội có thể mắc bệnh tâm thần, dẫn đến mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi Biểu hiện tâm thần có thể rõ ràng hoặc khó phát hiện nếu không có giám định Đặc biệt, có trường hợp bị can phạm tội trong lúc bệnh tái phát, sau đó thuyên giảm Do đó, việc giám định pháp y tâm thần là cần thiết để xác định chính xác thời điểm và tình trạng bệnh, từ đó quyết định có khởi tố hay không, đình chỉ điều tra hay áp dụng biện pháp chữa bệnh Các cơ quan tố tụng cần phải trưng cầu giám định khi có nghi ngờ về tình trạng tâm thần của bị can, bị cáo để đảm bảo quyết định được dựa trên cơ sở khoa học và chính xác.

Người từ 35 tuổi trở lên sẽ không bị coi là có khả năng kiểm soát hành vi của bản thân, do đó hành vi này được xem là không có lỗi và không đủ yếu tố cấu thành tội phạm để bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Hoạt động trưng cầu giám định tâm thần đối với bị can và bị cáo là rất quan trọng, không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi của họ và ngăn chặn việc xét xử oan sai, mà còn giúp phát hiện những thủ đoạn lừa đảo của những người giả vờ mắc bệnh tâm thần để trốn tránh trách nhiệm hình sự.

Nguyễn Đức Hẹn, sau khi thực hiện hành vi đồi bại với cháu Nguyễn Thị Hồng L, đã giả điên nhằm đánh lừa cơ quan chức năng bằng các giấy tờ chứng minh mình bị tâm thần Tuy nhiên, Công an tỉnh Long An đã phát hiện sự bất thường và tiến hành giám định tại Viện Giám định Pháp y tâm thần Trung ương Kết quả cho thấy Hẹn có tình trạng giả bệnh có chủ ý, và sau nhiều lần chối tội, hắn đã phải nhận bản án thích đáng Điều này cho thấy rằng việc giám định tâm thần không chỉ giúp xác định tội phạm mà còn ngăn chặn những kẻ nguy hiểm lọt lưới pháp luật.

Bá là tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc người bị hại, xuất hiện khi có nghi ngờ về khả năng nhận thức và khả năng khai báo chính xác các tình tiết liên quan đến vụ án.

Theo quy định pháp luật, lời khai của người làm chứng và người bị hại là nguồn chứng cứ trực tiếp quan trọng trong việc làm sáng tỏ vụ án Lời khai của người bị hại, là nạn nhân của tội phạm, cung cấp thông tin thiết yếu về hành vi phạm tội, trong khi lời khai của người làm chứng, với sự quan sát trực tiếp, mang lại cái nhìn khách quan về diễn biến và hoàn cảnh xảy ra vụ việc Cả hai loại lời khai đều có vai trò không thể thiếu trong quá trình điều tra và xét xử.

Lời khai của nhân chứng và nạn nhân đóng vai trò quan trọng trong việc điều tra vụ án, giúp làm sáng tỏ sự thật khách quan Đây là những công cụ thiết yếu không thể thiếu trong quá trình thu thập thông tin và xác minh các tình tiết liên quan đến vụ việc.

Theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 55 BLTTHS, những người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất không đủ khả năng nhận thức và khai báo đúng đắn sẽ không được làm chứng Lời khai của người làm chứng và người bị hại cần phải được loại bỏ những yếu tố tâm thần để đảm bảo tính chính xác Nếu không, khả năng nhận thức và khai báo của họ có thể sai lệch, dẫn đến việc gia tăng mức độ hoặc tính chất hành vi của bị can, bị cáo, hoặc tạo ra những tình tiết không có thật Việc không xác định đúng tình trạng tâm thần có thể làm lệch hướng điều tra, gây khó khăn trong thu thập chứng cứ và có nguy cơ oan sai cho người vô tội Do đó, yêu cầu xác định tình trạng tâm thần là cần thiết để đảm bảo quy trình tố tụng diễn ra chính xác và hợp lý.

THỰC TIỄN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM ĐỊNH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
22. Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp” (Ban hành kèm theo Quyết định số 258/QĐ-TTg) ngày 11 tháng 02 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp
25. Lê Hoàng Nam - Luận văn “Địa vị pháp lí người giám định trong Tố tụng hình sự” – Trường Đại học Luật TP. HCM khóa 1997-2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa vị pháp lí người giám định trong Tố tụng hình sự
33. Lê Dũng – “Chết chưa rõ nguyên nhân” – Mục An ninh, trang http://www.baobacgiang.com.vn/ ngày 06/6/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chết chưa rõ nguyên nhân
34. Thu Hằng – “Giám định tư pháp: thiếu người tài!” – Mục Tư pháp, trang http://phapluatvn.vn ngày 14/4/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám định tư pháp: thiếu người tài
35. Tiến Hiếu - “Loạn kết quả giám định tư pháp – Bài 1: Án kéo rê, tòa khổ, đương sự mệt mỏi” - Trang http://www.vinalaw.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loạn kết quả giám định tư pháp – Bài 1: Án kéo rê, tòa khổ, đương sự mệt mỏi
36. Tiến Hiểu – “Thiếu từ con người, phương tiện đến quy định” – Mục Tạp chí pháp luật , trang http://phapluattp.vn ngày 18/10/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiếu từ con người, phương tiện đến quy định
37. Minh Khoa – Đăng Trường – “Án tắc vì giám định” – Mục Pháp luật, trang http://www.cand.com.vn ngày 13/03/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Án tắc vì giám định
38. Phong Linh – “Tìm lại bình yên sau một vụ án tày đình” – Mục Pháp luật cuối tuần, trang http://www.phapluatvn.vn ngày 30/5/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm lại bình yên sau một vụ án tày đình
39. Xuân Long – “Tòa trưng cầu giám định không đúng luật” – Trang http://phapluattp.vn ngày 20/02/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tòa trưng cầu giám định không đúng luật
40. Tấn Lộc – “Vụ “Khổ sở khi tìm cha cho con” , Viện Kiểm sát rút hồ sơ để giám định lại AND” – Mục Tạp chí pháp luật , trang http://phapluattp.vn ngày 22/4/2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vụ “Khổ sở khi tìm cha cho con” , Viện Kiểm sát rút hồ sơ để giám định lại AND
41. Duy Minh – “Trăm phương nghìn kế chế ma túy giả” - Theo http://www.anninhthudo.vn tại mục An ninh đời sống ngày 22/07/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trăm phương nghìn kế chế ma túy giả
42. Đức Minh - "VKS nếm món ăn, cơ quan điều tra đi chợ” – Mục Tạp chí pháp luật, trang http://phapluattp.vn ngày 30/4/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: VKS nếm món ăn, cơ quan điều tra đi chợ
43. Nguyễn Sỹ - “Vụ giả tâm thần trốn tội tại Long An: Phẫn nộ khi công lý bị bỡn cợt” - Mục An ninh thế giới, trang http://antg.cand.com.vn , ngày 19/03/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vụ giả tâm thần trốn tội tại Long An: Phẫn nộ khi công lý bị bỡn cợt
45. Thiên Thư – “Giám định pháp y "lộn" bị hại” – Mục Pháp Luật, trang http://dantri.com.vn/ ngày 14/04/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám định pháp y "lộn" bị hại
46. Khánh Vĩnh – “Xét xử lưu động vụ án cố ý gây thương tích” – Mục Pháp luật, trang http://www.baokhanhhoa.com.vn ngày 24/4/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xét xử lưu động vụ án cố ý gây thương tích
47. Hoàng Yến – “Tính tuổi sao cho đúng” – Mục Tạp chí pháp luật, trang http://phapluattp.vn - Ngày 24/12/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính tuổi sao cho đúng
44. Phương Thảo – “Kết luận giám định vênh nhau luôn gây khó cho cơ quan tố tụng “ – Trang http://phapluatxahoi.vn/, ngày 27/10/2012 Link
18. PGS.TS Nguyễn Ngọc Anh (Chủ biên) – Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 – Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 2009 Khác
19. Báo cáo công tác phòng chống tham nhũng năm 2012 của Chính phủ Khác
20. Báo cáo tổng thuật về Giám định tư của Cộng hòa liên bang Đức, Cộng hòa Pháp, Vương quốc Thụy Điển, Nhật Bản, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và một số nước khác – Bộ Tư pháp ngày 7/9/2011 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w